phần xã hội thượng lưu và người tình cũng rất nổi tiếng của bà ta. Mà cũng bởi vì cách thức nó diễn ra. Vụ thảm sát có vẻ được cố tình sắp đặt cho những tờ báo giật gân, dù chẳng tay thợ săn ảnh nào có thể chớp được hiện trường vụ án.
Một màn trình diễn của nỗi kinh hoàng. Marcus ngồi trên giường. Điều gì đó đang nhen nhóm trong đầu anh. Những điều bất thường. Anh bật đèn và nhặt lên từ dưới sàn hồ sơ của Valeria Altieri. Cái họ hào nhoáng ấy thuộc về chồng bà, thời con gái bà ta tên là Colmetti – một cái tên không mấy phù hợp để bước chân vào xã hội thượng lưu. Bà ta xuất thân từ một gia đình tiểu tư sản, ông bố là viên chức. Valeria Colmetti đã từng theo ngành đào tạo giáo viên tiểu học nhưng thế mạnh thực sự của bà ta là sắc đẹp. Một vốn tự nhiên để làm lũ đàn ông mất trí. Vào lúc hai mươi tuổi, bà ta đã thử tiến thân như một diễn viên điện ảnh, nhưng chỉ giành được một vài vai phụ. Marcus có thể hình dung ra biết bao gã đàn ông đã thử đưa bà ta lên giường với lời hứa về một vai diễn quan trọng. Có khi lúc đầu Valeria cũng có được nó. Bao nhiêu lời ngợi khen hai mặt, bao nhiêu những tiếp xúc thân thể miễn cưỡng, bao nhiêu những cái ôm ấp không hứng thú mà bà ta đã phải chịu đựng để hiện thực hóa giấc mơ của mình? Thế rồi, một ngày nọ, Guido Altieri xuất hiện trong cuộc đời của bà ta. Một thanh niên đẹp trai, lớn hơn bà ta vài tuổi. Xuất thân trong một gia đình quý tộc và đáng kính trọng. Một luật sư có tương lai ngời sáng. Valeria biết mình không thể chỉ yêu một người. Còn Guido, trong thâm tâm ông cũng tự ý thức được rằng người đàn bà kia sẽ không bao giờ thuộc về bất cứ ai – bà ta quá ích kỷ, tự thấy mình quá đẹp cho một người đàn ông duy nhất , dẫu vậy ông vẫn hỏi cưới bà ta.
Và chính từ đó mọi chuyện bắt đầu, Marcus tự nhủ trong lúc đứng dậy đi tìm giấy và bút để ghi chép. Đám cưới chỉ là sự khởi đầu, cảnh đầu tiên trong một chuỗi những sự kiện bề ngoài có vẻ hạnh phúc và đáng ghen tị, nhưng nó lại dẫn tới thảm kịch không thể tránh khỏi tại phòng ngủ. Anh tìm thấy một tập giấy. Trên trang đầu tiên anh vẽ lại biểu tượng hình tam giác. Trên trang thứ hai anh viết chữ EVIL. Valeria Altieri là hiện thân của tất cả những gì đàn ông mong muốn nhưng không ai có được. Sự khao khát, khi không thể kiểm soát, nó sẽ khiến chúng ta có những hành xử mà trước đây chúng ta không nghĩ mình có thể làm nổi. Nó gây suy đồi, hư hỏng, và đôi khi có thể là động cơ giết người. Thể loại mà khi chuyển hóa, nó trở thành một cái gì đó nguy hiểm. Một sự ám ảnh, Marcus khẳng định lại khi nghĩ tới điều hành hạ Raffaele Altieri. Nếu cậu thanh niên bị giày vò bởi suy nghĩ về người mẹ mới chỉ được biết trong thời gian ngắn ngủi, thì biết đâu có ai đó khác nữa cũng đã trải qua cảm giác ấy. Và đâu là giải pháp duy nhất trong những trường hợp này? Marcus sợ phải tự trả lời. Anh thì thầm. Một từ duy nhất. “Phá hủy.” Tiêu diệt điều gây ám ảnh, làm nó không thể gây tổn thương cho chúng ta được nữa. Và đảm bảo rằng điều đó có hiệu lực mãi mãi. Để đạt được mục đích, trong những trường hợp nhất định, chết vẫn là chưa đủ.
Marcus giật khỏi tập giấy tờ có ghi biểu tượng và chữ viết. Anh cầm chúng trong tay, hết nhìn cái này đến cái khác, cố tóm cho được chiếc chìa khóa vén màn bí mật kia. Anh cảm thấy nhói lên từ sau vai một ánh nhìn chằm chằm. Anh quay lại và thấy kẻ đang quan sát mình. Là hình ảnh phản chiếu của anh trong ô kính cửa sổ. Nhưng người đàn ông căm ghét soi gương, lần này, không di chuyển. Anh đọc dòng chữ rời rạc – EVIL, cái ác – nhưng theo chiều ngược lại. “Một màn trình diễn của nỗi kinh hoàng, ” anh tự nhắc lại. Và anh chợt hiểu tiếng thét của người phụ nữ mà anh cho là vọng ra từ văn phòng của Ranieri không phải là một ảo giác âm thanh. Nó có thật. Ngôi biệt thự lớn bằng gạch đỏ đắm mình trong tán cây xanh và sự tĩnh lặng của khu phố Olgiata cao quý. Xung quanh là một khu vườn sum suê với thảm cỏ kiểu Anh và một hồ bơi. Ngôi nhà hai tầng đang sáng đèn. Marcus đi dọc lối vào. Rất ít người được lựa chọn có đặc ân đi qua cánh cổng của những ngôi biệt thự đó. Nhưng với anh không hề khó để đột nhập vào bên trong. Không thấy tín hiệu nào của hệ thống báo động, cũng chẳng bị phát hiện bởi bất kỳ tay bảo vệ riêng nào. Và điều này chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Ai đó trong biệt thự đang chờ đợi một cuộc viếng thăm. Cánh cửa kính đã mở sẵn. Anh bước qua ngưỡng cửa và thấy mình ở trong một phòng khách trang nhã. Không có tiếng nói,
cũng chẳng có tiếng ồn. Phía bên phải anh là một cái cầu thang. Anh bắt đầu bước lên. Từ lúc đó trở đi, đèn phụt tắt, nhưng từ căn phòng cuối hành lang lấp ló quầng sáng của một đốm lửa. Marcus đi theo quầng sáng, tin chắc rằng cuối hành trình này anh sẽ thấy thứ mình đang tìm kiếm. Người đàn ông ở trong phòng làm việc. Ông ta ngồi lọt thỏm trong một chiếc ghế bành bằng da, quay lưng về phía cửa ra vào, trên tay cầm một ly cognac. Cạnh ông ta, một chiếc lò sưởi nhỏ đang hoạt động. Trước mặt ông ta lại một lần nữa, giống như trong văn phòng của Ranieri – là sự kết hợp lỗi thời giữa một cái tivi plasma và một chiếc đầu đọc băng video. Ông ta nhận ra mình có khách. “Tôi đã cho tất cả đi rồi. Không còn ai khác trong nhà.” Luật sư Guido Altieri xem ra muốn đương đầu thực tế với số phận mình. “Anh muốn bao nhiêu?” “Tôi không cần tiền.” Ông luật sư đang định quay lại. “Anh là ai?” Marcus chặn ông ta lại. “Nếu ông không thấy phiền, tôi muốn ông không nhìn mặt tôi.” Altieri chiều lòng anh. “Anh không muốn nói cho tôi biết anh là ai nhưng cũng không đến đây vì tiền. Vậy thì lý do gì đưa anh tới nhà tôi?” “Tôi muốn hiểu.” “Nếu tới được đây, hẳn anh đã biết mọi chuyện.” “Vẫn chưa. Ông có ý định giúp tôi chứ?”
