Nét bút rất thanh tú, rõ ràng là của phụ nữ, hơi có vẻ gượng gạo vì lâu ngày không cầm bút, rõ ràng bấy giờ người viết đang bồi hồi do dự.
Lý Thư Bạch quay lưng đi thẳng ra ngoài: “Đứng dậy đi, ngươi có gì muốn biết thì đi mà hỏi người trong phủ.”
Là một trong những thị nữ thân cận bên cạnh công chúa, từ sau khi xảy ra chuyện, Thùy Châu luôn quỳ trước linh cữu công chúa, mấy lần còn khóc đến ngất lịm, tỉnh lại lại khóc tiếp. Lúc Hoàng Tử Hà đến, hai mắt ả đã sưng húp, không khóc nổi nữa, chỉ đờ đẫn quỳ ở đó.
Hoàng Tử Hà cũng quỳ xuống cạnh Thùy Châu thắp hương vái lạy công chúa, rồi liếc nhìn cổ tay ả.
Thùy Châu vận áo xô gai, để lộ cổ tay trái, có một vết sẹo bỏng lồi lõm chạy dài từ cổ tay đến tận khuỷu, rõ ràng từng bị
bỏng rất nặng.
Hoàng Tử Hà hỏi nhỏ: “Thùy Châu cô nương, vết sẹo trên tay cô là thế nào?”
Thùy Châu không đáp, chỉ lẳng lẽ kéo tay áo xuống, che vết sẹo đi.
Lạc Bội quỳ bên cạnh nghẹn ngào đáp thay: “Mấy năm trước, công chúa tò mò nghịch lửa, suýt nữa bị lửa bén vào người, Thùy Châu cứu công chúa nên mới bị thương.”
Bọn Lạc Bội, Khuynh Bích, Trụy Ngọc tuy cũng ròng ròng nước mắt, xong trông vẫn đỡ hơn Thùy Châu nhiều. Mấy ả thị
nữ cạnh đó hùa theo: “Đúng thế, Thùy Châu một lòng trung thành với công chúa, cả hoàng thượng cũng phải ngợi khen.”
Hoàng Tử Hà vờ thuận miệng hỏi: “Nói ra mới nhớ, hôm trước có một nam nhân họ Tiền cứ khăng khăng nói con gái mình là thị nữ trong phủ công chúa, bảo trên cổ tay con gái có một vết bớt, chẳng hay các cô có trông thấy ai như thế
không?”
Thùy Châu lặng lẽ lắc đầu. Mấy người kia cũng đáp: “Tôi có nghe nói, nhưng hình như chẳng thấy ai có vết bớt trên tay cả?”
Khuynh Bích bĩu môi: “Chắc lại thấy người sang bắt quàng làm họ đấy thôi, người trong kinh ai chẳng muốn bắt quen bắt thân với phủ công chúa? Hễ có người nhà làm việc ở đây là thừa đủ để họ ra ngoài huênh hoang rồi.”
“Khuynh Bích.” Thùy Châu nhắc khẽ. Khuynh Bích hậm hực ngậm miệng lại, không quên vớt vát thêm một câu: “Nô tỳ
có nói gì đâu. À phải… làm trong phủ Quỳ vương rõ ràng là hiển hách rồi.”
Xem ra Thùy Châu là kẻ đứng đầu trong các thị nữ bên cạnh công chúa, thảo nào công chúa khen ả hầu hạ chu đáo nhất.
Thùy Châu kéo tay áo che vết sẹo, lẳng lặng quỳ ở đó, đầu cúi thật thấp, tỏ ý không muốn nói chuyện.
Nhưng Hoàng Tử Hà vẫn hỏi riết: “Thùy Châu cô nương, hàng ngày quan hệ giữa cô và Ngụy Hỷ Mẫn thế nào?”
Thùy Châu đáp khẽ: “Chúng tôi cùng hầu hạ bên cạnh công chúa nên chẳng lạ gì nhau, nhưng cũng chẳng lấy gì làm thân. Thị nữ và hoạn quan qua lại thân thiết quá… sẽ làm người ta dị nghị.”
Ả nói vậy làm Hoàng Tử Hà nhớ ra một chuyện, bèn hỏi: “Nghe nói công chúa đã hứa gả cô nương đi, không lâu sau sẽ
xuất phủ?”
