Tòa Án Linh Hồn

hồi chuông báo động.”

hồi chuông báo động.”

hồi chuông báo động.” “Vì thế, ngay sau đó, tay chân của hắn đã phóng hỏa thiêu cháy bệnh viện. Chúng hy vọng sẽ xóa đi vĩnh viễn những bằng chứng có thể có về vụ sát hại cậu bé. Xét cho cùng, chúng đã phi tang khỏi phòng khám cái kim tiêm mà Canestrari dùng để tiêm chất độc đã giết chết ông ta, tránh việc cảnh sát mở cuộc điều tra.” “Phải rồi, ” Marcus đồng tình. “Nhưng còn một nút thắt cơ bản. Điều gì đã gắn kết một nhà hảo tâm ai cũng biết với một tên tội phạm?” Clemente cũng đồng quan điểm: “Thực sự mà nói, tôi cũng không thấy có liên quan gì. Chính anh đã nói: Họ thuộc về hai thế giới khác nhau.”

“Cho dù như thế vẫn sẽ có một sợi dây liên kết họ, tôi chắc chắn như vậy.” Clemente lên giọng thuyết phục: “Nghe này, Marcus. Thời gian cho Lara đang sắp hết. Có lẽ anh nên bỏ qua câu chuyện này và tập trung vào việc tìm kiếm cô sinh viên.” Lời nhắc nhở nghe có vẻ lạ lùng với Marcus. Trong giây lát, anh giả bộ tập trung vào việc chữa trị vết thương, thi thoảng kiểm tra nét mặt của Clemente qua gương. “Có thể cậu có lý, hôm nay tôi đã nhận ra điều đó. Thật may là cậu đã tới bệnh viện. Nếu cậu không mang tôi đi, hai tên đó đã giết tôi.” Trong lúc nói điều đó, bạn anh cụp mắt xuống. “Cậu đang theo dõi tôi phải không?” “Anh nói gì vậy?” Clemente thấy bị tổn thương. Marcus không tin và quay lại để nhìn thẳng vào mắt cậu ta. “Chuyện gì xảy ra vậy? Cậu đang giấu tôi điều gì?” “Chẳng có gì.” Clemente đang phòng vệ, Marcus thử phỏng đoán lý do. “Don Michele Fuente đã chép lại lời xưng tội của kẻ sắp tự tử Alberto Canestrari, nhưng theo lệnh của giám mục ông ta đã không viết tên kẻ có tội. Các anh đang cố bảo vệ điều gì đây? Ai phía trên các anh muốn tất cả im lặng?” Clemente nín thinh. “Tôi biết mà, ” Marcus nói. “Mối quan hệ giữa Canestrari và Astor Goyash là tiền, phải không?”

“Ông bác sĩ phẫu thuật không có vẻ cần tiền, ” Clemente phản biện, nhưng không mấy thuyết phục. Marcus tận dụng thế khó của cậu ta. “Điều mà ông bác sĩ coi trọng nhất là tên tuổi của mình.” Nhưng sau đó anh bổ sung: “Ông ta nghĩ mình là một người tốt.” Clemente hiểu rằng không thể tiếp tục màn kịch đó được nữa. “Bệnh viện mà Canestrari xây dựng ở Angola là một tác phẩm vĩ đại. Nếu vậy có nguy cơ chúng tôi sẽ phải phá hủy nó.” Marcus gật gù: “Ông ta dùng tiền nào để xây nó? Tiền của Goyash phải không?” “Chúng tôi không rõ.” “Nhưng có khả năng.” Marcus bàng hoàng và giận dữ. “Cuộc sống của một đứa trẻ bị đánh đổi với hàng nghìn sinh mạng.” Clemente không thể nói gì thêm. Giờ người học trò đã hiểu mọi chuyện. “Chúng ta lựa chọn cái đỡ xấu xa hơn. Nhưng như vậy chúng ta ủng hộ logic đã đưa ông bác sĩ phẫu thuật tới việc chấp nhận một giao kèo rất tội lỗi.” “Cái logic đó không liên quan đến chúng ta. Nhưng sinh mạng của hàng ngàn người thì có.” “Thế còn đứa trẻ? Sinh mạng của nó không đáng giá gì sao?” Anh ngưng lại để kiểm soát cơn giận dữ. “Vị Chúa mà chúng ta vẫn nhân danh để hành động sẽ phán xử mọi chuyện này thế nào?” Rồi anh nhìn vào mắt của Clemente: “Ai đó sẽ trả thù cho sinh mạng duy nhất đó, như vị linh mục ân giải đã tiên đoán.

Chúng ta có thể quyết định ngồi yên nhìn chuyện xảy ra, hoặc cố làm một điều gì đó. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta chẳng khác nào những kẻ tòng phạm của một vụ giết người.” Clemente biết là Marcus có lý, nhưng cậu vẫn do dự. Một lát sau, cậu ta phá vỡ sự im lặng: “Nếu Astor Goyash thấy cần phải theo dõi phòng khám của Canestrari ba năm sau sự việc xảy ra là bởi vì hắn sợ bị liên lụy, ” cậu khẳng định. Rồi cậu thêm vào: “Điều đó có nghĩa rằng còn một bằng chứng có thể chứng minh hắn có liên quan đến án mạng đó.” Marcus mỉm cười. Cậu bạn đã đứng về phía anh, cậu ta sẽ không bỏ rơi anh. “Chúng ta phải tìm ra danh tính của cậu bé đã bị sát hại, ” anh liền nói. “Và tôi biết mình phải làm thế nào.” Họ tới căn phòng bên cạnh, nơi để máy vi tính. Sau khi nối mạng Internet, Marcus vào trang thông tin điện tử của cảnh sát quốc gia. “Anh muốn tìm hắn ở đâu?” Clemente đứng sau anh hỏi. “Vị linh mục ân giải bí ẩn tạo cơ hội trả thù, vì vậy nạn nhân trẻ tuổi chắc chắn là người Roma.” Anh mở trang thông tin về những người bị mất tích và vào mục trẻ em. Xuất hiện những gương mặt thiếu nhi và thiếu niên. Con số rất ấn tượng. Thường là những trường hợp tranh nhau con cái, chúng bị một trong hai bố mẹ đưa đi, nên không khó để giải đáp bí ẩn, tên của chúng sẽ nhanh chóng biến mất khỏi danh sách. Tương tự như thế là những trường hợp bỏ nhà ra đi và cũng khép lại sau ít ngày với cuộc đoàn tụ gia đình và một trận quát tháo. Nhưng một vài đứa trẻ đã biến mất hàng

năm trời và sẽ ở lại trên trang thông tin đó cho đến khi người ta biết được chuyện gì đã xảy ra với chúng. Chúng mỉm cười trong những bức hình nhòe và rất cũ. Trong ánh mắt của chúng là một sự vô tội bị xâm phạm. Trong một số trường hợp, từ hình ảnh đó cảnh sát sẽ có được một bản phác thảo khuôn mặt để phán đoán sự biến đổi của nó khi bọn trẻ trưởng thành. Tuy nhiên hy vọng về khả năng sống sót của những đứa trẻ là rất mong manh. Thường thì tấm ảnh trên trang thông tin điện tử thay thế cho bia mộ, một cách để không lãng quên chúng. Lược bỏ những chi tiết thừa, Marcus và Clemente tập trung vào những đứa trẻ bị mất tích ở Roma ba năm trước. Họ tìm ra hai trường hợp. Một trai và một gái. Họ đọc hồ sơ của chúng. Filippo Rocca biến mất trong hư không vào một buổi trưa ở cổng trường. Đám bạn thường chơi cùng với nó không nhận ra gì cả. Cậu bé mười hai tuổi và có một nụ cười tươi tắn, thiếu một chiếc răng cửa phía trên. Nó mặc một chiếc áo choàng đồng phục của trường tôn giáo nơi nó theo học và một chiếc quần jean, một cái áo thun màu cam với một cái áo phông polo màu xanh da trời, chân đi giày thể thao. Trên ba lô của cậu bé có gắn huy hiệu thiếu sinh quân và cúp của đội bóng mà nó hâm mộ. Alice Martini mười tuổi, có tóc vàng bên đuôi sam. Cô bé đeo kính cận gọng màu hồng. Nó mất tích khi đang ở công viên với gia đình cùng bố, mẹ và một cậu em trai. Cô bé mặc một chiếc áo nỉ màu trắng với khuôn mặt của Bugs Bunny, quần soóc và giày vải. Người cuối cùng nhìn thấy cô bé là một anh bán bóng.