“Tại sao?” “Bởi vì, ngoài mạng sống của ông, ông còn có thể cứu mạng của một người vô tội.” “Tôi nghe anh đây.” “Có phải ông cũng nhận được một tin nhắn nặc danh? Ranieri đã chết, hai kẻ giết thuê đã bị bắn chí mạng và sau đó bị thiêu. Và giờ ông đang tự hỏi liệu tôi có phải kẻ đã gửi đi những thông điệp đó.” “Tin nhắn tôi nhận được thông báo về một chuyến viếng thăm vào tối nay.” “Không phải tôi, và tôi không ở đây để làm hại ông.” Trong tay Altieri, chiếc cốc phalê phản chiếu ánh lửa của lò sưởi. Marcus ngừng lại trước khi đi vào vấn đề chính. “Trong vụ án mạng người vợ ngoại tình, kẻ tình nghi số một luôn là người chồng.” Anh trích dẫn lại câu nói của Clemente, dù thoạt đầu anh thấy lý do đó quá tầm thường. “Án mạng xảy ra vào đêm hôm trước một lễ hội tôn giáo, đêm trăng non… Tất cả đều trùng hợp.” Con người – đôi khi – lại để cho mê tín dẫn dắt, anh nghĩ. Và để khỏa lấp khoảng trống của mối nghi ngờ, họ sẵn lòng tin vào bất cứ thứ gì. “Chẳng có nghi lễ, cũng chẳng có tà giáo nào hết. Dòng chữ phía sau giường, EVIL, không phải là một lời đe dọa mà là một lời hứa… Đọc ngược lại là LIVE, trực tiếp. Có thể là một trò đùa, mà cũng có thể không… Một thông điệp được gửi tới tận London, nơi ông đang có mặt: Công việc đã
được giải quyết theo yêu cầu, giờ ông có thể về nhà… Những ký hiệu trên thảm trải sàn, hình tam giác huyền bí, chúng không phải là biểu tượng. Có thứ gì đó được đặt trên vũng máu gần giường và sau đó bị di chuyển sang chỗ khác. Thật đơn giản. Một vật có ba chân và mỗi một mắt. Một chiếc camera đặt trên tripod cần thay đổi góc ghi hình.” Marcus nghĩ đến tiếng hét của người phụ nữ mà anh nghe thấy trong văn phòng của Ranieri. Không phải là ảo giác âm thanh. Đó là Valeria Altieri. Nó phát ra từ cái băng ghi hình mà gã thám tử tư cất giấu trong két sắt và đã xem lại trước khi mang nó đi cùng chiếc cặp da. “Ranieri đã lên kế hoạch vụ giết người, ông chỉ ra lệnh cho hắn. Nhưng sau vụ tin nhắn nặc danh và những cái xác, gã thám tử tư chắc chắn có kẻ đã biết sự thật. Hắn ta cảm thấy bị truy sát, sợ rằng chúng muốn giăng bẫy mình. Hắn trở nên điên loạn. Lao như bay về văn phòng và hủy mẩu giấy. Nếu ai đó đã lần ra hai kẻ giết thuê sau hai mươi năm, cũng có thể sẽ tìm ra cách đánh tráo cuộn băng trong két sắt, hắn ta chắc chắn như vậy trước khi mang nó đi… Hãy cho tôi biết, ngài luật sư: Cuộn băng mà gã thám tử tư sở hữu là bản copy hay bản gốc?” “Sao anh lại hỏi tôi chuyện đó?” “Vì nó đã bị hủy trong đống tro tàn cùng chiếc xe của ông ta. Và thiếu nó thì sẽ không bao giờ có công lý.” “Một cái chết thảm thương, ” Altieri bình luận đầy mỉa mai. Marcus vẫn quan sát cái đầu đọc băng video đặt dưới tivi plasma. “Đó là do ông yêu cầu, phải không? Ông không thể
bằng lòng với cái chết của bà vợ. Không, ông phải nhìn thấy nó. Dù có nguy cơ làm trò cười cho thiên hạ: Chồng bị vợ phản bội trong lúc đi công tác, tại tư gia, trên chính giường ngủ. Nó sẽ trở thành trò nực cười và chế giễu của mọi người, nhưng cuối cùng ông cũng hoàn thành màn trả thù của mình.” “Anh không thể hiểu được.” “Trái lại, tôi có thể làm ông ngạc nhiên. Với ông, Valeria là một nỗi ám ảnh. Ly dị là không đủ. Ông sẽ không thể quên được bà ta.” “Cô ta là một trong số những phụ nữ có thể làm anh mất lý trí. Một số người đàn ông bị hấp dẫn bởi những người đàn bà như vậy. Dù họ biết rằng cuối cùng cũng đi đến chỗ tự hủy hoại bản thân. Những cô ả có vẻ ngọt ngào, đáng yêu, chỉ bởi vì họ bố thí cho anh chút thừa thãi trong sự quan tâm của họ. Đến một lúc nào đó anh hiểu rằng mình còn có thể tự cứu vớt bản thân, có bên cạnh một người phụ nữ khác yêu anh thật lòng và những đứa con, một gia đình. Nhưng đúng vào thời điểm đó anh phải lựa chọn: Hoặc anh hoặc ả.” “Tại sao ông muốn chứng kiến?” “Vì giống như thể chính tôi đã giết chết cô ta. Đó là cái cảm giác tôi muốn trải nghiệm.” Vì bà ta sẽ không trở lại giống như tiếng vọng của một ký ức dễ chịu, giống như một sự tiếc nuối đáng sợ, Marcus nghĩ. “Và vậy là thi thoảng, khi ông ở nhà một mình như lúc này, ngồi trên chiếc ghế bành đẹp đẽ kia, rót một ly cognac và bật lại đoạn băng đó.”
