hồi lần tìm, ông ta rút ra một con rối nhỏ và đặt nó lên bàn, trước mặt vị khách. Một con thỏ con bằng vải. Nó màu xanh da trời, bẩn thỉu và xơ xác. Ai đó đã khâu lại cái đuôi và nó bị mất một bên mắt. Nó cười, hạnh phúc và nham hiểm. Gã thợ săn quan sát con vật bằng bông. “Tôi thấy nó không có vẻ gì là một dấu hiệu đáng giá.” “Tôi đồng ý với anh, tiến sĩ Foster, ” Norjenko thừa nhận và đôi mắt của ông lại bừng sáng như thể ông ta còn cất giấu thứ gì đó: “Nhưng anh không biết chúng tôi đã tìm thấy nó ở nơi nào đâu.” Sau khi băng qua một góc công viên đúng lúc trời sẩm tối, Norjenko dẫn đường cho người đồng nghiệp vào bên trong một tòa nhà khác của Trung tâm. “Đã có thời nơi đây là khu ký túc xá chính.” Họ không đi lên tầng trên mà xuống tầng hầm dưới mặt đất. Norjenko bật một loạt cầu dao điện: những ánh đèn neon chiếu sáng một không gian mênh mông. Những bức tường tối màu vì
ẩm ướt và trên trần chạy ống đủ loại, rất nhiều trong số chúng đã bị hỏng và được sửa chữa lại. “Ít lâu sau khi đứa trẻ mất tích, một nhân viên vệ sinh đã tìm thấy.” Ông ta không hé lộ trước điều gì cả, như thể muốn tận hưởng sự ngạc nhiên của người đồng nghiệp trẻ một khi họ tới nơi. “Tôi đã muốn lưu giữ nơi này như lúc chúng tôi tìm thấy nó. Đừng hỏi tôi vì sao, tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng một ngày nào đó nó sẽ giúp chúng tôi hiểu. Nhưng rồi ở dưới này chẳng còn ai đến nữa.” Họ đi dọc theo một hành lang cao và hẹp, với những cánh cửa thép từ đó phát ra âm thanh ồn ào của hệ thống nước nóng. Rồi họ đi tới một căn phòng thứ hai được dùng làm kho chứa đồ cũ: giường và đệm đang dần hư hại. Norjenko mở lối và mời người đồng nghiệp làm việc tương tự. “Chúng ta sắp tới nơi rồi, ” ông thông báo. Họ rẽ vào góc và thấy mình trong một cái kho dưới gầm cầu thang hẹp và rất bí. Nó tối thui, nhưng Norjenko đã liệu trước việc chiếu sáng chỗ đó bằng cái bật lửa ông thường dùng để châm thuốc. Dưới ánh sáng màu hổ phách của đốm lửa, vị khách của ông tiến một bước về phía trước và không tin nổi điều mình trông thấy. Nó có vẻ là một tổ côn trùng khổng lồ. Gã thợ săn bất giác rùng mình, nhưng sau đó khi tiến lại gần, gã nhận ra một mạng lưới dày đặc những miếng gỗ nhỏ,
được xếp với nhau bằng các vụn vải đủ màu, dây thừng, kẹp quần áo, đinh ghim, giấy báo thấm nước được dùng để kết dính. Tất cả được tạo nên với một sự tỉ mỉ khó tin. Đó là nơi trú ẩn bằng vụn rác của một đứa trẻ. Chính gã cũng từng làm ra những thứ tương tự như thế khi còn bé. Nhưng ở đây có cái gì đó khác biệt. “Con rối nằm ở bên trong, ” Norjenko nói và thấy vị khách của mình cúi xuống cái cửa hẹp và sờ vào thứ gì đó trên sàn nhà. Gã rướn vai qua và kinh ngạc xem xét một hình vương miện những vệt nhỏ tối màu. Với gã thợ săn đó là một phát hiện quá ấn tượng. Máu khô. Đúng dấu vết gã đã tìm được ở Paris, trong nhà của Jean Duez. Dima giả mạo là kẻ biến hình. Nhưng gã không được thể hiện sự phấn khích, vậy là gã đặt câu hỏi lảng tránh: “Các ông có ý tưởng gì về nguồn gốc của những vệt đó không?” “Quả thực là không.” “Ông có phiền nếu tôi lấy một ít mẫu?” “Anh cứ lấy đi.” “Và tôi muốn cả con thỏ con bằng vải, có thể nó có liên quan đến quá khứ của Dima giả mạo.” Norjenko lưỡng lự. Ông ta cố tìm hiểu xem liệu anh chàng đồng nghiệp có thực sự quan tâm đến câu chuyện, có thể đây là
cơ hội cuối cùng mà ông có để chuộc lại danh dự cho sự tồn tại của chính mình. “Tôi cho rằng trường hợp này còn có giá trị khoa học, rất đáng để nghiên cứu sâu hơn, ” gã thợ săn nói thêm để thuyết phục Norjenko. Trước những lời nói đó, trong đôi mắt của ông bác sĩ tâm lý ánh lên một tia hy vọng ngây thơ nhưng có cả một đề nghị ngầm giúp đỡ: “Vậy thì, anh nghĩ sao nếu chúng ta viết một bài báo mới, hai chúng ta cùng nhau chẳng hạn?” Lúc đó, dĩ nhiên Norjenko không thể tưởng tượng ra rằng có thể ông ta sẽ phải trải qua những ngày tháng cuối cùng của mình ở Trung tâm đó. Gã thợ săn quay lại và mỉm cười với ông ta. “Dĩ nhiên rồi, tiến sĩ Norjenko. Tôi sẽ trở lại Anh ngay tối nay và tôi sẽ cho ông biết thông tin sớm nhất có thể.” Trên thực tế, trong đầu gã đã dự định một điểm đến khác. Gã sẽ tới nơi mọi chuyện bắt đầu. Ở Pripjat, theo dấu vết của Dima. ← Cuộc cải tổ kinh tế và chính trị được Liên Xô tiến hành từ năm 1986 đến năm 1991.