Thùy Châu gật đầu, rồi lại lắc đầu: “Vốn định là cuối năm nay, người ta tuy không phải danh gia vọng tộc gì, nhưng cũng giữ chức quan ở Hồng Lư Tự(*). Nếu không nhờ công chúa, nô tỳ đâu thể gả được vào nhà danh giá như thế. Có điều giờ
xem ra… ít hy vọng lắm.”
(*)
Cơ quan chuyên cai quản nghi thức lễ tiết trong các dịp lễ hội.
Hoàng Tử Hà hiểu, người kia chẳng qua nhìn vào quyền thế của công chúa nên mới chịu cưới một thị nữ. Dù sao, với một viên quan thất phẩm nhỏ nhoi dưới trướng tể tướng thì một thị nữ thân cận bên công chúa, sau khi xé giấy bán thân, lại có chủ cũ nâng đỡ, rõ ràng là một cái gấu váy tốt. Xong giờ công chúa đã qua đời, còn mong gì y chịu giữ lời mà cưới Thùy Châu nữa. Tương lai sau này thế nào, e rằng chính ả cũng không biết được.
Hoàng Tử Hà đành lựa lời an ủi: “Ta nghĩ người làm quan chắc sẽ giữ lời, không thể vì chuyện này mà hủy hôn được.”
“Đa tạ công công an ủi.” Thùy Châu đáp, xong vẫn mặt ủ mày chau.
Khuynh Bích quỳ bên cạnh thở dài: “Nếu không nhờ công công nói đỡ, e rằng giờ bọn nô tỳ đi theo công chúa cả rồi, sống được đã là trời thương, còn những chuyện khác, ai mà biết có phúc phận ấy không…"
Khuynh Bích còn trẻ, nói năng không biết chừng mực, lời vừa thốt ra, Hoàng Tử Hà thấy Trụy Ngọc và Thùy Châu sắc mặt càng thêm u ám, chắc hẳn gánh nặng trong lòng lại nặng thêm.
Lạc Bội nhìn làn khói xanh từ lò hương lững lờ bay lên, thẫn thờ: “Nhưng… chúng nô tỳ còn cách nào khác đâu? Sau khi công chúa mơ thấy ác mộng, luôn miệng nói Phan thục phi sắp đến đòi trâm Cửu loan, mà cây trâm lại… không cánh mà bay ngay giữa nhà kho được canh giữu nghiêm mật như thế, các vị bảo có lạ hay không? Rõ ràng công chúa đích thân khóa chặt, lại chứng kiến mấy người bọn nô tỳ chính tay đặt chiếc hộp vào rương, rồi chính tay lấy ra, sao bỗng dưng biến mất được… Cuối cùng còn xuất hiện ở phường Bình Khang, đâm chết công chúa nữa chứ.”
Khuynh Bích vừa buồn vừa sợ, khóc òa lên: “Chị Lạc Bội đừng nói nữa… Đừng nói nữa mà…”
Giọng họ chìm trong tiếng tụng kinh và khóc lóc xung quanh, chẳng khác nào cây trâm Cửu loan biến mất giữa vòng vây canh gác nghiêm mật.
Hoàng Tử Hà chỉ biết than thầm, hành lễ từ biệt họ rồi đứng dậy đi ra.
Công chúa vừa qua đời, phủ công chúa đã náo loạn.
So ra thì người hầu từ nhà phò mã đưa sang vẫn bình tĩnh hơn. Dù sao họ cũng có nơi để về.
Bởi thế, khi Hoàng Tử Hà đến nhà bếp, Xương Bồ vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, đang chọn món ngày mai, chỉ là nét mặt đượm phần rầu rĩ.
“Dương công công,” thấy Hoàng Tử Hà đến, Xương Bồ đập đập cuốn sổ trong tay, tự trào, “Bất luận thế nào thì bấy nhiêu người trong phủ cũng phải ăn, đúng không nào?”
Hoàng Tử Hà ra ý bảo Xương Bồ cứ tiếp tục, rồi ngồi xuống phía đối diện: “Chỉ muốn hỏi cô cô mấy câu thôi.”
“Công công cứ hỏi.” Xương Bồ gảy bàn tính tanh tách, cúi đầu mím môi đối chiếu từng khoản mục trong sổ.
“Cô cô có biết Tiền Quan Sách bị Đại Lý Tự bắt giam rồi không?”