“Những nỗi ám ảnh, rất khó để ngăn chúng lại.” “Và mỗi khi ông xem nó, ông cảm thấy thế nào? Thích thú ư?” Guido Altieri cụp mắt xuống. “Mỗi lần tôi lại hối hận… là không tự tay làm việc đó.” Marcus lắc đầu, anh cảm thấy tức giận và không thích điều đó. “Ranieri đã thuê những kẻ hành quyết, có thể chỉ là hai tên tội phạm vãng lai. Chữ viết bằng máu chỉ là tác phẩm không chuyên, nhưng biểu tượng trên thảm trải sàn là một cơ may. Một sai lầm đáng lẽ có thể vạch trần sự hiện diện của chiếc camera thế nhưng lại chuyển thành một lợi thế không ngờ, làm mọi thứ trở nên phức tạp.” Marcus cười nhạo chính mình vì đã nghĩ đến Satan giáo như lời giải thích cho câu chuyện đó, trong khi sự thật lại quá tầm thường. “Trái lại, anh đã hiểu hết mọi chuyện.” _“Những chú chó bị mù màu,_ ông biết chứ?” “Dĩ nhiên, nhưng nó có liên quan gì?” “Một chú chó không thể nhìn thấy cầu vồng. Và chẳng ai có thể giải thích cho nó màu sắc là gì. Nhưng ông cũng như tôi đều biết rằng tồn tại màu đỏ, màu vàng hay màu xanh nước biển. Ai nói với chúng ta là điều này không đúng với con người? Có lẽ vẫn có những thứ tồn tại, dù chúng ta không thể trông thấy chúng. Như cái ác. Chúng ta chỉ biết tới nó khi nó lộ diện, khi đã quá muộn.” “Anh biết cái ác chứ?”
“Tôi biết về con người. Và tôi nhìn thấy những dấu hiệu.” “Dấu hiệu nào?” “Những bước chân trần nhỏ xíu bước trên máu….” “Raffaele đáng lẽ đã không ở đó vào cái đêm hôm ấy.” Altieri biểu lộ một cử chỉ giận dữ. “Đáng lẽ nó đã tới nhà mẹ của Valeria, nhưng bà ta bị ốm. Tôi không biết việc đó.” “Trái lại, cậu bé ở trong ngôi nhà đó. Và ở lại hai ngày. Một mình.” Ông luật sư câm nín còn Marcus hiểu rằng sự thật làm ông ta tổn thương. Anh mừng vì một phần trong người đàn ông đó vẫn có thể bộc lộ một tình cảm thấy rõ sự nhân văn. “Trong ngần ấy năm, Ranieri có nhiệm vụ đánh lạc hướng cậu con trai của ông, người vẫn tiếp tục điều tra về cái chết của mẹ mình. Nhưng đến khi Raffaele bắt đầu nhận được những mẩu giấy nặc danh lạ lùng hứa sẽ đưa cậu ta đến chỗ sự thật…” Một cái đã đưa anh ta đến chỗ mình, Marcus tự nhủ, dù không biết lý do tại sao anh lại bị cuốn vào câu chuyện đó. “Đầu tiên, con trai ông đã sa thải gã thám tử tư. Một tuần trước, cậu ta đã tìm thấy những tên sát nhân, dụ chúng đến một nhà máy bị bỏ hoang và thủ tiêu chúng. Cậu ta hẳn đã làm điều tương tự với Ranieri bằng việc phá hỏng chiếc xe của gã. Vì vậy cậu ta chính là người đang tới đây. Tôi chỉ đến trước cậu ta mà thôi.” “Nếu không phải anh, thì ai bày ra tất cả những chuyện này?”
“Tôi không biết, nhưng khoảng hai mươi tư tiếng trước một tên giết người hàng loạt có tên là Jeremiah Smith đã được tìm thấy trong tình trạng hấp hối với một dòng chữ trên ngực: Giết tao đi. Trong kíp trực cấp cứu đã cứu sống hắn có chị gái của một trong số những nạn nhân của hắn. Cô ấy đáng lẽ đã có thể đòi lại công lý cho chính mình. Tôi cho rằng Raffaele cũng được trao một cơ hội tương tự như vậy.” “Tại sao anh lại muốn cứu mạng tôi đến vậy?” “Không chỉ ông. Tên giết người hàng loạt ấy đã bắt cóc một nữ sinh viên tên là Lara. Hắn cầm tù cô ấy ở đâu đó, nhưng hắn đang bất tỉnh và không thể nói được.” “Cô ấy là người vô tội mà lúc trước anh đề cập đến?” “Nếu tôi tìm thấy kẻ đã sắp xếp mọi chuyện này, tôi có thể cứu sống cô ấy.” Luật sư Altieri đưa cốc rượu cognac lên môi. “Tôi không biết giúp anh thế nào.” “Ít phút nữa Raffaele sẽ tới đây, có lẽ để tìm kiếm cơ hội trả thù. Ông hãy gọi cảnh sát và tự thú đi. Tôi sẽ đợi con trai ông và cố gắng thuyết phục cậu ta nói chuyện với tôi. Có thể cậu ta biết điều gì đó có ích cho tôi.” “Tôi phải khai hết mọi chuyện cho cảnh sát ư?” Qua tông giọng giễu cợt, rõ ràng ông luật sư không hề có ý định đó. “Anh là ai? Làm sao tôi có thể tin tưởng nếu như anh không nói cho tôi biết?”
Marcus đang định trả lời. Nếu đó là cách duy nhất, anh sẽ phá luật. Đúng lúc anh định cất lời thì tiếng súng vang lên. Anh quay lại. Sau lưng anh, Raffaele đang giương vũ khí. Khẩu súng nhắm thẳng vào chiếc ghế bành chỗ ông bố đang ngồi. Viên đạn xuyên thủng qua da và gối tựa. Altieri đổ nhào về phía trước, đánh rơi cốc cognac. Marcus muốn hỏi gã thanh niên tại sao lại nổ súng nhưng chợt hiểu rằng cậu ta thích báo thù hơn là công lý. “Cảm ơn vì đã làm ông ta nói ra sự thật, ” Raffaele nói. Và Marcus đã hiểu ra vai trò của anh trong toàn bộ sự việc. Đó chính là cái cớ để ai đó sắp xếp cho họ chạm trán nhau tại nhà của Lara. Anh phải cung cấp cho cậu ta mảnh ghép còn thiếu: lời thú tội của ông bố. Marcus đang định hỏi cậu ta điều gì đó, hy vọng có thể tìm ra sự kết nối giữa câu chuyện cũ của gần hai mươi năm trước với Jeremiah Smith và vụ mất tích của Lara. Nhưng trước khi kịp lên tiếng, anh đã nhận ra âm thanh từ xa vọng tới. Raffaele mỉm cười với anh. Đó là còi xe cảnh sát. Lần này công lý đã được thực thi, cho đến tận cùng. Ngay cả trong việc này cậu ta cũng muốn xử sự khác ông bố. Marcus biết rằng anh chỉ còn ít phút. Anh có rất nhiều nghi vấn nhưng phải biến khỏi đây. Không thể để họ phát hiện ra anh đó. Không ai được biết anh tồn tại.