Anh ta nhìn thấy cô bé đứng gần nhà vệ sinh trong lúc đang nói chuyện với một người đàn ông trung niên, nhưng chỉ trong chốc lát và anh ta không thể cung cấp nhận dạng cho cảnh sát. Marcus có thêm những thông tin khác khi truy cập vào các trang web của các tờ nhật báo đưa bài về hai trường hợp mất tích đó. Bố mẹ của Alice và của Filippo đều đưa ra lời kêu gọi, tham gia vào những buổi nói chuyện trên truyền hình và trả lời phỏng vấn để duy trì sự quan tâm về hai vụ mất tích đó. Nhưng những cuộc điều tra vẫn không đem lại kết quả. “Anh tin rằng trong số những đứa trẻ này sẽ có người mà chúng ta tìm kiếm?” Clemente hỏi. “Có thể, nhưng tôi hy vọng là chỉ có một. Thời gian không ủng hộ chúng ta. Cho đến tận lúc này, vị linh mục ân giải đã tính toán mọi việc, để mỗi ngày sẽ có một vụ báo oán. Đầu tiên, chị gái của một trong những nạn nhân của Jeremiah Smith đã tìm thấy hắn trong tình trạng hấp hối tại nhà của hắn và khám phá ra sự thật. Tối tiếp theo Raffaele Altieri đã giết bố của mình, kẻ chủ mưu trong vụ sát hại mẹ anh ta hai mươi năm trước. Hôm qua Pietro Zini đã ám sát Federico Noni, kẻ phạm tội tấn công hàng loạt và trước đó đã sát hại cô em gái Giorgia để bịt miệng cô ấy và sau đó là một cô gái khác bị chôn ở biệt thự Glori. Cậu có để ý thấy trong hai vụ án cuối cùng này, thông điệp mà linh mục ân giải gửi tới những kẻ báo thù đến vào thời gian chuẩn tới mức khó tin không? Ông ta luôn để lại cho chúng ta rất ít thời gian để khám phá và ngăn chặn cơ chế mà ông ta đã khởi động. Tôi không tin lần này lại khác những lần

trước. Vì thế chúng ta phải khẩn trương hành động. Ai đó sẽ cố giết Astor Goyash ngay trong đêm nay.” “Không dễ để tiếp cận ông ta. Cả anh cũng thấy những tên vệ sĩ của ông ta rồi đó, ông ta đi đâu cũng có tùy tùng.” “Dù thế nào tôi cũng cần cậu, Clemente.” “Tôi ư?” Người kia ngạc nhiên thốt lên. “Tôi không thể để mắt đến gia đình của cả hai đứa trẻ bị mất tích, chúng ta cần phân chia nhiệm vụ. Chúng ta sẽ sử dụng hộp thư thoại để liên lạc. Ngay khi một trong hai khám phá ra điều gì, hãy để lại lời nhắn.” “Anh muốn tôi làm gì đây?” “Cậu hãy tìm kiếm gia đình Martini, còn tôi sẽ tiếp cận bố mẹ của Filippo Rocca.” Ettore và Camilla Rocca sống ở biển, vùng Ostia, trong một ngôi biệt thự nhỏ có một tầng duy nhất, hướng ra bãi biển. Đó là một ngôi nhà đáng tự hào, được mua bằng tiền tiết kiệm. Gia đình họ là một gia đình bình thường. Marcus đã nhiều lần tìm cách mở rộng nghĩa cho tính từ đó. Nó có thể là một tập hợp những giấc mơ nhỏ bé và hy vọng được tích tụ theo thời gian, tạo thành một tấm áo giáp chống lại những cay nghiệt có thể có của cuộc đời, nhưng cũng có thể là một dự án hạnh phúc thực sự. Với một số người, khát khao lớn nhất là lặp lại cuộc sống yên bình và không có quá nhiều xáo trộn, lúc nào cũng giống như vậy. Đó là điều kiện của một hiệp ước câm lặng với số phận, được gia hạn mỗi ngày.

Ettore Rocca là đại diện thương mại và thường xuyên vắng nhà. Vợ ông – bà Camilla – là nhân viên bảo trợ xã hội, làm việc tại một văn phòng tư vấn chuyên trợ giúp những gia đình nghèo và thanh niên khó khăn. Bà ấy làm vì người khác, trong khi chính bà cũng có thể được liệt vào số những người cần giúp đỡ. Hai vợ chồng đã chọn sống bên bờ biển vì Ostia yên bình hơn và đỡ đắt đỏ. Hàng ngày họ tới Roma để làm việc, nhưng đó là một sự hy sinh có thể hiểu được. Khi lẻn vào nhà họ, lần đầu tiên Marcus cảm thấy mình là một kẻ đột nhập. Có lưới sắt ở cửa ra vào và cửa sổ, nhưng anh không gặp khó khăn gì khi mở ổ khóa chính, và đóng nó lại khi đã vào được bên trong. Anh thấy mình ở trong một gian bếp mà cũng là một phòng khách. Tông màu chủ đạo là trắng và xanh lam. Không có mấy đồ đạc, tất cả đều theo phong cách hàng hải. Bàn ăn có vẻ được làm từ những tấm ván của một con tàu và trên đó có đặt một chiếc đèn đi biển. Trên tường có treo một bánh lái cũ bên trong có gắn đồng hồ và trên một cái kệ có trưng bày một bộ sưu tập vỏ sò rất đẹp. Cát chui được vào bên trong qua những kẽ hở và lạo xạo dưới đế giày. Marcus đánh bạo đi tìm những dấu hiệu có liên quan đến linh mục ân giải. Đầu tiên, anh nhắm vào tủ lạnh, trên đó anh thấp thoáng thấy một mảnh giấy được gắn bằng một chiếc nam châm hình con cua. Đó là một lời nhắn của Ettore cho vợ. Hẹn gặp em sau mười ngày nữa. Yêu em.

Người đàn ông đi công tác vắng nhà, nhưng đó cũng có thể chỉ là một lời nói dối để làm vợ yên lòng. Có lẽ ông ta đang chuẩn bị đi giết Goyash. Thấy rõ nguy cơ, ông ta đã để vợ ngoài cuộc, để cứu bà. Một tuần để chuẩn bị, giam mình trong một nhà nghỉ nằm ngoài thành phố. Nhưng Marcus không thể đi theo phỏng đoán. Anh cần sự xác nhận. Anh tiếp tục lục soát phòng đầu tiên và càng tiếp tục anh càng cảm thấy thiếu thiếu thứ gì đó. Không thấy có sự đau khổ giữa những đồ vật ấy. Có thể, theo cách ngây ngô, người ta trông chờ rằng sự ra đi của Filippo sẽ gây ra một vết nứt trong cuộc sống của cha mẹ cậu. Như một vết thương, thay vì in dấu lại trên da thịt, nó xuất hiện trên những đồ vật. Và chỉ cần vuốt ve cũng thấy chúng rỉ máu. Thế mà đứa bé mười hai tuổi cũng biến mất khỏi đó. Không có ảnh, cũng chẳng có ký ức về nó. Nhưng có thể nỗi đau lại hiện hữu trong chính sự trống rỗng. Marcus không đủ khả năng để cảm nhận nó, vì chỉ người làm cha, làm mẹ mới có thể nhìn thấy. Rồi anh đã hiểu. Khi quan sát khuôn mặt của Filippo bé nhỏ, cùng với khuôn mặt của những cậu bé khác trên trang web của Cảnh sát quốc gia, anh đã tự hỏi cha mẹ cậu tiếp tục sống như thế nào. Chuyện đó khác so với cái chết của một đứa con. Trong những trường hợp mất tích, cần phải kiểm soát mối nghi ngờ. Nó có thể len lỏi khắp nơi, phá hủy mọi thứ từ bên trong mà không ai để ý. Nó sẽ ngốn từng ngày, từng giờ. Và năm tháng qua đi mà không có lời giải đáp. Marcus đã nghĩ rằng so với việc đó thì biết con mình đã chết còn tốt hơn.

Cái chết đeo bám những kỷ niệm, kể cả những kỷ niệm tốt đẹp nhất, và nó gieo rắc chúng cùng với nỗi đau, làm cho ký ức không thể chịu đựng nổi. Cái chết trở thành bá chủ của quá khứ. Nghi ngờ còn tồi tệ hơn, vì nó đeo bám tương lai. Anh bước vào phòng của Ettore và Camilla. Trên mỗi chiếc gối của giường đôi có đặt một bộ pijama. Chăn không nếp gấp, dép đi trong nhà sóng đôi. Mỗi đồ vật đều ở đúng vị trí của nó. Cứ như là người ta có thể dùng sự ngăn nắp để chữa trị cơn điên loạn của nỗi đau, hay tình trạng hỗn độn do thảm kịch gây ra. Bằng cách thuần hóa mọi thứ ở xung quanh chúng ta. Bằng cách huấn luyện mọi vật tuân theo trò khôi hài của trạng thái bình thường, để chúng nhắc đi nhắc lại thông tin mang tính an ủi là mọi chuyện vẫn ổn. Và trong bức họa đồng quê đó, cuối cùng anh cũng thấy Filippo. Cậu bé mỉm cười trong một khung ảnh, cùng với bố mẹ. Cậu đã không bị lãng quên. Nhưng cả cậu cũng có chỗ riêng của mình: trên một cái tủ ngăn kéo, dưới một chiếc gương. Marcus đang định ra khỏi phòng thì mắt anh sượt qua một vật và anh chợt hiểu rằng mình đã lầm. Trên tủ đầu giường ở phía Camilla nằm có một thiết bị giám sát trẻ nhỏ. Chỉ có một lý do duy nhất để giải thích cho sự hiện diện của đồ vật đó. Nó được dùng để kiểm tra giấc ngủ của em bé.