Xương Bồ khựng lại, đáp khẽ: “Tôi biết. Tối qua ông chủ Tiền tới tìm tôi nghe ngóng tin con gái, không may bị người của Đại Lý Tự phát hiện, chính mắt tôi chứng kiến họ giải ông ấy đi.”
“Nghe nói ông ta khăng khăng nói con gái mình ở trong phủ, thậm chí còn đưa cả con cóc vàng ra làm bằng, nhưng người của Đại Lý Tự tìm khắp phủ cũng không thấy cô con gái.” Hoàng Tử Hà nhìn chằm chằm Xương Bồ, không bỏ qua một biểu cảm nào dù là nhỏ nhất, “Tôi nhớ cô cô từng nói, con gái ông chủ Tiền là Thùy Châu phải không?”
Xong Xương Bồ vẫn thản nhiên, không hề chớp mắt, thong dong gảy bàn tính: “Đúng thế, tối qua tôi biết chuyện cũng giật nảy mình. Thì ra Thùy Châu không phải con gái ông ấy, trên cổ tay con gái ông ấy có vết bớt chứ không phải vết sẹo, lâu nay tôi lầm.”
Hoàng Tử Hà nhíu mày nhìn Xương Bồ, hỏi: “Ra là cô cô lầm ư?”
“Phải, ban đầu ông chủ Tiền chỉ nói con gái mình có dấu trên cổ tay. Tôi phát hiện cổ tay Thùy Châu có vết, ngỡ là cô ấy, bèn mách lại với ông chủ Tiền, còn về sau họ có hẹn gặp nhau hay không thì tôi không rõ. Công công biết đấy, tôi cả ngày ở
trong nhà bếp, bận túi bụi, làm gì có thời gian hỏi đến chuyện ấy. Về sau ông chủ Tiền đưa linh lăng hương đến cảm tạ, tôi còn nghĩ, quả nhiên là Thùy Châu.” Kể đến đây, Xương Bồ cũng thở dài, đặt tay lên bàn tính thẫn thờ: “Nhưng lúc ông ấy bị
người của Đại Lý Tự bắt được rồi thẩm vấn, lại nói trên cổ tay con gái có một vết bớt màu hồng ngả xanh, cuối cùng tra khắp phủ công chúa không thấy. Lúc sau tôi hỏi nhỏ Thùy Châu, Thùy Châu cũng thề sống thề chết là không phải mình, mấy thị nữ hầu cận công chúa đều nói Thùy Châu không hề hẹn gặp riêng ông ấy… Công công bảo có lạ không? Rốt cuộc ông chủ Tiền đã tìm thấy con gái hay chưa? Người ông ta lén hẹn gặp là ai? Lẽ nào đúng như người Đại Lý Tự nói, ông ta chỉ
mượn cớ tìm con gái để câu kết với Ngụy Hỷ Mẫn ăn trộm báu vật trong phủ công chúa thôi ư?”
Hoàng Tử Hà quan sát kỹ nét mặt Xương Bồ, lại hỏi: “Thế nên cô cô không biết gì, cũng không liên quan gì đến chuyện này, phải không nào?"
“Đương nhiên rồi! Bằng không… Lẽ nào Dương công công hoài nghi tôi ư?” Xương Bồ ôm ngực kinh ngạc nhìn cô, vẻ
hoảng hốt, “Dương công công! Tôi chưa từng đến chỗ ở của công chúa! Cũng chưa thấy trâm Cửu loan và cóc vàng bao giờ
cả! Tuy tôi sống trong vương phủ, nhưng là người hầu dưới bếp, đến công chúa cũng hiếm khi trông thấy nữa là…”
“Được rồi, tôi tin cô cô không dính dáng đến vụ này mà, tôi tuyệt đối tin vào sự trong sạch của cô cô.” Hoàng Tử Hà chăm chú nhìn Xương Bồ, ánh mắt sáng rực lên như muốn soi thấu ruột gan: “Nhưng tôi không tin cô cô không biết cô gái Tiền Quan Sách hẹn gặp là ai.”
“Tôi không biết! Tôi không biết thực mà!” Xương Bồ cuống cuồng la lên.
Hoàng Tử Hà lặng thinh quan sát phản ứng của Xương Bồ.