S 20 giờ 35 phút au khi bỏ vào túi những vật dụng cần thiết, Sandra lên một chiếc taxi gần khu vực phố Gioliti. Cô đưa địa chỉ cho tài xế, rồi trên ghế phía sau cô lượt lại kế hoạch vừa thảo. Cô đang đối mặt với một sự mạo hiểm vô cùng lớn. Nếu họ phát hiện ra mục đích thực sự của cô, chắc chắn cô sẽ bị đình chỉ công tác. Chiếc xe đã đi qua quảng trường Repubblica và bắt đầu tiến vào phố Nazionale. Cô biết rất ít về Roma. Với một người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc như cô, thành phố đó là một điều bí ẩn. Có thể nó quá đẹp chăng. Đôi chút giống Venice, nơi mà theo cô dân cư chỉ toàn là khách du lịch. Thật khó để nghĩ rằng có ai đó thực sự sinh sống ở những địa điểm như vậy. Rằng họ làm việc, đi chợ, đưa con tới trường, thay vì dành thời gian trầm trồ trước những điều kỳ diệu ở xung quanh. Chiếc taxi rẽ vào phố San Vitale. Sandra xuống xe ngay trước Sở Cảnh sát. Mọi chuyện sẽ ổn thôi, cô tự nhủ. Cô trình thẻ ngành ở chốt bảo vệ và yêu cầu được nói chuyện với người đồng cấp ở phòng lưu trữ. Họ mời cô vào đợi trong phòng chờ trong lúc liên lạc với người kia qua điện thoại. Vài phút sau, tới tiếp cô là một nam cảnh sát tóc đỏ, mặc áo sơ mi, miệng nhồm nhoàm.
“Tôi có thể giúp gì cho cô, sĩ quan Vega?” Vừa nhai anh ta vừa hỏi. Từ những mẩu vụn trên áo, có thể đoán đó là một cái bánh mì. Sandra nở nụ cười thỏa hiệp nhất mà cô có. “Tôi biết là đã muộn rồi nhưng cấp trên cử tôi tới Roma chiều nay. Đáng lẽ tôi phải thông báo trước nhưng không có thời gian.” Người đồng nghiệp tóc đỏ gật gù, tỏ vẻ quan tâm hời hợt. “Được rồi, nhưng có chuyện gì vậy?” “Một nghiên cứu.” “Một trường hợp cụ thể hay là…” “Một nghiên cứu thống kê về ảnh hưởng của tội phạm bạo lực tới tổng thể xã hội và khả năng can thiệp của lực lượng cảnh sát, đặc biệt tập trung vào sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa Milan và Roma, ” cô tuôn ra tất cả trong liền một hơi. Người đàn ông nhăn trán. Một mặt, anh ta không có vẻ gì ghen tị với cô: Đó thường là kiểu nhiệm vụ che đậy một biện pháp trừng phạt hay hành hạ thực sự từ phía cấp trên. Mặt khác, anh ta chẳng hiểu mục đích có thể là gì. “Nhưng ai quan tâm đến chuyện đó mới được chứ?” “Tôi không rõ, nhưng tôi cho rằng ông cảnh sát trưởng sẽ phải tham gia một hội nghị trong vài ngày tới. Có lẽ ông ấy cần số liệu cho bài báo cáo.” Tay cảnh sát bắt đầu hiểu ra đây sẽ là một công việc tốn thời gian. Và anh ta không muốn hủy hoại ca trực buổi tối bình yên
của mình với đống phiền nhiễu đó. Sandra đọc thấy điều đó trên nét mặt anh ta. “Tôi có thể xem lệnh công tác của cô chứ, sĩ quan Vega?” Anh ta chuẩn bị một giọng điệu theo kiểu quan liêu, chuyên quyền, như để báo trước một sự khước từ. Nhưng cô đã dự liệu trước cả việc này. Cô tiến lại gần với điệu bộ thân mật và thì thầm với anh ta. “Nghe này, bạn đồng nghiệp, chỉ riêng chúng ta biết thôi, tôi chẳng thích thú gì khi phải thức cả đêm ở phòng lưu trữ chỉ để làm hài lòng tên khốn sếp tôi, thanh tra De Michelis.” Cô thấy có lỗi kinh khủng khi khắc họa chân dung ông ấy theo cách đó, nhưng không có phiếu công tác, cô cần nhắc đến tên một ông sếp. “Chúng ta làm vậy đi: Tôi đưa anh một danh sách những thứ cần tìm, còn anh cứ thoải mái sắp xếp khi nào có thể.” Sandra đặt vào tay anh ta một tờ giấy in. Trên thực tế, nó là bản danh sách các địa điểm du lịch của thành phố, do ông bảo vệ khách sạn của cô chuẩn bị. Cô biết rằng với anh đồng nghiệp chỉ cần liếc qua độ dài là đủ để từ bỏ mọi hình thức gây khó dễ. Quả vậy, tay cảnh sát trả lại cô từ danh sách. “Đợi chút, cô bạn.” Cả anh ta cũng chuyển sang ngôi thân mật. “Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Theo như tôi hiểu, nó là một nghiên cứu nhạy cảm. Tôi nghĩ cô là người phù hợp hơn.” “Nhưng tôi không biết phương pháp biên mục của các anh, ” cô tiếp tục tấn công anh ta. “Không có vấn đề gì, tôi có thể giải thích cho cô làm như thế nào. Cực dễ.”