Bất ngờ trước phát hiện này, Marcus bước về phía căn phòng bên cạnh. Cửa phòng đang đóng. Mở cửa ra, anh mới thấy trong căn phòng trước đây là phòng ngủ của Filippo, gần giường của cậu bé giờ có một chiếc cũi. Không gian được chia đều nhau. Có những tấm poster đội bóng yêu thích, bàn học, nhưng có cả một cái tủ mini, một cái ghế ăn dặm và một núi đồ chơi cho trẻ nhỏ. Và một chiếc hộp nhạc với những con ong bé xíu kết thành một vòng quay. Filippo vẫn chưa biết điều đó, nhưng cậu bé có một cậu em trai hay em gái. Cuộc sống là phương thuốc cho nỗi đau, Marcus tự nhủ. Và anh đã hiểu vợ chồng Rocca làm thế nào để tìm ra lý do tiếp tục tin vào tương lai, lôi nó ra khỏi màn sương mù của sự hoài nghi. Dẫu thế, anh vẫn thấy chưa thuyết phục. Chẳng lẽ gia đình đó lại mạo hiểm nỗ lực tìm lại cuộc sống yên bình để thực hiện việc trả thù hay sao? Họ sẽ phản ứng thế nào trước cái tin đứa con đầu của họ đã chết? Hãy nhớ rằng Filippo vẫn có thể là nạn nhân của Canestrari, anh tự nhắc nhở mình. Khi đang định rời khỏi nhà với chủ ý nghe lén Camilla Rocca tại văn phòng tư vấn nơi bà ta làm việc và theo dõi bà ta cho đến hết ngày, anh bỗng nghe thấy tiếng rung chuyển của một động cơ. Anh vén rèm cửa sổ và nhìn thấy một chiếc xe hơi gia đình vừa mới đỗ trong con hẻm. Trên xe là bà nhân viên bảo trợ xã hội. Bị bất ngờ và không thể thoát ra ngoài, anh điên cuồng đi tìm chỗ trú ẩn. Anh tìm thấy một căn phòng được dùng làm nơi

là quần áo và cũng là nhà kho. Anh trốn ở góc sau cánh cửa và chờ đợi. Anh nghe thấy tiếng khóa đang vặn. Rồi Camilla bước vào và đóng cửa. Tiếng chùm chìa khóa được đặt trên kệ. Tiếng giày cao gót lóc cóc trên sàn. Người phụ nữ cởi giày và thả từng chiếc một xuống. Marcus thấy bà ta thấp thoáng sau khe cửa. Bà ta bước trên chân trần và mang theo một vài cái túi giấy. Bà ta đã đi mua sắm và trở về nhà sớm hơn dự kiến. Nhưng cậu con trai, hay con gái, không đi cùng. Bà ta bước vào phòng giặt là để treo một bộ váy mới lên mắc áo. Bà ta làm việc đó mà không hề quay mặt lại. Khoảng cách giữa họ chỉ là một màng chắn cửa, một lớp gỗ rất mỏng. Nếu người phụ nữ di chuyển nó, bà ta sẽ thấy anh trước mặt. Nhưng bà ta không làm vậy. Bà ta đi thẳng về phòng tắm và đóng cửa lại. Marcus nghe thấy tiếng nước vòi hoa sen xối xả và ra khỏi chỗ ẩn nấp của mình. Anh đi ngang qua cánh cửa đóng kín và trở lại. Bằng cách nào đó, trong ngôi nhà cuộc sống đã quay trở lại. Thay vì phấn khởi, ý nghĩ đó lại làm anh bồn chồn. Anh thấy hoảng sợ và hoang mang. “Clemente, ” anh lẩm bẩm, chợt vỡ lẽ có khi gia đình mà họ đang tìm kiếm lại vô tình do cậu bạn anh phụ trách. Tranh thủ lúc Camilla Rocca còn đang tắm, anh rút điện thoại treo trên tường nhà bếp và quay số hộp thư thoại. Có một tin nhắn của Clemente. Giọng nói hoảng hốt. “Anh phải tới đây ngay. Bố của Alice Martini đang lên xe với đống hành lý và tôi e là ông ta sẽ sớm rời khỏi thành phố. Còn

một chuyện nữa. Ông ta đang sở hữu một khẩu súng bất hợp pháp.”

C 17 giờ 14 phút ô đã không nói gì với đồng nghiệp về mối nguy hiểm cô phải đương đầu trong đường hầm dưới nhà của Lara. Cô cũng không hé lộ với thanh tra Camusso. Điều này không liên quan gì đến cô gái, cô tự nhủ. Nó chỉ liên quan tới mình và David. Hơn thế, cô cũng không sợ nữa. Cô đã hiểu rằng kẻ theo dõi cô có một lý do khác, hắn không muốn giết cố. Chí ít là vẫn chưa. Trong cái đường hầm ấy hắn có thể làm việc đó trước khi cô gọi điện thoại. Hắn không bỏ lỡ cơ hội một cách đơn giản thế, chỉ là hắn cố tình kiềm chế. Hắn đang kiểm soát cô. Nhưng Camusso nhận ra cô có chuyện không ổn. Ông ta thấy Sandra bị kích động và cô đổ lỗi cho mệt và đói. Thế là ông thanh tra đỏm dáng đã mời cô tới quán Francesco, một quán ăn đồ truyền thống của Roma ở quảng trường Fico. Họ đã ăn một cái bánh pizza vào lúc giữa trưa, tận hưởng những mùi hương và âm thanh của khu phố, tại một cái bàn nhỏ ngoài trời. Xung quanh họ, Roma với những con đường đá, các tòa nhà với mặt tiền gồ ghề, thường xuân leo trơ trẽn trên những ban công. Ngay sau đó, họ quay trở lại Sở Cảnh sát. Camusso làm hướng dẫn viên, chỉ cho cô tòa nhà đẹp đẽ mà ông ta có vinh dự được làm trong đó. Sandra tránh không nói cho ông ta rằng

mình biết chỗ ấy vì cô đã lừa một anh đồng nghiệp để tra cứu trong kho dữ liệu. Họ dừng chân ở văn phòng của ông thanh tra. Cả ở đó cũng có những mái vòm tranh tường cao vút, nhưng phần trang trí không phản ánh cái gu kỳ quặc của người đàn ông. Rất đúng mực và tối giản, khác với Camusso đang di chuyển khắp căn phòng như một mảng màu. Trong lúc ông ta đang treo áo vest màu tím vào chiếc ghế tựa phía sau bàn làm việc, Sandra nhận ra ở cổ tay ông ta có đeo một đôi khuy măng-sét bằng đá màu ngọc lam và cô phì cười. “Cô có chắc là Lara đang có bầu không?” Họ đã nói về chủ đề này ở quán ăn. Camusso không chịu bằng lòng với ý tưởng rằng phụ nữ có giác quan thứ sáu trong một số việc, ngay cả khi cô có những bằng chứng tuyệt vời để hỗ trợ cho giả thuyết của mình. “Tại sao ông lại nghi ngờ?” Camusso nhún vai. “Chúng tôi đã nói chuyện với bạn bè và bạn học của cô ta ở trường. Chẳng ai nhắc tới sự tồn tại của một anh người yêu hay bạn trai tạm thời. Qua điều tra về liên lạc điện thoại và hòm thư điện tử của cô ấy, chúng tôi không thấy cô ấy có mối quan hệ nào.” “Không cần thiết phải có một mối quan hệ để mang bầu.” Cô nói điều đó cứ như thể nó là một việc hiển nhiên nhất trên thế giới. Ngay cả khi cô hiểu những do dự của ông thanh tra: Lara không có vẻ là một cô gái của các mối quan hệ qua đường. “Tôi băn khoăn một việc liên quan đến Jeremiah Smith. Ngoại trừ lần cuối cùng này, trong những vụ trước đây hắn ta

đã dụ dỗ những con mồi vào ban ngày ban mặt, thuyết phục họ uống với hắn. Một gã như vậy thì làm thế nào để hấp dẫn những cô gái đó?” “Tôi đã theo vụ giết người hàng loạt này sáu năm nay nhưng vẫn chưa lý giải nổi. Dù hắn có dùng mánh khóe nào đi chăng nữa thì nó cũng rất có hiệu quả, ” Camusso lắc đầu và nhìn xuống nói. “Lần nào cũng câu chuyện đó: Một cô gái biến mất. Chúng tôi đã huy động mọi nguồn lực để tìm kiếm vì biết rằng chỉ có đúng một tháng. Ba mươi ngày chúng tôi diễn kịch với gia đình, báo chí và công luận. Vẫn những câu nói đó, vẫn những lời dối trá đó. Rồi thời hạn chấm dứt và chúng tôi tìm thấy một cái xác.” Ông ngừng lại một lúc lâu. “Khi tối hôm trước tôi hiểu rằng kẻ nằm bất tỉnh trong bệnh viện là tên thủ phạm, tôi đã thở phào nhẹ nhõm. Tôi thấy hạnh phúc. Cô có hiểu nó có nghĩa là gì không?” “Tôi vui mừng vì một sinh linh khác đang hấp hối. Tôi đã tự nhủ: Chúa ơi, chuyện gì đang xảy ra với mình vậy? Điều mà người đàn ông này gây ra cho chúng ta thật là kinh khủng. Hắn đã làm chúng ta trở thành người như hắn. Vì chỉ những con quái vật mới có thể hân hoan với cái chết. Tôi cố thuyết phục mình rằng, xét cho cùng, nếu hắn chết những cô gái khác sẽ được cứu sống. Việc đó sẽ cứu nhiều mạng sống. Thế còn cuộc sống của chúng ta? Ai sẽ cứu rỗi vì niềm vui mà chúng ta có?” . “Ông muốn nói với tôi rằng khi các ông phát hiện ra hắn đã bắt cóc một cô gái khác, các ông thấy đó như một sự an ủi?”