Thấy thái độ của cô, Xương Bồ đành chịu phép, ngã ngồi xuống ghế, lấy tay chống trán lẩm bẩm: “Tôi không nói được…
Tôi không thể tiết lộ được…”
Vẻ mặt Xương Bồ không chỉ kinh hoàng lo sợ, mà còn kiên định quả quyết, như thể dù có bỏ mạng, dù có tan xương nát thịt, cũng phải nuốt bí mật này vào bụng.
Hoàng Tử Hà biết không cạy nổi miệng người này, đành thở dài: “Cũng chẳng sao, tôi đã biết là ai rồi,” đoạn đứng dậy xăm xăm đi ra cửa. Thấy vậy, Xương Bồ không nhịn nổi, vội đứng dậy liêu xiêu đuổi theo, vịn vào khung cửa hỏi: “Công công… biết là ai ư?”
“Cô cô nói xem?” Hoàng Tử Hà ngoảnh lại cuời với Xương Bồ, duới ánh mặt trời mùa hạ chói chang, gương mặt cô mờ
hẳn đi vì lóa.
Giọng cô bình thản mà kiên định, mang một vẻ quả quyết khiến người ta không thể nghi ngờ.
“Trong phủ công chúa này, còn có thể là ai nữa chứ?”
Hoàng Tử Hà rời phủ công chúa, đi thẳng về phía cỗ xe ngựa phủ Quỳ.
Chợt cô trông thấy hai người đứng trước xe, một là Quỳ vương Lý Thư Bạch tao nhã như cây ngọc đón gió, còn người kia, chính là Kỳ Lạc quận chúa lộng lẫy như minh châu.
Hoàng Tử Hà không khỏi chậm bước, thầm tính xem có nên đi đến hay không.
Đi đến chẳng phải là quấy nhiễu họ ư?
Kỳ Lạc quận chúa mỉm cười nhìn Lý Thư Bạch, hai má ửng hồng, gió lồng lộng dưới tàng cây làm mấy sợi tóc nàng bay tung, vấn vít quanh đôi mắt đắm đuối như sương như khói, đẹp say lòng người.
Cô quận chúa yểu mệnh này, dù có xinh đẹp nhường nào, cũng chẳng còn được bao lâu nữa. Bởi thế Lý Thư Bạch luôn nhìn nàng bằng ánh mắt xót xa, gương mặt xưa nay lạnh nhạt cũng lộ ra mấy phần dịu dàng.
Hoàng Tử Hà lẳng lặng lùi bước, ngồi xuống bóng râm đằng sau bức chiếu bích của phủ công chúa. Cây lựu trên đầu đã kết quả lúc lỉu trĩu trịt, to bằng nắm tay đứa bé sơ sinh. Thấy một cành sà xuống trước mặt, cô bèn giơ tay níu lấy một quả, ngơ ngẩn ngắm nhìn.
Những người con gái xuất thân cao quý như Kỳ Lạc quận chúa và Đồng Xương công chúa, sinh ra giữa cẩm tú phồn hoa bậc nhất thế gian, xong lại như những bông hoa rực rỡ đầy cành, bừng nở rồi rơi rụng, mà không cách nào đơm quả.
Ba cô gái, mỗi người một phận, nhưng đều bất hạnh. Đồng Xương công chúa chết yểu, Hạnh nhi bị cha bán đi từ nhỏ, và Tích Thúy phải chịu sự lăng nhục khủng khiếp nhất trên đời.
Ba người con gái, với ba người cha khác nhau.
Hoàng đế nuông chiều Đồng Xương công chúa đến nỗi không tiếc đem mọi thứ tốt đẹp nhất đời ban cho nàng, nhưng giờ
đây, dù trút giận sang thái y, liên lụy đến cả mấy trăm người, cũng không cứu nổi đứa con gái đã chết dưới trâm Cửu loan.
Tiền Quan Sách trong lúc khó khăn nhất đã đem con gái bán đi, lấy tiền bán con dựng nghiệp rồi phát đạt, sau nhiều năm cũng tìm lại được đứa con, nhưng chưa kịp nghe con gọi một tiếng cha đã bị hạ ngục.
Lữ Chí Nguyên nằm mơ cũng muốn có con trai, hơn nữa khi con gái Tích Thúy rơi vào cảnh ngộ bi thảm nhất, vẫn nhẫn tâm đuổi ra khỏi nhà, nhất quyết ôm chặt món tiền bán con gái sống cô độc suốt tuổi già.