Sandra biểu lộ tất cả vẻ chán nản của mình, mắt nhìn lên trời, đầu thì lắc: “Thôi được, nhưng tôi muốn khởi hành về Milan sáng ngày mai hay cùng lắm là trưa mai. Vì vậy, nếu anh không phiền, tôi sẽ bắt tay vào việc ngay lập tức.” “Dĩ nhiên rồi, ” anh ta tán thành, thái độ hợp tác bất ngờ. Rồi anh ta dẫn đường cho cô. Một căn phòng lớn đầy tranh tường, trần cao trang trí họa tiết damask, ở đó có sáu chiếc bàn làm việc và ngần đó máy tính. Phòng lưu trữ chỉ có vậy. Bảng kê mục lục sách bằng giấy đã được chuyển hoàn toàn thành một cơ sở dữ liệu lưu ở máy chủ nằm dưới đó hai tầng, dưới mặt đất. Tòa nhà Sở Cảnh sát được xây dựng vào thế kỷ thứ mười chín. Cảm giác cứ như đang làm việc trong một tác phẩm nghệ thuật. Đó là một trong số những lợi thế của Roma, Sandra nhận định khi ngước mắt nhìn lên. Cô ngồi vào một ghế, những cái còn lại đều trống. Ánh sáng duy nhất đến từ một cây đèn gần chỗ cô, tạo ra xung quanh cô một cái bóng dễ chịu. Trong sự tĩnh mịch đó, mọi âm thanh đều dội lại giữa những bức tường, trong khi ngoài kia cô đã bắt đầu nghe thấy tiếng đì đùng của một cơn bão mới. Cô tập trung vào đích đến đã được xác định. Tay đồng nghiệp tóc đỏ chỉ mất có ít phút để giải thích cho cô cách đăng nhập hệ thống. Sau khi cấp mật khẩu tạm thời cho cô, anh ta lặn mất hút.
Sandra lôi từ trong túi ra quyển sổ cũ bìa bằng da của David. Chồng cô đã ở Roma ba tuần và trong những trang viết về thời gian đó, có thể đếm được khoảng hai mươi địa chỉ được ghi lại và sau đó đánh dấu trên bản đồ thành phố. Để làm được việc đó anh đã sử dụng chiếc radio bắt tần số của cảnh sát. Mỗi khi tổng đài điều hành thông báo vụ phạm tội cho lực lượng phản ứng nhanh, chắc David cũng đi tới đó. Tại sao? Anh ấy đang tìm kiếm cái gì vậy? Sandra giở tới trang sổ có ghi địa chỉ đầu tiên, cô nhập nó cùng ngày tháng vào công cụ tìm kiếm của kho lưu trữ. Chỉ mất có vài giây để câu trả lời xuất hiện trên màn hình. “Phố Erode Attico. Một phụ nữ bị bạn trai cùng chung sống sát hại.” Cô mở file dữ liệu và đọc tóm lược biên bản. Đó là một vụ cãi lộn trong gia đình nhưng bị đẩy lên quá trớn. Người đàn ông, quốc tịch Ý, đã dùng dao đâm bạn gái, người Peru, rồi bỏ chạy. Giờ hắn ta vẫn đang lẩn trốn. Không hiểu nổi tại sao David lại quan tâm đến câu chuyện đó, Sandra quyết định nhập một địa chỉ mới cùng với ngày tháng vào công cụ tìm kiếm. “Phố Assunzione. Cướp của và ngộ sát.” Một bà lão bị tấn công tại gia. Những tên trộm đã trói và bịt miệng nạn nhân, người phụ nữ đã chết vì ngạt thở. Dù có cố gắng đến mấy, Sandra cũng không tìm được mối liên hệ với sự việc xảy ra ở phố Erode Attico. Địa điểm và nhân vật khác nhau,
hoàn cảnh dẫn đến những cái chết thảm cũng khác nhau. Cô tiếp tục: một địa chỉ khác, một ngày tháng khác. “Đường Trieste. Án mạng từ một vụ ẩu đả.” Nó xảy ra vào ban đêm, tại một bến xe buýt. Hai kẻ lạ mặt đã ẩu đả vì những lý do vụn vặt. Rồi một tên rút dao ra. Thế vụ này thì có liên quan gì cơ chứ? Cô tự hỏi, càng lúc càng bực bội. Cô không tài nào tìm thấy sợi dây liên hệ giữa ba vụ án và với cả những vụ cô phân tích khi tiếp tục tìm kiếm. Chúng đều là những vụ dính máu, với một hoặc nhiều nạn nhân. Một bản đồ tội ác lạ lùng. Một số vụ đã sáng tỏ, một số vụ thì chưa. Nhưng tất cả đều được lưu hồ sơ theo quy trình chụp ảnh hiện trường. Nghề của cô là tìm hiểu hiện trường vụ án dựa trên những hình ảnh, vì thế cô rất giỏi trong việc nghiên cứu những hồ sơ vụ án thông qua việc đọc các văn bản ghi chép. Cô thích hướng tiếp cận bằng thị giác và vì thấy có tập hợp hình ảnh trong nhiều vụ án, cô quyết định tập trung vào những bức hình mà đồng nghiệp chụp ảnh hiện trường của cô thực hiện. Việc kiểm tra không hề đơn giản: hai mươi án mạng có nghĩa là hàng trăm bức ảnh. Cô bắt đầu quan sát chúng trên máy. Không thể xác định đối tượng tìm kiếm, cô sẽ phải mất nhiều ngày và David thì không để lại thêm chỉ dẫn nào cả. Fred quỷ quái, tại sao lại là đống bí ẩn này? Anh không thể viết cho em một lá thư với những lời chỉ dẫn sao? Nó làm anh tốn công
quá ư, anh yêu? Cô căng thẳng, đói và không ngủ hơn hai mươi tư giờ và từ lúc đến Sở Cảnh sát cô đã nhịn tiểu. Vào hôm trước, một tay nhân viên của Interpol đã làm lung lay lòng tin của cô dành cho chồng mình, cô đã khám phá ra cái chết của David không phải là một tai nạn mà là một án mạng, tên sát nhân đã đe dọa cô bằng cách biến ca khúc gắn với kỷ niệm đẹp nhất trong đời cô thành một bài hát đưa tang sầu thảm. Quả thực quá nhiều thứ đã xảy ra trong đúng một ngày. Ngoài kia trời lại bắt đầu mưa. Sandra bỏ dở công việc, gục đầu xuống bàn. Cô nhắm mắt trong giây lát và ngừng suy nghĩ. Cô cảm thấy gánh nặng trách nhiệm đổ dồn lên mình. Đi tìm công lý không bao giờ dễ dàng, vì thế mà cô chọn nghề này. Nhưng chỉ là một phần trong bộ máy, đóng góp công sức bằng công việc của chính mình. Trái lại, nếu kết quả chỉ dựa vào đúng một mình cô lại là một câu chuyện khác. Mình không thể làm được, cô tự nhủ. Đúng lúc đó, điện thoại của cô rung. Tiếng động vang lên trong căn phòng trống làm cô giật nảy. “De Michelis đây. Tôi biết mọi chuyện rồi.” Trong phút chốc cô lo sợ ông sếp đã được thông tin về việc cô đã sử dụng trái phép tên của ông và việc cô có mặt ở đó không vì lý do công vụ nào cả. “Tôi có thể giải thích cho ông, ” cô nhanh nhảu.