“Dĩ nhiên, nếu Lara vẫn còn sống.” Camusso mỉm cười cay đắng. “Ngay cả điều này cũng khá quái đản, cô không thấy sao?” “Tôi tin là như vậy.” Sandra đồng tình. “Làm thế nào mà sự sống của cô ấy lại phụ thuộc vào việc Jeremiah Smith tỉnh lại.” “Gã đàn ông đó có thể phải sống thực vật trong quãng đời còn lại” “Bác sĩ nói sao?” “Lạ là họ không hiểu mấy. Lúc đầu họ nghĩ tới một cơn đột quỵ, nhưng sau khi có những xét nghiệm chính xác, họ đã loại trừ khả năng đó. Họ đang tìm hiểu một tổn thương về não bộ, nhưng vẫn chưa tìm ra.” “Có thể do tác dụng của tác nhân gây độc, một chất độc chẳng hạn.” Camusso buộc phải thú nhận: “Họ đang phân tích máu để tìm ra chất đó.” “Nhưng nếu đúng như vậy, chứng tỏ có kẻ nào khác đã nhúng tay vào. Ai đó đã tìm cách sát hại hắn.” “Hoặc để hắn bị chị gái của một trong những nạn nhân của hắn sát hại.” Sandra liên hệ thông tin đó với vụ Figaro. Có một sự trùng hợp giữa cách mà Federico Noni bị giết với việc xảy ra cho Jeremiah Smith. Chúng có vẻ như những cuộc hành quyết. Cả hai đều bị trừng phạt bởi tội ác của mình. Hoặc bởi tội lỗi của mình, cô tự nhủ. “Đợi đã, tôi muốn cho cô xem một vật.”

Sandra vẫn đang trầm ngâm và cô không hiểu ông thanh tra nói tới thứ gì. Camusso đi ra để lấy một chiếc máy tính xách tay từ trong một cái túi. Ông bật nó lên và đặt nó trước mặt cô. “Một tuần trước vụ mất tích, trong khoa kiến trúc người ta có tổ chức một bữa tiệc tốt nghiệp nhỏ. Ông bố của một tân cử nhân đã quay lại tất cả bằng một cái camera.” Ông bật đoạn video. “Đây là những hình ảnh cuối cùng của Lara trước khi biến mất vào hư không.” Sandra rướn người về phía màn hình. Khuôn hình chao đảo. Có những giọng nói và ai đó đang cười. Chiếc máy quay hướng vào một phòng học. Có khoảng ba mươi khách mời và một vài người trong số họ mặc những phụ kiện tiệc tùng nực cười. Họ trò chuyện với nhau, chia thành những nhóm nhỏ. Trên bàn giáo viên có bày đồ uống và rất nhiều người đang cầm cốc. Có một cái bánh ngọt nhưng chỉ còn lại một nửa. Người quay phim đi quanh những vị khách và mời họ nói đôi điều trước ống kính. Người thì chào, người thì làm cử chỉ hài hước. Camera dừng lại ở chỗ một cậu thanh niên đang mạo hiểm trong một bài độc thoại châm biếm về những nỗi khổ cực ở trường đại học. Xung quanh anh ta, bạn bè cười vang. Sau lưng anh ta, ở phần nền, có một cô gái xem chừng có vẻ lạc lõng tại bữa tiệc. Cô ta đang tựa vào một chiếc bàn, khoanh tay và mắt nhìn vào vô định. Niềm vui không truyền được sang cô. “Là cô ấy, ” ông thanh tra nói, như cần phải vậy.

Sandra quan sát cô ta rất kỹ. Cô ấy đung đưa gót chân và cắn môi, dáng điệu của một người đang rối lòng. “Không lạ lắm sao? Nó làm tôi nhớ tới lúc các phương tiện truyền thông đăng tải hình ảnh nạn nhân của một tội ác. Họ luôn bị quay lại từ một vài sự kiện chẳng có liên quan gì đến chuyện, xảy ra với họ. Một đám cưới, một chuyến đi, một buổi sinh nhật. Có khi họ cũng chẳng thích những tấm hình này đâu. Chắc chắn khi tạo dáng, họ không nghĩ một ngày nào đó hình ảnh này sẽ được công bố trên báo chí hay truyền hình.” Những người chết mỉm cười trong những tấm ảnh của quá khứ. Sandra biết rõ cảm giác khi đối diện với một niềm vui lạc điệu. “Có lẽ trong cả quãng đời của mình, họ chưa bao giờ mảy may có ý định trở thành người nổi tiếng. Tự dưng họ chết và mọi người biết tất cả về họ. Kỳ quặc phải không?” Trong lúc Camusso miên man trong những suy tưởng đó, Sandra để ý thấy một thay đổi nhỏ trên nét mặt của Lara. Bản năng của một cảnh sát chụp ảnh hiện trường đã phát hiện ra một chi tiết. “Ông làm ơn tua lại đi.” Ông thanh tra nhìn cô và làm theo mà không thắc mắc. “Giờ ông cho chậm lại.” Sandra rình rập, chờ đợi điều kỳ diệu diễn ra thêm lần nữa. Trên môi Lara xuất hiện một từ. “Cô ta nói điều gì đó, ” Camusso ngạc nhiên nói. “Phải, cô ta nói, ” Sandra xác nhận.

“Thế cô ta nói gì vậy?” “Ông cho tôi xem lại đi.” Ông thanh tra tua lại đoạn phim nhiều lần, trong khi đó Sandra cố tìm hiểu từng chữ. "Cô ta nói: Tên khốn nạn." Camusso nhìn cô phân vân. “Cô chắc chứ?” Sandra quay về phía ông. “Tôi chắc là như vậy.” “Thế cô ta giận ai đây?.” “Chắc chắn là một gã đàn ông rồi. Ông mở tiếp đi và chúng ta sẽ biết đó là ai.” Ông thanh tra cho chạy tiếp đoạn phim. Người quay khá lộn xộn, không để họ có đủ thời gian tập trung vào bất cứ ai trong số khách mời. Cho đến khi khuôn hình lia sang bên phải. Sandra có cảm giác nó đi theo ánh nhìn của Lara. Không phải nó vô định, đúng như cô vừa nghĩ lúc trước. Cô ta đang quan sát ai đó. “Ông có thể tạm dừng một lát được không?” Cô vừa hỏi ông thanh tra vừa chỉ vào màn hình. Camusso làm theo. “Gì vậy?” Sandra đã nhìn ra một người đàn ông tầm bốn mươi tuổi đang mỉm cười và được vây quanh bởi một nhóm sinh viên nữ. Ông ta mặc một áo sơ mi xanh da trời và cà vạt nới lỏng. Một dáng vẻ ngạo mạn, tóc hạt dẻ, mắt sáng màu: một tuýp đàn ông hấp dẫn. Tay ông ta đang đặt trên lưng của một trong số những cô gái. “Đây chính là tên khốn nạn?” Ông thanh tra hỏi.

“Trên mặt hắn hiện rõ điều đó.” “Vậy cô nghĩ rằng hắn ta chính là bố đứa bé?” Sandra nhìn thẳng vào mắt của Camusso. “Có những thứ không thể chắc chắn qua một đoạn video.” Ông thanh tra nhận ra mình nói hớ và tìm cách chữa lại bằng một lời bình phẩm. “Tôi tin rằng giác quan thứ sáu của phụ nữ đã mách bảo cô điều gì đó.” “Tôi không tin, ” cô giả bộ không vui. “Nhưng có lẽ hỏi thăm ông ta sẽ có ích.” “Đợi chút, tôi sẽ cho cô biết ông ta là ai.” Camusso đi một vòng quanh bàn làm việc và kiểm tra thứ gì đó trong một tập hồ sơ. “Chúng tôi ghi lại thông tin của những người có mặt trong bữa tiệc phòng khi cần.” Sandra ngạc nhiên bởi hiệu quả công việc của những người đồng nghiệp ở Roma. Sau khi kiểm tra danh sách, ông thanh tra thông báo: “Christian Lorieri, trợ giảng của môn Lịch sử Nghệ thuật.” “Các ông nói chuyện với ông ta chưa?” “Ông ta không có liên lạc với Lara và chẳng có lý do hợp lệ cũng như yêu cầu điều tra nào để thẩm vấn ông ta.” Camusso đoán ra điều cô suy nghĩ. “Ngay cả khi ông ta có là bố của đứa trẻ trong bụng cô ấy và ông ta biết điều đó, tôi không nghĩ rằng ông ta sẵn sàng nói chuyện với chúng ta. Ông ta đã kết hôn.” Sandra suy nghĩ một chút về điều đó. “Đôi khi phải kích thích các phản ứng” , cô phán một cách tinh ranh.