Hai ngày trước
X 6 giờ 33 phút ác chết nói: “Không.” Tiếng thốt mông lung giữa cơn mơ và cơn tỉnh. Nó đến từ quá khứ nhưng có thể truyền tới hiện tại chỉ giây lát trước khi cánh cửa nối hai thế giới khép lại và Marcus sẽ tỉnh giấc. Anh thốt ra lời phủ định đó với sự quả quyết, nhưng cũng sợ hãi, trước cái họng súng lạnh lùng. Anh biết nói ra cũng chẳng ích gì. Như mọi người thường làm vậy khi bị bắn. Đó là rào cản cuối cùng không có tác dụng trước một điều không thể tránh khỏi. Lời cầu khẩn của kẻ không còn đường lui. Marcus không đi kiếm ngay cây bút dạ anh thường dùng để ghi lại những mảnh vụn của giấc mơ lên bức tường cạnh chiếc giường xếp. Với hơi thở hổn hển và con tim đang đập thình thịch trong lồng ngực, anh nán lại suy nghĩ về việc tại sao lần này anh lại không quên những gì đã trông thấy. Trước mắt anh vẫn còn rõ mồn một hình ảnh của gã đàn ông vô diện đã bắn anh và Devok. Trong những phiên bản trước của giấc mơ, đó là một cái bóng bằng hơi nước tan biến mỗi khi anh cố định hình nó. Anh đã nhìn thấy bàn tay hắn cầm khẩu súng. Hắn thuận tay trái.
Không nhiều lắm, nhưng với Marcus điều đó làm lóe lên một tia hy vọng. Có thể một ngày nào đó hình ảnh trong mơ của anh lên tới cánh tay đang giương súng và anh sẽ nhìn vào mắt kẻ đã đày đọa anh phải lang thang trong chính con người mình để kiếm tìm danh tính đích thực. Vì điều còn lại với anh chỉ là ý thức rằng mình còn sống. Chẳng có gì khác nữa. Anh lại nghĩ về Federico Noni và những bức tranh trong quyển vở anh tìm thấy ở nhà hắn. Chúng kể về sự ra đời của một con quái vật. Việc những tưởng tượng mang tính bạo lực xuất hiện ngay từ thời thơ ấu khiến anh băn khoăn. Trong mớ bòng bong mà anh đang tìm cách gỡ, có sợi chỉ đỏ của một mối nghi ngờ. Tốt hay xấu, độc ác hay nhân từ, người ta sinh ra đã thế hay trở nên như vậy? Làm sao trái tim của một đứa trẻ lại có thể nuôi dưỡng cái ác một cách hiển nhiên và để mặc cho nó giày xéo mình như thế? Ai đó sẽ đổ vấy trách nhiệm cho một chuỗi những việc đã hằn sâu trong tâm hồn của Federico, như sự bỏ rơi của bà mẹ hay cái chết quá đột ngột của ông bố. Nhưng đó chỉ là sự lý giải yếu ớt và quá tầm thường. Rất nhiều đứa trẻ sống trong những thảm kịch còn tồi tệ hơn nhưng không vì thế mà khi lớn lên chúng trở thành những kẻ sát nhân. Hơn nữa Marcus ý thức rằng câu hỏi đó cũng liên quan đến anh. Chứng mất trí nhớ đã xóa sạch những ký ức, chứ không phải quá khứ của anh. Nó ra sao trước thời điểm đó nhỉ? Trong quyển vở của Federico có lẽ sẽ có bóng dáng của câu trả lời. Trong mỗi cá thể đều tồn tại thứ gì đó bẩm sinh, nằm ngoài ý
thức của họ, của những kinh nghiệm được tích lũy và của sự giáo dục được thừa hưởng. Một đốm sáng để nhận dạng mỗi con người hơn cả tên tuổi hay ngoại hình của họ. Một trong những bài đầu tiên anh được huấn luyện là thoát khỏi những lừa gạt về mặt hình thức. Clemente đã để anh nghiên cứu vụ án của Ted Bundy, một kẻ giết người hàng loạt với khuôn mặt của một gã trai ngoan. Cô người yêu và đám bạn miêu tả hắn là một người dễ mến và hào phóng. Tuy nhiên, hắn đã giết người hai mươi tám lần. Nhưng trước khi bị nhận dạng là sát thủ máu lạnh, Bundy từng được trao huân