Ba người chết thân phận cũng khác nhau. Sợi dây liên hệ duy nhất là, họ đều can dự vào bi kịch của Tích Thúy.
Khiến người ta thắc mắc nhất là Đồng Xương công chúa. Tuy nàng hạ lệnh trách phạt Tích Thúy, nhưng không cố ý khiến Tích Thúy gặp chuyện, càng không trực tiếp hãm hại. Hung thủ cũng không bố trí cẩn mật như hai lần trước mà thẳng tay giết công chúa ngay giữa phố đông, dường như công chúa mới là người y hận nhất…
Nghĩ vậy, cô bất giác rút cây trâm ngọc ra, vạch lên phiến đá xanh đang ngồi.
Ba người cha, ba cô con gái, phò mã, Trương Hàng Anh, Tôn ghẻ, Ngụy Hỷ Mẫn, Đậu Khấu…
Chợt có tiếng hỏi từ đằng sau: “Vẽ gì thế?”
Cô ngẩng lên, trông thấy Lý Thư Bạch đang ở trước mặt, hơi khom người xuống nhìn mình. Dưới ánh nắng chói chang, bóng cây xanh mát phủ trùm lên họ, mặt y chỉ cách mặt cô gang tấc, cặp mắt đen thăm thẳm như mặt hồ nhìn xoáy vào Hoàng Tử Hà khiến cô bỗng thấy chới với như sắp chìm trong đó.
Cô đành cắm cây trâm ngọc lại chỗ cũ, gắng gượng né tránh ánh mắt y, đáp khẽ: “Vừa rồi thấy gia và Kỳ Lạc quận chúa đang trò chuyện, nô tài không dám đến quấy rầy, đành ngồi lại đây sắp xếp lại các manh mối.”
Y liếc cô rồi ngồi xuống bên cạnh: “Kỳ Lạc tới bái tế Đồng Xương, tình cờ gặp nhau.”
“Quận chúa… khí sắc rất khá, chắc gần đây có khỏe lên?”
“Không biết nữa, có khi cái chết của Đồng Xương sẽ khiến cô ấy chạnh lòng nghĩ đến mình, càng buồn bã thêm.” Nói rồi
y hờ hững giơ tay nhón một quả lựu nhỏ giơ lên trước mặt quan sát, hỏi sang chuyện khác, “Vừa rồi ngươi để ý thấy manh mối nào chưa?”
Hoàng Tử Hà ngây ra một thoáng mới đáp: “Tôi còn nhớ, khi cây trâm Cửu loan của công chúa bị đánh cắp, gia dắt tôi đến thăm hỏi, bấy giờ, gia có vẻ khá thích con chó sứ trên nóc tủ ở đầu giường công chúa.”
“Đúng thế.” Lý Thư Bạch buông tay, để mặc quả lựu bé kia cứ rung rinh trước mặt hai người, “Bởi vì ta nhớ lúc Đồng Xương chừng sáu bảy tuổi, từng bị mảnh vỡ của chiếc đĩa sứ cứa đứt tay. Từ đó hoàng thượng hạ lệnh, trong cung của Đồng Xương không được dùng bất cứ thứ đồ gốm sứ gì nữa. Mãi đến khi Đồng Xương hạ giá lấy Vi Bảo Hoành, dọn vào phủ
công chúa, đồ dùng bên cạnh đa phần cũng bằng vàng bạc, vậy mà tự dưng lại có một con chó sứ bên cạnh, hơn nữa nhìn rất giống những món bán đầy ngoài chợ, ngươi không thấy lạ ư?”
Hoàng Tử Hà gật đầu, lại hỏi: “Chúng ta đi lấy về xem được không?”
Lý Thư Bạch đứng ngay dậy không chút chần chừ: “Đi thôi.”
18
Sống động như thật
Gác Thê Vân trống không, mọi thứ của công chúa đều đã bị niêm phong cất đi, chỉ để lại chiếc giường và hộc tủ khóa chặt.
Đặng Xuân Mẫn, hoạn quan thân cận bên cạnh công chúa dẫn họ vào. Lý Thư Bạch đi đến trước chiếc tủ đầu giường công chúa, bảo họ Đặng mở ra.