Camusso có vẻ tò mò: “Cô định làm gì?” “Tôi phải in ảnh ra trước đã.” Ở những dãy hành lang của khoa kiến trúc, sinh viên nườm nượp qua lại. Sandra luôn thấy lạ rằng sinh viên đại học ngày càng bộc lộ những điểm chung với chuyên ngành mà mình theo học. Cứ như thể họ đáp ứng một loại mã di truyền dùng để nhận dạng nhóm của họ và khiến tất cả mang những đặc điểm trở nên tương đồng. Ví dụ, sinh viên học ngành luật thường vô kỷ luật và có tính cạnh tranh cao. Những người học ngành y thì rất nghiêm khắc và thiếu tính hài hước. Triết học thì toàn người u sầu và mặc trang phục quá khổ. Trong khi đó, sinh viên kiến trúc lại đầu bù tóc rối và đầu óc trên mây trên gió. Cô nhờ một người chỉ dẫn đường tới văn phòng của Christian Lorieri. Ở Sở Cảnh sát, cô đã in những tấm ảnh được lưu giữ trong bộ nhớ của điện thoại di động. Có những bức hình được chụp tại biệt thự của Jeremiah Smith, cả những tấm ảnh trong chiếc Leica của David, may mà cô đã lưu lại một bản trong phòng tắm của nhà khách. Có cả những tấm hình trong căn hộ của Lara và trên hết là ảnh tại nhà thờ Thánh Raimondo di Peñafort. Cô đã định xóa chúng đi vì nghĩ là không còn cần nữa. Thế mà giờ chúng lại có ích. Cửa văn phòng người trợ giảng môn Lịch sử Nghệ thuật đang mở. Lorieri ngồi vắt chân lên bàn làm việc, chăm chú đọc một tờ tạp chí. Ông ta khá đẹp trai, giống như hình ảnh trong đoạn bằng. Kiểu đàn ông bốn mươi tuổi cổ điển, tóc tai bù xù,

làm các cô sinh viên phát cuồng. Bản chất tính cách của ông ta được định hình bằng đôi giày All-Star đang đi. Nó thể hiện một thông điệp cách mạng mang tính hòa bình. Sandra mỉm cười, gõ cửa. Viên trợ giảng nhướng mắt khỏi tờ tạp chí. “Kỳ thi đã được hoãn tới tuần sau.” Cô bước vào mà không cần được mời, đồng minh là bầu không khí thoải mái ngự trị trong căn phòng. “Tôi đến đây không phải để thi vấn đáp.” “Nếu muốn trao đổi, cô phải quay lại vào những ngày lẻ.” “Tôi không phải là sinh viên, ” cô đính chính thêm. Rồi cô rút thẻ ngành: “Tôi là Sandra Vega, cảnh sát quốc gia.” Lorieri có vẻ ngạc nhiên và không định đưa tay ra bắt. Để tỏ vẻ lịch sự, ông ta chỉ dừng ở việc rút chân ra khỏi bàn. "Trong trường hợp thế này người ta phải nói: Tôi có thể giúp gì cho cô, sĩ quan?" Ông ta mỉm cười, cố gắng lấy lòng cô. Sandra ghét sự hấp dẫn của ông ta. Nó làm cô nhớ lại Shalber và người trợ giảng đáng thương không thể hình dung ra điều này gây bất lợi thế nào cho ông ta. “Tôi đang theo một vụ án và tôi cần sự tư vấn của một nhà nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật. Họ đã giới thiệu ông cho tôi.” Christian Lorieri chống hai khuỷu tay xuống bàn, ngạc nhiên. “Khỉ thật. Đó là vụ gì vậy? Liệu tôi đã từng đọc nó trên báo chưa nhỉ?” “Là thông tin mật, ” Sandra nháy mắt.

“À, tôi hiểu rồi, ” ông ta đồng tình. “Tôi sẵn sàng đây.” Ông ta lại mỉm cười với cô. Nếu ông ta còn làm như thế nữa, mình sẽ gí súng vào mặt, Sandra nghĩ. “Ông có thể xem qua những tấm hình này để xem liệu ông có nhận ra những địa điểm đó.” Cô đưa ra những tấm hình nhà thờ Thánh Raimondo di Peñafort. “Chúng tôi đã tìm thấy chúng trong túi của một kẻ tình nghi, nhưng chúng tôi không hiểu chúng được chụp ở đâu.” Lorieri đeo kính và bắt đầu kiểm tra những tấm hình. Ông ta nhặt từng tấm và giơ lên trước mặt. “Có những công trình tưởng niệm nên tôi chắc chắn đó là một gian thờ. Có khả năng nó ở trong một nhà thờ.” Sandra quan sát ông ta, chờ đợi cơ hội và phản ứng của ông ta. “Có nhiều phong cách khác nhau, thật khó để xác định xem chúng ta đang ở đâu.” Ông ta đã xem được hơn chục tấm hình trước khi tới tấm đầu tiên về căn hộ của Lara. “Có một tấm ảnh không liên quan gì tới…” Ông ta chợt khựng lại. Khi ông ta nhìn thấy tấm thứ hai và thứ ba, nụ cười tắt ngấm. “Cô muốn gì ở tôi?” Ông ta nói điều đó mà không có dũng khí để nhìn thẳng vào mắt cô. “Ông đã từng ở trong ngôi nhà đó rồi, phải không?” Người đàn ông bỏ đống ảnh xuống và khoanh hai tay, chuẩn bị phòng thủ. “Mỗi một lần. Có thể là hai.”

“Cứ cho là ba đi và chúng ta sẽ không tính thêm nữa. Ông thấy ổn chứ?” Sandra khiêu khích ông ta. Lorieri gật đầu. “Ông cũng có ở đó vào buổi tối mà Lara mất tích chứ?” “Không, tối hôm đó thì không, ” ông ta một mực đính chính. “Tôi đã cắt đứt với cô ấy hai tuần trước đó.” “Cắt đứt?” Sandra kinh hãi nhấn mạnh lại. “Ý tôi là… Nói chung, cô biết tôi muốn nói gì mà. Tôi đã có vợ.” “Ông đang muốn nhắc nhở cho tôi biết hay cho chính ông?” Người trợ giảng đứng dậy, lại gần tấm mành che cửa sổ. Ông ta căng thẳng đưa một tay lên xoa đầu, tay kia đặt bên sườn. “Khi tôi biết cô ấy bị mất tích, tôi đã muốn tới chỗ cảnh sát. Nhưng sau đó tôi nghĩ tới tất cả những nghi vấn họ sẽ đặt ra cho tôi và cho vợ tôi, cho hiệu trưởng, cho trường, và tôi sẽ không thể giấu kín chuyện đó. Sẽ là một thảm kịch cho sự nghiệp của tôi và cho gia đình của tôi. Tôi đã nghĩ đó chỉ là một cơn đồng bóng của Lara, một cách để thu hút sự chú ý của tôi, và rằng cuối cùng cô ấy cũng sẽ trở về nhà.” “Ông có bao giờ nghĩ rằng cô ấy thực hiện một hành động thiếu suy nghĩ vì đã bị ông từ chối?” Lorieri quay lưng lại phía cô. “Dĩ nhiên rồi, ” ông ta thú nhận. “Đã gần một tháng trôi qua và ông không nói gì hết.” Chậm rãi nhả từng từ một, Sandra cố làm phơi bày tất cả sự khó chịu của ông ta.

Người trợ giảng bị dồn ép. “Tôi đã sẵn lòng giúp cô ấy.” “Để phá thai?” Lorieri hiểu mình đang gặp rắc rối. “Tôi còn có thể làm được gì đây? Không gì khác ngoài một cuộc phiêu lưu và Lara biết điều đó. Chúng tôi chưa bao giờ đi chơi cùng nhau, không nói chuyện điện thoại và tôi không có cả số của cô ấy.” “Việc ông không nói gì, cộng với sự mất tích của cô gái khiến ông sẽ bị tình nghi giết người.” “Giết người ư? Tại sao chứ?” Ông ta hóa điên. “Các vị đã tìm thấy xác chết ư?” “Không cần tới việc đó. Có tồn tại một động cơ. Đôi khi chỉ cần nó để đưa ai đó ra tòa.” “Khốn kiếp, tôi không giết ai cả.” Ông ta sắp bật khóc. Thật lạ lùng, Sandra lại thấy thương cảm cho ông ta. Trước đây, cô hẳn sẽ thực thi nguyên tắc của một cảnh sát giỏi: Không bao giờ tin vào bất cứ ai. Nhưng cô biết rằng người trợ giảng nói sự thật. Chính Jeremiah Smith đã bắt cóc Lara, kế hoạch đưa cô ấy ra khỏi căn hộ quá phức tạp. Nếu Lorieri muốn giết cô ấy, ông ta chỉ cần dụ cô ấy tới một nơi hẻo lánh, Lara sẽ đi theo. Và kể cả ông ta sát hại cô ấy trong một cơn thịnh nộ thì sự việc cũng phải xảy ra sau một trận cãi cọ ở nhà cô ấy và chắc chắn sẽ để lại những dấu vết của vụ giết người. Cái chết hiện hữu trong những chi tiết, cô nhớ lại. Và chẳng có điều gì làm người ta nghĩ rằng Lara đã chết. “Giờ ông hãy bình tĩnh và làm ơn ngồi xuống đã.”