“Gì cơ?… Không khoan đã, để tôi nói. Tôi đã tìm thấy bức họa!” Sự hân hoan trong giọng nói của ông thanh tra đủ làm cô an lòng. "Đứa trẻ hoảng hốt bỏ chạy là một trong những nhân vật trong bức tranh của Caravaggio: Cuộc tử đạo của Thánh Matteo." Sandra đã hy vọng rằng chi tiết ấy sẽ tiết lộ cho cô điều gì đó. Cô đã mong chờ hơn thế nhưng không có đủ dũng khí để giảm bớt lòng nhiệt tình của De Michelis. . “Nó được vẽ trong khoảng năm 1600 và 1601. Lúc đầu nó được đặt làm một bức tranh tường, nhưng sau đó họa sĩ đã chọn phương án vẽ sơn dầu trên vải toan. Nó nằm trong nhóm các bức họa về Thánh Matteo, cùng với bức Linh ứng và Lời ơn gọi. Ba bức tranh đều ở Roma, được đặt trong gian thờ Contarelli nằm trong nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi.” Nhưng tất cả thông tin này không giúp gì cho cô và vẫn là chưa đủ. Cô cần biết nhiều hơn thế. Cô mở trình duyệt và tìm kiếm bức họa trong phần hình ảnh của Google. Nó hiện lên màn hình. Bức họa miêu tả cảnh Thánh Matteo bị sát hại. Tên đao phủ đang vung gươm, nhìn ông đầy căm ghét. Thánh Matteo nằm sõng soài dưới đất. Một tay giơ lên cố ngăn tên đồ tể, trong khi cánh tay còn lại đặt thoải mái bên thân như thể chấp thuận đón nhận cuộc tử đạo sắp diễn ra. Xung quanh họ còn có những người khác, trong số đó có cả cậu bé với vẻ mặt kinh hoàng.
“Một điểm gây tò mò của bức tranh, ” De Michelis tiếp lời. “Trong số những người chứng kiến cảnh tượng có cả hình ảnh tự họa của Caravaggio.” Sandra nhận ra chân dung tự họa của người nghệ sĩ, ở phía trên góc bên trái. Đột nhiên cô nảy ra một suy luận. Cảnh tượng trong bức tranh chính là hiện trường của vụ án. “De Michelis, tôi phải tạm biệt ông.” “Sao cơ, cô không nói cho tôi biết mọi chuyện tiến triển thế nào à?” “Tất cả đều ổn, ông đừng lo.” Ông thanh tra lầm bầm điều gì đó. “Mai tôi sẽ gọi cho ông. Cảm ơn, ông đúng là một người bạn.” Cô dập máy mà chẳng để ông đáp lời. Điều đó quá quan trọng. Giờ cô đã biết mình phải tìm kiếm thứ gì. Theo quy trình chụp ảnh hiện trường, ngoài hiện trường vụ án, người ta còn phải ghi lại những tình huống khác. Tình trạng địa điểm và đặc biệt trong những trường hợp thủ phạm chưa bị pháp luật trừng trị, cả đám đông tò mò thường tụ tập phía bên ngoài rào chắn của cảnh sát. Quả thật, có khả năng thủ phạm trà trộn trong dân thường để tới thăm dò tiến trình điều tra. Nguyên lý về việc hung thủ thường quay lại địa điểm gây án đôi khi cũng xảy ra. Rất nhiều tên tội phạm đã bị tóm cổ nhờ vào mánh lới đó.
Sandra lướt qua những bức ảnh của hai mươi vụ án đã được David ghi lại trong sổ và chỉ tập trung vào những tấm hình đó để tìm kiếm một khuôn mặt trong số những kẻ tò mò. Ai đó, cũng giống như Caravaggio trong bức tranh, che giấu danh tính của mình giữa đám đông. Cô dừng lại ở án mạng của một cô gái bán hoa: Bức ảnh ghi lại thời điểm thi thể được vớt lên trong cái hồ nhỏ ở khu Triển lãm thế giới của Roma. Nhân viên đang kéo nó lên bờ. Bộ trang phục thiếu vải và lòe loẹt của người đàn bà đối lập với màu xám nhợt của cái chết phủ lên da thịt trẻ trung như một lớp verniz. Trên gương mặt, Sandra thấy biểu hiện của vẻ ngượng ngùng, xấu hổ khi bị phơi bày trước ánh sáng lõa lồ của ban ngày và những cái nhìn soi mói của một trung đội khán giả. Sandra có thể tưởng tượng ra những lời bình phẩm méo mó của họ. Là cô ta tự chuốc lấy. Nếu cô ta lựa chọn một cuộc sống khác, sẽ không có kết cục như vậy. Rồi cô nhìn thấy hắn. Gã đàn ông hơi lẩn khuất so với những người khác. Hắn đang đứng trên vỉa hè và ánh mắt không ẩn chứa bất cứ lời phán xét nào. Nó trung tính, hướng thẳng vào trung tâm của hiện trường, trong khi nhân viên nhà xác đang khẩn trương mang thi thể đi. Sandra ngay lập tức nhận ra gương mặt đó. Chính hắn là kẻ xuất hiện trong bức ảnh thứ năm của chiếc Leica. Mặc quần áo màu xám, với vết sẹo trên thái dương. Là mày tư, tên khốn kiếp? Chính mày đã đẩy David của tao vào hư vô?
Cô tiếp tục tìm kiếm, hy vọng tìm thấy hắn ở cả những chỗ khác. Quả nhiên, hắn xuất hiện trong ba tình huống nữa. Lần nào cũng giữa đám đông, lúc nào cũng đứng riêng lẻ. David đã hy vọng tìm ra hắn ở những địa điểm có xảy ra đổ máu. Chính thế mà có chiếc radio bắt tần số của cảnh sát, những địa chỉ trên quyển sổ và bản đồ thành phố. Tại sao anh lại điều tra về hắn? Hắn là ai? Hắn thì có liên quan gì tới những cái chết thảm thương đó? Và tới cái chết của David? Giờ Sandra biết mình phải làm gì: Cô phải tìm ra hắn. Nhưng ở đâu? Có lẽ cả cô cũng phải dùng phương pháp đó: Chờ đợi những cuộc gọi qua chiếc radio tổng đài của lực lượng phản ứng nhanh và lao ngay tới địa điểm. Đột nhiên, cô bắt đầu cân nhắc một khía cạnh mà trước đó không nghĩ tới. Câu hỏi vào thời điểm này không liên quan gì cả, nhưng vẫn cần một lời giải cho nghi vấn. David không chụp toàn bộ bức tranh của Caravaggio mà chỉ một chi tiết. Không có nghĩa gì cả: Nếu anh đang định hướng cho cô, tại sao cô phải làm mọi thứ phức tạp lên? Sandra bật lại màn hình máy tính có hiện bức tranh. Đáng lẽ ra David có thể lấy hình ảnh từ Internet, thậm chí chụp lại nó từ màn hình. Đằng này, ghi lại chi tiết đứa bé, anh muốn nói với cô rằng chính anh đã đích thân đến đó. “Có những việc em phải thấy tận mắt, Ginger.” Cô nhớ lại thông tin De Michelis vừa nói. Bức tranh được đặt tại Roma, trong nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi.