Bên trong đầy những món đồ chơi nho nhỏ, nào là nước tường vi, cầu xông hương, hộp gỗ đàn v.v… hằng ngày nhờ đám thị nữ vẫn dọn dẹp luôn luôn, nên tuy nhiều thứ xong không hề lộn xộn, món nào món nấy được đặt ngay ngắn, chỉ là góc phải bỏ trống một chỗ bằng nắm tay.
Vừa đủ cho một con chó sứ.
Thấy họ không tìm thấy thứ muốn tìm, Đặng Xuân Mẫn gợi ý: “Một số đồ dùng đã được gói đưa đến nhà kho rồi, để nô tài dẫn vương gia đi xem.”
Nhà kho nơi trâm Cửu loan biến mất vẫn đóng chặt cửa, toát lên vẻ lạnh lẽo, cách biệt với bên ngoài.
Từng hàng giá và kệ để đồ xếp đầy những hộp và rương, có thứ còn bọc vải kín mít, nhìn từ xa thấp thoáng như một bóng đen kỳ quái ngồi vắt vẻo trên giá.
“Hai chiếc rương này là những đồ dùng thường dùng của công chúa, đều đặt ở đây.” Đặng Xuân Mẫn lại rút chìa khóa mở hai rương ra.
Hoàng Tử Hà đang nhấc nắp rương lên, chợt trầm ngâm dừng lại.
Lý Thư Bạch hỏi: “Sao thế?”
Cô vỗ nhẹ vào nắp rương, ngước nhìn y: “Vương gia nghĩ tới việc gì?”
Lý Thư Bạch nhìn cánh tay cô gác lên nắp rương, nhíu mày đáp: “Ý ngươi muốn nói đến chuyện trâm Cửu loan đột nhiên biến mất ư?”
Hoàng Tử Hà gật đầu, rồi lập tức bắt tay vào tra xét những chiếc rương xung quanh, phát hiện rương ở ngăn dưới cùng đều đặt trực tiếp trên nền gạch xanh, duy có chiếc rương từng cất trâm Cửu loan, hiện đang bỏ trống cạnh đó là được lót mấy tấm vải dưới đáy, để tránh bị chấn động.
Lý Thư Bạch nhìn qua một lượt rồi gật đầu: “Mở ra xem đi, nếu không thấy chó sứ thì có thể khẳng định đấy.”
Ở bên nhau lâu ngày, hai người cũng có một sự ăn ý ngầm, không cần phải nhiều lời. Hoàng Tử Hà liền mở hai chiếc rương ra lục tìm, quả nhiên không có chó sứ.
Cả hai bèn đứng dậy rời khỏi nhà kho, quay về gác Thê Vân, trầm ngâm nhìn chỗ trống trong ngăn tủ đầu giường công chúa.
“Vừa đủ chỗ cho một con chó sứ, phải không?” Hoàng Tử Hà ước lượng.
Lý Thư Bạch gật đầu nhìn quanh: “Muốn làm nó biến mất cũng dễ thôi…”
Hai người không hẹn mà cùng bước đến bên xong nhìn xuống dưới.
Hợp hoan vẫn nở rộ bên dưới, từng đóa hoa mượt mà như lông tơ, phủ đầy mặt đất.
“Đi thôi.”
Cả hai men theo thềm đá mà xuống, rồi đi lòng vòng tìm kiếm quanh khu vực thẳng dưới cửa sổ gác Thê Vân, quả nhiên phát hiện một đám hoa tàn lá rụng vun đầy dưới gốc hợp hoan, nếu không để ý còn ngỡ là tình cờ bị gió thổi gom lại một chỗ.
Hoàng Tử Hà nhặt một cành cây gạt lớp hoa lá bên trên, thấy phía dưới là một đống mảnh sứ.
Quỳ vương mắc bệnh sạch sẽ chỉ khoanh tay đứng bên nhìn.
Hoàng Tử Hà thận trọng nhặt những mảnh sứ ra, đếm được cả thảy hai mươi tám mảnh lớn nhỏ. Cô bỏ vào khăn tay gói lại, đút trong tay áo.
Ngồi xe quay về, trông sắc trời đã sắp đến giờ Ngọ, Lý Thư Bạch đột nhiên bảo: “Qua rủ cả Tử Tần tới Chuế Cẩm Lâu ăn cơm đi.”