Người đàn ông nhìn Sandra bằng cặp mắt long lanh nước và đỏ ngầu. “Thôi được, tôi sẽ bình tĩnh.” Ông bắt đầu ngồi xuống, sụt sịt mũi. Sandra có một lý do hoàn hảo để thông cảm cho kẻ ngoại tình đó và sự hèn nhát của ông ta. Mình không khác ông ta. Cả mình cũng đã phản bội, cô tự nhủ. Và cô nhớ lại cái cà vạt màu xanh da thằn lằn. Nhưng cô không muốn chia sẻ câu chuyện đó với Lorieri. Thế là cô nói với ông ta: “Lara không muốn đặt ông vào sự đã rồi. Cô ấy đã nói với ông rằng mình có bầu để cho ông một cơ hội. Nếu cô ấy còn sống và trở về, hãy nghe cô ấy.” Người đàn ông không còn sức để thốt nên lời. Sandra thì thu lại thật nhanh những tấm ảnh trên bàn làm việc vì cô muốn ra khỏi chỗ đó. Trong lúc nhét chúng vào túi cùng với những tấm khác, cô đã sơ ý làm rơi chúng. Chúng vương vãi trên sàn nhà và người trợ giảng cúi xuống để nhặt cùng cô. “Cứ để đó, tôi sẽ giúp cô.” “Tôi tự làm được, ông khỏi lo.” Sandra cố nhặt lại thật nhanh. Cô để ý thấy trong những tấm hình có cả bức chụp vị linh mục với vết sẹo trên thái dương. “Linh mục ân giải.” Cô quay lại phía Lorieri, cố hiểu xem mình có nghe đúng không. “Ông biết người đàn ông đó?” cô vừa hỏi vừa chỉ vào anh ta.

“Thực sự tôi không biết đó là ai… Tôi muốn nói tới người kia.” Ông ta nhặt lên một tấm ảnh và đưa cho cô. “Thánh Raimondo di Peñafort. Cô muốn biết điều gì về gian thờ đó hay nó chỉ là một cái cớ?” Sandra nhìn tấm ảnh. Cô đã chụp bức tranh trang trí xuất hiện trên bệ thờ, khắc họa hình ảnh người thầy tu dòng Thánh Đa Minh. “Ông làm ơn giải thích giùm tôi.” “Nói chung, không có gì nhiều để nói. Bức họa được thực hiện vào thế kỷ thứ mười bảy, nó nằm ở Vương cung thánh đường Thánh Maria sopra Minerva.” “Không, thực sự tôi muốn nói tới vị thánh.” Lorieri đứng dậy để đi về phía tủ sách. Ông ta xem xét các cuốn sách và với động tác dứt khoát, ông ta rút ra một quyển từ một cái kệ. Ông ta giở các trang sách rồi đưa cho Sandra xem một bản sao của bức họa, sau đó đọc lời minh họa: “Tòa Ân Giải Tối Cao là một bộ trực thuộc Tòa thánh phụ trách những tội lỗi và Thánh Raimondo là một trong những thành viên uy quyền nhất của họ. Vào thế kỷ thứ mười ba, ông được giao trọng trách soạn thảo một văn bản phân tích những trường hợp nhận thức để tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của những cha xứ giải tội, vì thế ông đã viết quyển Tóm lược các trường hợp sám hối. Cuốn sách cung cấp những tiêu chí đánh giá rõ rệt và mỗi tội lỗi lại có một sự sám hối nhất định tương ứng.” Sandra tự trách mình vì đã không tìm hiểu trước thông tin về gian thờ. Ai đó, khi nhét tấm ảnh thánh với chữ Fred dưới

cánh cửa phòng khách sạn của cô, không chỉ đơn giản muốn dụ cô vào một cái bẫy. Địa điểm đó có một ý nghĩa. Cho dù không mấy hào hứng với ý tưởng quay trở lại nơi có kẻ đã suýt bắn chết mình, cô phải khám phá ra ý nghĩa đó là gì.

T 18 giờ 22 phút ài năng của Clemente là tìm kiếm thông tin. Trong những ngày vừa qua, Marcus đã chứng kiến khả năng của cậu ta. Anh nghĩ cậu ta lấy thông tin từ kho dữ liệu, nhưng đó không phải là nguồn duy nhất. Phía trên cậu ta hẳn phải là một mạng lưới bí mật thu thập và nghe lén thông tin. Trong lịch sử, Giáo hội luôn có khả năng trà trộn vào những tổ chức không theo đạo hoặc những hội nhóm có tổ chức có thể đe dọa họ. Đó là một dạng tự phòng vệ. Như Clemente vẫn thường nhắc đi nhắc lại, Vatican rất điềm tĩnh và luôn cảnh giác. Nhưng lần này bạn anh đã vượt qua chính mình. Họ đang ở trong phòng chơi Bingo, từ đó qua những ô cửa kính họ có thể theo dõi lối vào tòa nhà nơi gia đình Martini sinh sống. Căn phòng rất đông người chơi, ai nấy đều tập trung vào trận đấu của riêng mình. “Bố của Alice đã chất lên xe hai vali rất lớn.” Clemente chỉ chiếc Fiat Multipla đang đỗ ở phía bên kia đường.“Ông ta rất bồn chồn. Ông ta đã xin nghi nột tuần và rút một khoản tiền khá lớn từ ngân hàng.” “Cậu cho rằng ông ta đang chuẩn bị chạy trốn?”

“Dĩ nhiên đó là một hành động đáng nghi, anh không thấy sao?” “Còn khẩu súng? Sao cậu biết ông ta sở hữu một khẩu?” “Năm ngoái ông ta đã bắn một người đàn ông đang tìm cách dụ dỗ những đứa trẻ trong một khu vui chơi. Ông ta không giết được hắn vì cảnh sát đã kịp thời can thiệp. Ông ta chạy trốn, nhưng chẳng ai trong số những người chứng kiến vụ bắn súng muốn làm chứng chống lại ông ta và họ cũng không thể kết tội ông ta vì khi lục soát ngôi nhà của ông ta họ không tài nào tìm thấy khẩu súng. Không cần phải nói với anh là ông ta không có giấy phép sử dụng súng và vì vậy chứng tỏ ông ta có được nó một cách bất hợp pháp.” Tên ông ta là Bruno Martini. Và Marcus nhớ rằng con gái ông ta đã bị bắt cóc chính ở một công viên. “Một kẻ báo thù.” Anh lắc đầu. “Khỉ thật, chính ông ta là kẻ họ cần.” “Sau chuyện xảy ra, bà vợ đã bỏ mặc ông ta và dắt theo cậu con trai còn lại. Người đàn ông chưa bao giờ hết bận tâm về vụ mất tích của Alice. Từ ba năm nay ông ta tiến hành một cuộc điều tra mang danh nghĩa cá nhân, thường xuyên đối đầu với lực lượng trị an. Ban ngày, ông ta làm nghề tài xế xe buýt, ban đêm thì đi tìm con gái. Ông ta lùng sục những nơi bọn ấu dâm thường lui tới, những ổ mại dâm bất hợp pháp, tin chắc rằng sẽ tìm được con gái.” “Tôi tin là ông ta chỉ mong chờ tìm được một lời giải đáp có thể làm mình yên lòng đôi chút.” Marcus so sánh hoàn cảnh của ông ta với hoàn cảnh của vợ chồng Rocca. Cha mẹ của

Filippo không đầu hàng trước bóng tối, họ không mở toang cửa cho phép nó xâm chiếm cuộc sống của họ. Họ không chuyển cái ác họ nhận được thành cái ác để gieo rắc. “Bruno Martini sẽ bị giết.” Clemente đồng tình với anh. Astor Goyash thực sự không thể tiếp cận được. Những tay vệ sĩ của hắn sẽ nổ súng trước khi người đàn ông kịp bắn. Ý tưởng chuẩn bị tháo chạy ngay sau đó của ông ta chỉ đơn thuần là một ảo tưởng. Trong khi họ đợi Martini ra khỏi nhà, Clemente cập nhật cho Marcus về những tin tức khác trong ngày. “Cảnh sát đã bắt đầu tìm kiếm Lara.” Anh không tin nổi. “Từ bao giờ vậy?” “Họ đã kết nối vụ mất tích với những vụ án của Jeremiah Smith. Công lao thuộc về một cô cảnh sát ở Milan hiện đang cộng tác với họ.” Marcus hiểu đó chính là người phụ nữ anh đã cùng thương lượng và không bình luận gì. Nhưng tin đó làm anh phấn chấn. “Còn nữa. Các bác sĩ đã loại trừ khả năng Jeremiah Smith bị đột quỵ. Họ nghĩ rằng hắn bị đầu độc và đang tiến hành xét nghiệm độc tố. Vậy nên anh đã có lý.” “Và tôi cũng biết đó là chất độc gì, ” Marcus bổ sung. “Succinylcholine. Nó làm cơ bắp tê liệt và tạo hiệu quả như một ca bệnh tim. Ngoài ra nó không để lại tàn dư trong máu.” Anh để lộ một vẻ mặt hài lòng. “Tôi nghĩ rằng vị linh mục ân giải bí