L 23 giờ 39 phút ần đầu tiên anh có mặt tại một hiện trường vụ án cùng với Clemente chính là ở Roma, trong khu Triển lãm thế giới. Nạn nhân đầu tiên anh tận mắt chứng kiến là một cô gái bán hoa được vớt từ hồ lên. Sau đó là những xác chết khác, tất cả chúng đều có chung cái nhìn ấy. Nó ẩn chứa một câu hỏi. Tại sao lại là tôi? Tất cả đều có cùng sự bất ngờ, cùng sự kinh ngạc. Tất cả đều mang vẻ khó tin đi kèm khát khao vô vọng được tua lại băng, quay ngược thời gian, có thêm một cơ hội thứ hai. Marcus chắc chắn rằng điều bất ngờ không phải là cái chết mà là suy luận chớp nhoáng rằng mọi sự không thể đảo ngược. Những nạn nhân đó không bao giờ nghĩ rằng: Chúa ơi, tôi đang chết. Mà là: Chúa ơi, tôi đang chết và không thể làm gì được… Có lẽ ý nghĩ đó cũng sượt qua đầu anh khi anh bị bắn trong phòng khách sạn ở Praha. Anh đã thấy sợ hãi hay có cảm giác an ủi về việc không thể tránh khỏi? Chứng mất trí nhớ đã bắt đầu xóa sạch mọi thứ trước đây, kể từ ký ức cuối cùng đó. Hình ảnh đầu tiên ghi dấu trong bộ nhớ mới của anh là cây thánh giá bằng gỗ trên bức tường trắng phía trước giường bệnh. Anh đã lặng ngắm nó trong nhiều ngày, tự hỏi điều gì đang xảy ra xung quanh mình. Viên đạn đã không phá hủy phần não bộ điều
khiển chức năng ngôn ngữ và vận động. Vì vậy, anh vẫn có thể nói và đi lại. Nhưng anh không biết nói gì và đi đâu. Rồi nụ cười của Clemente xuất hiện. Khuôn mặt trẻ trung và nhẵn nhụi, mái tóc sậm màu rẽ ngôi lệch, đôi mắt hiền hậu đó. “Tôi đã tìm thấy anh, Marcus, ” đó là những lời đầu tiên của cậu ấy. Một tia hy vọng, và tên của anh. Clemente không nhận ra anh từ diện mạo vì cậu ấy chưa từng gặp anh trước đây. Chỉ có Devok biết danh tính của anh, đó là nguyên tắc. Clemente chỉ đơn giản lần theo dấu vết của ông ấy tới tận Praha. Đó là người bạn, người thầy huấn luyện đã cứu sống anh ngay cả khi đã chết. Đó là tin cay đắng nhất với Marcus. Anh không nhớ gì về Devok, cũng như mọi thứ khác. Nhưng giờ anh biết ông đã bị giết hại. Vào hoàn cảnh ấy, Marcus đã hiểu rằng nỗi đau là cảm xúc duy nhất của con người không cần phải gắn với một ký ức. Một đứa con sẽ luôn phải chịu tổn thương khi một trong hai bố mẹ ra đi, cho dù điều đó có xảy ra trước khi anh ta chào đời hay khi còn quá nhỏ để có thể hiểu được thế nào là cái chết. Raffaele Altieri là một ví dụ. Chúng ta cần trí nhớ chỉ để cảm thấy hạnh phúc, Marcus đã nghĩ vậy. Clemente đã rất kiên trì với anh. Cậu ấy đã chờ đợi đến khi anh bình phục và đưa anh quay trở lại Roma. Trong những tháng sau đó, cậu ấy đã huấn luyện anh dựa trên những điều ít ỏi mình biết về quá khứ của anh. Về quê hương của anh, Agentina. Về cha mẹ anh, giờ đã không còn nữa. Về lý do anh ở
Ý và cuối cùng là về nhiệm vụ của anh. Clemente không định nghĩa đó là một công việc. Cậu ấy đã huấn luyện anh, như Devok đã từng làm nhiều năm trước đây. Việc đó không quá khó, chỉ cần để anh hiểu rằng có những khả năng tiềm ẩn trong con người mình và chỉ việc đánh thức chúng dậy. “Đó là năng khiếu của anh, ” cậu ấy vẫn thường nói. Đôi lúc Marcus không muốn mình như trước đây. Đôi lúc anh muốn mình là người bình thường. Nhưng chỉ cần nhìn mình trong gương anh hiểu rằng điều đó là không thể, vì vậy anh tránh làm việc đó. Vết sẹo là một lời cảnh cáo hùng hồn. Kẻ tìm cách giết hại anh đã để lại kỷ vật đó trên thái dương và cái chết là thứ duy nhất người ta không bao giờ có thể quên được. Mỗi lần Marcus nhìn thấy một nạn nhân, anh biết mình đã ở trong tình cảnh tượng tự. Anh thấy mình giống họ, anh đã bị trừng phạt phải cảm nhận cùng sự cô đơn của họ. Cô gái bán hoa được vớt từ dưới hồ lên giống như một tấm gương soi mà anh tìm cách lảng tránh. Nó làm anh nhớ ngay đến bức họa của Caravaggio. Cái chết của Đức mẹ đồng trinh. Bức tranh khắc họa hình ảnh Đức mẹ thiếu sinh khí, nằm dài trên một thứ trông có vẻ như giường trong nhà đại thể. Không có những biểu tượng tôn giáo xung quanh Đức mẹ, và Người cũng không có vòng hào quang thần thánh. Khác xa so với những tạo hình khi Người thường hiện lên như một tạo vật giữa thánh thần và con người, ở đây Đức mẹ Maria chỉ là một thi thể bị bỏ rơi, xanh xao với cái bụng
trương phình. Họ nói rằng họa sĩ đã lấy cảm hứng từ thi thể của một cô gái bán hoa được vớt từ sông lên, vì thế bức họa đã bị người đặt hàng khước từ. Caravaggio đã dùng một cảnh tượng kinh hoàng trong cuộc sống thường ngày và gán cho nó một ý nghĩa linh thiêng. Trao cho các nhân vật một vai trò khác, ông đã biến họ thành những vị thánh hay trinh nữ đang hấp hối. Khi lần đầu tiên Clemente đưa Marcus tới nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi, cậu ta đã bảo anh quan sát bức Cuộc tử đạo của Thánh Matteo. Rồi cậu ta bảo anh rũ bỏ sự thần thánh trong mỗi nhân vật như thể họ chỉ là những con người bình thường có liên quan tới một hiện trường vụ án. “Giờ anh thấy gì?” Cậu ấy hỏi. “Một vụ giết người.” Anh trả lời. Đó là bài học đầu tiên của anh. Việc huấn luyện cho những người như anh luôn bắt đầu từ bức tranh đó. “Những chú chó bị mù màu,” người thầy mới của anh nói. “Chúng ta, ngược lại, nhìn thấy quá nhiều màu sắc. Anh hãy bỏ chúng ra, chỉ để lại mỗi trắng và đen. Điều thiện và cái ác.” Nhưng Marcus nhanh chóng nhận ra mình còn có thể nhìn thấy cả những sắc thái khác. Những tông màu mà cả chó và con người đều không thể tri nhận. Đó là tài năng thực sự của anh. Giờ nghĩ lại, anh chợt thấy nhung nhớ. Thực tế, anh không biết vì lý do gì. Nhưng đôi khi anh có những cảm nhận mà chẳng rõ nguyên nhân.