Hoàng Tử Hà vội bảo bác đánh xe A Viễn: “Đến phủ Chu thị lang nhé.”
Lý Thư Bạch lại trỏ hộc tủ bên dưới: “Cái đầu lâu vẫn ở đó à?”
Hoàng Tử Hà gật đầu đáp: “Không trả cho Tử Tần được, nếu để cậu ấy khôi phục lại nó hoàn toàn, sẽ phát hiện ra người chết rất giống Vương hoàng hậu. Nhưng nếu không trả hoàng hậu, thì phải để đâu đây…”
Lý Thư Bạch lạnh lùng lườm cô: “Mua dây buộc mình.”
Cô cúi gắm mặt không dám nhìn y, nem nép gật đầu nhận lỗi: “Nô tài biết sai rồi, là tại nô tài lo bò trắng răng, mua dây buộc mình, gia bảo nên giải quyết thế nào đây?”
“Ra ngoại ô tìm một khoảnh đất trống mà chôn đi.”
“…” Hoàng Tử Hà câm nín ngoảnh đầu nhìn ra cửa sổ, vờ như không nghe thấy y nói.
Rèm cửa lắc lư theo nhịp bánh xe, thấy đã đến nhà Chu Tử Tần, cô bèn nhảy phắt xuống, chạy tới gọi cửa: “Du thúc, tiểu thiếu gia hôm nay có nhà không?”
“Dương công công đấy à! Trùng hợp quá, hôm nay tiểu thiếu gia vừa ra đến cửa thì dừng lại nghĩ ngợi rồi quay trở về
phòng, nói rằng sợ công công đến không gặp được mình!”
“Ồ, vậy phiền Du thúc báo một tiếng với tiểu thiếu gia, bảo rằng vương gia đợi cậu ấy đi ăn cùng.”
“Hả? Được rồi, đi ngay đây!” Người gác cổng chạy vội vào nhà như một làn khói.
Hoàng Tử Hà đứng đợi dưới gốc thủy lạp ngoài cửa, muôn ngàn đóa hoa nhỏ xinh nở rợp trên đầu, tỏa hương ngây ngất, đè trĩu cả cành. Cô vươn tay toan vít một cành xuống thì nhận ra ngay cả đóa hoa ở thấp nhất mình cũng không với tới, chỉ
có thể đứng bên dưới lặng lẽ ngắm nhìn.
Chợt phía sau có người vươn tay ra, bẻ cành hoa Hoàng Tử Hà vừa cố với tới, đưa cho cô.
Ngỡ ngàng ngoảnh lại, Hoàng Tử Hà trông thấy Vương Uẩn đang cầm cành hoa nở rộ, mỉm cười đứng sau lưng mình tự
lúc nào. Y đăm đăm nhìn cô nói khẽ: “Vừa rồi đi trên phố trông thấy xe ngựa phủ Quỳ chạy qua, lại thấy cô nhảy xuống bèn tới chào một tiếng.”
Thấy cành hoa vẫn chìa ra trước mặt mình, tỏa hương ngan ngát khiến người ta say đắm, Hoàng Tử Hà bất giác nhận lấy: “Đô úy đã chính thức nhậm chức ở Tả Kim Ngô Vệ rồi ư?”
“Ừm, hôm nay là ngày đầu tiên. Kinh thành lớn như thế, hôm nay lần đầu tiên đi tuần lại gặp ngay cô, đúng là duyên phận.” Y ung dung mỉm cười: “Ta cứ tưởng buổi tối cô hay ra ngoài tra án hơn.”
“Thì đúng mà, buổi tối tôi vẫn hay ra ngoài, giờ đô úy đi rồi, hy vọng các huynh đệ ở Kinh thành phòng vệ ty cũng nương tay cho tôi được nhờ.”
“Chuyện đó đương nhiên.” Y cười nói, đoạn quay sang chào Lý Thư Bạch qua cửa sổ xe: “Tham kiến vương gia.”
Lý Thư Bạch gật đầu chào, lại hỏi: “Ở Tả Kim Ngô Vệ có ổn không?”
“Cũng ổn, như phòng vệ ty thôi.” Y thản nhiên cười đáp.