ẩn của chúng ta lấy cảm hứng từ vụ tự sát của ông bác sĩ phẫu thuật Canestrari.” Clemente tỏ vẻ ngưỡng mộ, người học trò của cậu đã xuất sắc vượt qua mọi thử thách. “Anh đã quyết định sẽ làm gì sau khi câu chuyện này kết thúc chưa?” Anh sẽ vui lòng được giúp người khác, được tiếp xúc với mọi người, một chút giống như vị thầy tu của Caritas. Nhưng anh chỉ nói: “Hiện giờ, tôi tránh không nghĩ tới việc đó.” Khi anh đang định bổ sung thêm điều gì đó, cậu bạn anh bỗng chạm tay anh gọi. “Ông ta đang ra kìa.” Họ nhìn qua ô kính và thấy Bruno Martini đang tiến về phía ô tô của ông ta. Clemente đưa chùm chìa khóa chiếc Panda của mình cho Marcus. “Chúc may mắn, ” cậu ta nói với anh. Thành phố đang vãn dần vào giờ ăn tối và chiếc Fiat Multipla tiến với tốc độ đều đặn trên đường. Marcus bám theo nó không mấy khó khăn, giữ một khoảng cách an toàn để không bị phát hiện. Martini đang lái ra ngoại ô Roma. Anh phán đoán như vậy khi đọc những biển báo giao thông xác nhận lộ trình. Nhưng trước tiên ông ta dừng lại ở một cây rút tiền tự động. Ngay lập tức Marcus thấy lạ vì Clemente đã nói với anh rằng ông ta đã rút tiền ngân hàng vào ngày hôm đó. Anh nhìn thấy ông ta trở lại ô tô và tiếp tục lên đường. Nhưng mười phút sau, ông ta lại

dừng lại, lần này để uống một tách cà phê trong một quán bar tấp nập khách quen đang xem bóng đá. Bruno Martini xem ra không quen biết ai, không chào ai, cũng chẳng ai có vẻ nhận ra ông ta. Sau khi uống xong, ông ta thanh toán và lại tiếp tục hành trình. Ông ta đi về phía khu vực hạn chế giao thông. Một bảng điện tử thông báo lệnh cấm đã có hiệu lực nhưng không thèm quan tâm tới việc sẽ bị phạt, ông ta đi qua camera ghi hình biển số xe. Marcus không có cách nào khác ngoài việc bám theo ông ta. Tới lúc đó, Martini đi vào tuyến đường vành đai dẫn ra ngoại ô phía bắc của Roma. Ông ta tới trạm thu phí của đường cao tốc và lấy vé vào. Ít phút sau, ông ta dừng lại lần thứ ba để đổ xăng. Marcus đợi ông ta ở chỗ sân ngay sau trạm xăng và quan sát ông ta từ gương chiếu hậu trong lúc ông ta bình thản dùng vòi đổ xăng và trả tiền bằng thẻ tín dụng. Rồi ông ta lại bắt đầu nhấn ga, giữ một tốc độ vừa phải và ổn định. Ông ta đang đi đâu đây? Marcus tự hỏi. Anh bắt đầu không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Có điều gì đó mà anh đã bỏ sót. Ông ta đi về hướng Florence, nhưng sau khi đi được khoảng chục cây số, ông ta lại đỗ ở một trạm dừng nghỉ. Lần này Marcus quyết định đi theo ông ta vào bên trong. Anh đỗ xe và bước vào trạm. Bruno Martini mua một bao thuốc lá và gọi một tách cà phê thứ hai. Marcus giả bộ đọc tạp chí và trong khi dùng kệ trưng bày báo để che chắn anh quan sát ông ta dùng đồ tại quầy. Lúc dùng xong, người đàn ông làm một cử chỉ mà hiện tại Marcus không luận ra.

Anh ngước mắt lên cho đến khi phát hiện ra ống kính của một chiếc camera an ninh được đặt phía trên quầy thu ngân, anh bất động trong vài giây. Ông ta đang cố tình để mình lọt vào khung hình, Marcus nghĩ. Rồi Martini đặt cái tách xuống và bước xuống cầu thang dẫn tới nhà vệ sinh, nằm ở tầng dưới. Marcus đi theo sau ông ta. Sau khi đi qua một cái cửa cánh đẩy và chắc chắn rằng họ chỉ có một mình, anh tới chỗ ông ta trong lúc ông ta đang rửa tay. Anh đứng cách ông ta hai cái bồn rửa và mở vòi nước. Người đàn ông quan sát anh qua gương nhưng không có vẻ để ý gì đặc biệt. “Ông cần một chứng cứ ngoại phạm, phải không ngại Martini?” Lời nói của anh đến với ông ta một cách bất ngờ. “Anh có chuyện gì với tôi sao?” “Máy rút tiền tự động, trạm xăng, trạm dừng nghỉ: tất cả đều có camera giám sát từ xa. Trong số những người hâm mộ bóng đá tụ tập trong quán bar, chắc hẳn ai đó sẽ nhận ra ông. Cả ý tưởng chấp nhận bị phạt cũng rất láu cá. Rồi vụ đường vòng trên đường cao tốc, những trạm thu phí đánh dấu lúc vào và ra. Ông đang cố tình để lại dấu vết, để họ ghi lại tất cả hành trình của mình. Nhưng chính xác là ông đang đi đâu vậy?” Người đàn ông tiến lại gần với vẻ đe dọa. Mắt ông ta ánh lên sự giận dữ vì đã bị lột mặt nạ. “Anh muốn gì ở tôi?”

Marcus không hề nao núng, đáp trả lại ánh nhìn của ông ta. “Tôi chỉ muốn giúp ông.” Người đàn ông sẵn sàng thụi anh, nhưng ông ta kìm lại. Bản chất nóng nảy được suy ra từ cái cách ông ta di chuyển đôi bàn tay to lớn, cũng như tư thế của đôi vai, như đôi vai của một con sư tử đang sẵn sàng tấn công. “Anh là cảnh sát?” Marcus để kệ cho ông ta nghĩ như vậy, tránh phải trả lời. “Alberto Canestrari, Astor Goyash. Ông biết những cái tên này chứ?” Martini không phản ứng gì, không do dự, chỉ có vẻ mất phương hướng. “Ông biết họ hay là không?” “Anh là thằng quái nào, tôi có thể biết chứ?” “Ông chỉ đang trốn chạy, không phải vậy sao? Ông chẳng khác gì tôi. Cả ông cũng đang tìm cách cứu ai đó. Ai vậy?” Bruno Martini lùi về sau một bước, như vừa bị tát vào chính giữa mặt. “Tôi không thể.” “Ông phải nói cho tôi biết, nếu không tất cả sẽ trở thành vô ích. Người đó sẽ không thể thực thi được công lý. Tối nay người đó sẽ chết.” Anh tiến sát ông ta, nhắc lại: “Ai vậy?” Người đàn ông chống một tay vào một trong những bồn rửa, tay kia đưa lên trán. “Cô ấy tới tìm tôi vào tối qua, cô ấy nói rằng đứa con trai bị mất tích trên thực tế đã chết, và rằng cô ấy có khả năng tìm ra kẻ sát nhân.” “Camilla Rocca.” Marcus không ngờ lại là bà ta.