Đã muộn nhưng anh không muốn trở về nhà. Anh không muốn thiếp đi để rồi lại phải đối mặt với giấc mơ đưa anh về quá khứ, ở Praha, vào thời điểm anh chết. Vì mình chết hàng đêm, anh tự nhủ. Anh muốn ở lại đó, trong cái nhà thờ đã trở thành chỗ trú ẩn bí mật của anh. Nơi anh vẫn thường trở lại. Tối hôm đó, anh không ở một mình. Anh cùng một nhóm người chờ cho bên ngoài tạnh mưa. Buổi biểu diễn nhạc cụ đàn dây đã kết thúc được một lúc nhưng các thầy tu và người gác cổng không nỡ xua đuổi số ít khán giả còn nán lại. Thế là những nhạc công bắt đầu ngân nga những giai điệu mới, kéo dài một cách bất ngờ sự ngọt ngào của buổi tối hôm đó. Trong khi cơn bão đang cố truy lùng họ, những nốt nhạc đối chọi với tiếng sấm đùng đoàng, làm lan tỏa niềm vui giữa những người hiện diện. Như mọi khi, Marcus đứng riêng một chỗ. Với anh, nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi còn có thêm một màn trình diễn nằm trong tuyệt tác của Caravaggio. Cuộc tử đạo của Thánh Matteo. Lần đầu tiên, anh tự cho phép mình ngắm bức họa bằng đôi mắt của một người bình thường. Trong bóng tối của gian thờ bên cạnh, anh nhận ra rằng ánh sáng chiếu rọi cảnh tượng đã có sẵn bên trong bức họa. Anh ghen tỵ với tài năng của Caravaggio: Ông phát hiện ra ánh sáng ở nơi mà người khác chỉ thấy bóng tối. Nó hoàn toàn đối lập với những gì xảy ra với anh. Nhưng đúng lúc đang tận hưởng hiệu quả của phát hiện đó, anh tình cờ liếc mắt sang trái.
Ở phía cuối gian chính của giáo đường, có một phụ nữ trẻ ướt sũng nước mưa đang quan sát anh. Đúng giây phút ấy, trong anh có thứ gì đó bỗng sụp đổ. Lần đầu tiên có kẻ xâm phạm sự vô hình của anh. Anh rời mắt và vội vã bước về phía gian để đồ thờ. Cô ta di chuyển để bám theo anh. Anh sẽ phải cắt đuôi cô ta. Anh nhớ rằng phía đó có một lối ra thứ hai. Anh rảo bước về hướng đó nhưng có thể nghe thấy tiếng giày cao su của cô ta nện trên sàn nhà bằng đá cẩm thạch trong lúc đuổi theo anh. Một tiếng sấm vang lên trên đầu làm anh đánh mất điểm tham chiếu âm thanh đó. Người phụ nữ ấy muốn gì ở anh cơ chứ? Anh bước vào hành lang dẫn tới phía sau nhà thờ và nhìn thấy cánh cửa. Anh lại gần, mở cửa và đã sẵn sàng lao mình vào màn mưa, thì cô ta lên tiếng. “Dừng lại.” Cô ta nói mà không hề gào thét. Trái lại, chất giọng khá lạnh lùng. Marcus dừng lại. “Giờ hãy quay lại đây.” Anh làm theo. Ánh sáng duy nhất là ánh vàng lợt lạt của những ngọn đèn đường hắt đúng tới gờ bậu cửa. Nhưng ảnh phản chiếu cũng đủ để thấy cô ta đang chĩa súng. “Anh biết tôi chứ? Biết tôi là ai không?” Marcus suy nghĩ trước khi trả lời. “Không” “Thế còn chồng tôi, anh biết chứ?” Trong những lời nói của cô ta không có sự giận dữ, “Anh đã giết anh ấy phải không?” Có
sự thất vọng trong giọng nói đó. “Nếu biết điều gì anh phải nói cho tôi. Hoặc tôi thề là sẽ giết anh.” Cô ta nói thật. Marcus lặng thinh. Anh đứng bất động với hai cánh tay duỗi dài ở hai bên hông. Anh nhìn lại cô ta nhưng không sợ hãi. Đúng hơn, anh thấy thông cảm. Đôi mắt người phụ nữ lóe lên. “Anh là ai?” Đúng lúc đó quầng sáng của một tia chớp rất gần báo hiệu một tiếng sấm to nhất, chói tai. Ánh đèn đường run rẩy trong giây lát rồi phụt tắt. Đường phố và gian để đồ thờ chìm trong bóng tối. Nhưng Marcus không bỏ đi ngay lập tức. “Tôi là một thầy tu.” Khi đèn đường bật sáng trở lại, Sandra nhận ra anh ta không còn ở đó nữa.
Một năm trước
C Mexico hiếc taxi tiến như rùa bò trong giao thông ùn tắc vào giờ cao điểm. Điệu nhạc Latin phát ra từ radio hòa cùng âm thanh của các ô tô khác đang nối đuôi nhau, cửa sổ đều mở tung vì cái nóng. Kết quả là một đống tạp âm chối tai, nhưng gã thợ săn để ý thấy mỗi người vẫn phân biệt được giai điệu của riêng mình. Gã đề nghị bác tài bật điều hòa nhưng ông ta bảo rằng nó đã hỏng. Ở thành phố Mexico đang là ba mươi độ và độ ẩm được dự báo sẽ tăng trong đêm. Tất cả góp