Martini gật đầu. “Chuyện xảy ra với cả hai gia đình chúng tôi vào ba năm trước đã gắn kết chúng tôi lại. Sau vụ mất tích, Alice và Filippo đã trở thành anh em. Tôi và Camilla đã quen nhau tại một Sở Cảnh sát và từ đó trở đi nỗi đau đã gắn bó chúng tôi với nhau. Camilla đã ở bên tôi khi vợ tôi bỏ rơi tôi. Cô ấy là người duy nhất có thể hiểu tôi. Vì vậy tôi không thể từ chối khi cô ấy hỏi mượn tôi khẩu súng.” Marcus không thể tin nổi. Gia đình nhỏ biết cách phản ứng, cậu con trai mới sinh trong thời gian đó chứng tỏ cuộc sống vẫn tiếp diễn. Tất cả chỉ là ảo ảnh. Và anh có thể nhìn thấu chi tiết kế hoạch của Camilla. Bà ta không nói gì với chồng, tranh thủ việc ông ta ở ngoài thành phố. Bà ta đã giấu kín kế hoạch đó vì trong trường hợp có chuyện gì xảy ra với bà ta, một trong hai người sẽ phải chăm sóc đứa bé. Đấy chính là lý do vì sao trưa hôm đó đứa bé không ở cùng bà. Chắc chắn bà ta đã gửi con cho ai trông giúp. “Camilla biết khẩu súng ông sở hữu bất hợp pháp. Ông đã đưa nó cho bà ta và sau đó ông tìm cách tạo dựng chứng cớ ngoại phạm, trong trường hợp sự việc xảy ra không như mong muốn và cảnh sát liên hệ khẩu súng với ông vì ông đã từng dùng nó khi có ý định báo thù.” Marcus biết cách làm ông ta cứng họng, giờ ông ta sẽ không thể giấu anh sự thật. “Camilla có nói với ông ý định của bà ta là gì không?” “Vài ngày trước cô ấy nhận được một cú điện thoại. Một giọng nói nặc danh tiết lộ cho cô ấy rằng để tìm được gã đàn ông đã sát hại con trai Filippo của cô ấy, chỉ cần tới một phòng

khách sạn vào tối nay. Kẻ chủ mưu trong vụ giết người tên là Astor Goyash.” “Phòng số mấy, khách sạn nào?” Marcus liền hỏi. Martini tiếp tục nhìn xuống chân. “Tôi đã nghĩ về việc mình sẽ làm. Chẳng gì đảm bảo rằng đó là sự thật hay chỉ là một trò đùa ác ý. Nhưng sự nghi ngờ làm anh tin vào bất cứ thứ gì. Sự im lặng đó thật không chịu nổi. Anh sẽ chỉ muốn chấm dứt nó. Chẳng ai khác có thể cảm nhận điều đó, nhưng với anh đó là một sự tra tấn, nó làm anh mất trí.” "Những phát súng không thể chặn nó được… Làm ơn hãy nói cho tôi biết Camilla Rocca giờ đang ở đâu? “Khách sạn Exedra, phòng 303.”

N 20 giờ hiệt độ đã hạ xuống mấy độ, sự chênh lệch mức nhiệt so với buổi sáng đã tạo ra một màn sương mỏng màu cam của những ánh đèn đường. Như thể tìm kiếm một vụ hỏa hoạn. Sandra mong đợi trước hay sau sẽ thấy ngọn lửa xuất hiện. Ở quảng trường có cây trụ biểu và chú voi con, những tín đồ Công giáo đang nán lại trò chuyện sau buổi lễ nhà thờ. Cô đi qua họ và bước vào nhà thờ Thánh Maria sopra Minerva. Khác với lần đầu tiên cô tới đây, nhà thờ không hoang vắng. Khách du lịch, hay chỉ đơn giản những người theo đạo, đang dạo quanh Vương cung thánh đường. Sự hiện diện của họ làm cô thấy bình an. Cô đi ngay về phía gian thờ Thánh Raimondo di Peñafort. Cô muốn tìm hiểu. Khi tới trước điện thờ nghèo nàn, cô lại đối diện với bức chân dung của vị thánh. Ở phía bên phải là bức tranh tường Đức Jesus quan tòa đứng giữa hai thiên thần được vây quanh bởi những cây nến cầu nguyện. Không biết chúng đang được thắp sáng cho những lời cầu nguyện nào, hay những tội lỗi nào đang được chuộc lại trong những đốm lửa đó. Lần này, Sandra đã hiểu ý nghĩa những biểu tượng ở xung quanh cô. Đó là sự tổng hợp của một địa điểm công lý. Tòa án linh hồn, cô nghĩ.

Sự giản dị của gian thờ này so với những gian thờ khác đem đến sự trang nghiêm đúng đắn cho không gian. Các bức hình miêu tả một vụ xử án thực sự: Chúa Jesus là quan tòa duy nhất, được trợ giúp đắc lực bởi những thiên sứ của Ngài, trong khi Thánh Raimondo – vị linh mục ân giải – đang trình Ngài vụ án. Sandra tự mỉm cười. Cô chắc rằng lần đầu tiên mình được dẫn tới đây không phải do tình cờ. Cô không phải là một chuyên gia về đạn đạo, nhưng với cái đầu lạnh cô có thể xem xét lại vụ nổ súng vào sáng hôm trước. Tiếng vang của những phát súng biến mất trong thánh đường gây trở ngại cho cô trong việc xác định vị trí đứng của tay súng. Nhưng sau sự việc xảy ra ở đường hầm dưới nhà của Lara, cô nghi ngờ về việc ai đó thực sự muốn giết cô. Trong đường hầm là cơ hội hoàn hảo cho một tay súng, nhưng hắn ta đã không tranh thủ nó. Trong thâm tâm cô loại trừ khả năng đó là hai kẻ khác nhau. Kẻ dụ cô đến Vương cung thánh đường muốn xem cô biết điều gì. Vì David hẳn đã khám phá ra thứ gì ở nơi đó. Một thông tin mà ai đó đang thiếu và hắn muốn có được nó bằng mọi giá. Ai đó trước đây đã tận dụng cô, lợi dụng lời đe dọa giả tạo với mạng sống của cô và cùng lúc khoác lác về tình bạn với chồng cô. Rồi hắn phản bội cô với một mục đích duy nhất: Biến cô thành mồi nhử để tóm vị linh mục ân giải. Đó chính là lý do vì sao hắn xuống đường hầm đó cùng cô. Sandra quay lại và nhìn thấy hắn đang bị bao quanh bởi một nhóm giáo dân. Shalber đang chăm chú nhìn cô từ xa. Ông ta không còn lý do gì để phải ẩn mình.

Cô đặt tay lên bao súng được giấu sau lớp áo nỉ, để ông ta hiểu rằng cô sẽ không tha thứ cho bất cứ hành động liều lĩnh nào. Ông ta dang hai tay và chầm chậm tiến lại gần, với một thái độ không thù địch. “Ông muốn gì?” “Tôi nghĩ rằng tới lúc này cô đã hiểu tất cả.” “Ông muốn cái gì?” Cô giận dữ nhắc lại. Shalber dùng ánh mắt chỉ về phía Chúa Jesus – quan tòa. “Tự bào chữa.” “Chính ông đã bắn tôi.” “Tôi đã nhét tấm ảnh thánh dưới cửa phòng khách sạn của cô và tôi đã dụ cô tới đây vì tôi muốn những bức ảnh của David. Nhưng khi cô gọi vào máy của tôi, tôi hiểu rằng mình phải hành động hoặc là sẽ mất tất cả. Tôi đành ứng biến.” “Chồng tôi đã khám phá ra điều gì liên quan đến chỗ này?” “Chẳng có gì.” “Vì thế ông đã giả bộ là người đã cứu mạng tôi, chiếm lòng tin của tôi, kể những câu chuyện bịa đặt về mối quan hệ giữa ông và chồng tôi.” Ông đã đưa tôi lên giường, ông đã để tôi tin rằng tình cảm đó là chân thành, cô đã muốn bổ sung nhưng cô không làm thế. “Tất cả những việc này chỉ để có được hình ảnh vị linh mục có vết sẹo trên thái dương.” “Tôi đã diễn kịch, phải, cũng như cô. Tôi đã hiểu rằng cô qua mặt tôi, cô không cho tôi xem hết những tấm ảnh. Tôi rất giỏi phát hiện những lời nói dối, cô không nhớ sao? Có một thỏa

thuận nào đó giữa cô và vị thầy tu, không phải vậy sao? Cô hy vọng anh ta sẽ giúp cô tìm được sự thật về vụ ám sát David.” Sandra điên cuồng. “Vì thế mà ông theo dõi tôi, để xem tôi có còn gặp anh ta nữa không.” “Tôi đi theo cô cũng để bảo vệ cô.” “Thôi đi.” Giọng của Sandra đanh lại, trên gương mặt cô ngoài sự phẫn uất còn hiện lên cả sự ghê tởm. “Tôi không muốn nghe thêm lời dối trá nào nữa.” “Nhưng có một điều cô phải nghe.” Shalber cũng cứng rắn với cô. “Kẻ giết chồng cô là một linh mục ân giải.” Cô bàng hoàng, nhưng không muốn để ông ta nhìn thấy. “Giờ ông nói điều này với tôi dễ nhỉ. Và ông hy vọng tôi sẽ tin ư?” “Cô không tự hỏi tại sao tới một lúc Vatican lại quyết định bãi bỏ nhiệm vụ của những linh mục ân giải? Một việc gì đó rất nghiêm trọng đã buộc Giáo hoàng phải đưa ra một quyết định như thế, cô không thấy sao? Một việc gì đó chưa bao giờ được tiết lộ. Một kiểu… tác dụng phụ của những hoạt động của họ.” Sandra không nói lời nào, nhưng cô hy vọng rằng Shalber sẽ tiếp tục. “Kho dữ liệu của Tòa Ân Giải Tối Cao là nơi cái ác từ lâu được nghiên cứu, tháo dỡ và phân tích. Nhưng có một quy tắc là mọi linh mục ân giải chỉ được tiếp cận với một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 55

Đang tải bình luận...