Hoàng Tử Hà nắm chặt cành hoa thủy lạp trong tay, chợt thấy hổ thẹn trong lòng. Vương Uẩn ở Kinh thành phòng vệ ty đang như mặt trời chính Ngọ, giờ bị điều đến Tả Kim Ngô Vệ, bó chân bó cẳng, chính là vì cô vạch trần thân phận Vương hoàng hậu, hoàng đế mới chớp lấy thời cơ kiềm chế nhà họ Vương.
Nghĩ vậy, cô bèn nhét cành hoa vào tay áo, bảo Vương Uẩn: “Đô úy đợi cho một lát,” rồi lên xe xách một chiếc túi ra,
đặt vào tay Vương Uẩn: “Cái này… nếu có cơ hội, đô úy xem có thể giao lại cho Tiểu Thi không.”
Vương Uẩn vừa cầm lấy đã đoán được ngay thứ bên trong, liếc qua chiếc đầu thật nhanh rồi vắt túi lên lưng ngựa, hỏi:
“Tìm được ở đâu thế?”
“Đừng hỏi, dù sao… tôi nghĩ tốt xấu gì cũng nên được toàn thây.” Cô nói nhỏ.
“Ừm, thực ra ta hết sức hối hận. Cái chết của cô ấy, ta không khỏi liên quan.” Vương Uẩn chăm chú nhìn gương mặt cúi gằm của cô, lâu sau mới hạ giọng: “Cảm ơn.”
“Cảm ơn gì thế?” Thình lình một người từ đằng sau nhảy ra hỏi.
Kẻ xuất quỷ nhập thần thế này, đương nhiên là Chu Tử Tần. Hôm nay gã vận một bộ đồ màu hồng tím phối với vàng ươm, trông vẫn xốn mắt như thường.
Một tay đặt lên tay Vương Uẩn, tay kia khoác vai Hoàng Tử Hà, Chu Tử Tần tươi cười: “Nào nào, kể cho tôi nghe chuyện ân oán giữa hai vị đi.”
Hoàng Tử Hà tức thì gạt tay gã, cùng lúc ấy Vương Uẩn cũng kéo cánh tay Chu Tử Tần đang khoác vai Hoàng Tử Hà ra, hai người phối hợp hết sức ăn ý, khiến Lý Thư Bạch từ cửa sổ xe nhìn ra cũng phải nhướng mày, ánh mắt đầy phức tạp.
“Vương đô úy tặng tôi một cành hoa, tôi cũng tặng lại chút quà.”
Lý Thư Bạch thì nói: “Uẩn Chi cũng đừng về nha môn nữa, cùng đến Chuế Cẩm Lâu đi.” Uẩn Chi là tên tự của Vương Uẩn.
Thế là Chu Tử Tần lên xe, còn Vương Uẩn cưỡi ngựa theo sau, mấy người cùng kéo đến Chuế Cẩm Lâu.
“Sùng Cổ, công công vừa tặng lại cái gì đấy? Có qua có lại mới toại lòng nhau, Vương huynh tặng hoa, chắc công công cũng phải tặng lại thứ gì đó phong nhã chứ?” Dọc đường Chu Tử Tần cứ luôn miệng căn vặn.
Hoàng Tử Hà không muốn nói, quà đáp lễ phong nhã của mình chính là chiếc đầu lâu lấy từ chỗ gã.
Gặng hỏi mãi không được, Chu Tử Tần rầu rĩ bĩu môi ngồi dựa vào vách xe, nhìn chằm chằm cành hoa trên tay cô:
“Đúng là, hoa này bẻ ngay ngoài cửa nhà ta chứ gì? Thế đâu tính là quà, rõ là mượn hoa dâng Phật!”
Lý Thư Bạch dõi mắt nhìn ra phố phường bên ngoài, vặn lại: “Ngươi có nghĩ Dương Sùng Cổ cũng mượn hoa dâng Phật không?”
Chu Tử Tần vẫn hồn nhiên không hề biết mình bị “mượn hoa” đến hai lần, nghe thấy câu này thì háo hức hỏi: “Lẽ nào quà đáp lễ của Sùng Cổ lấy từ chỗ vương gia? Hai người này đúng là keo kiệt, tặng qua tặng lại, toàn bòn của từ người khác.”
Tiếc rằng kế khích tướng này vô dụng, Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà đã quá rõ tính tình gã, đều quay đầu nhìn ra cửa sổ, vờ như không nghe.
Chu công tử phải chịu ấm ức suốt dọc đường đi, tới Chuế Cẩm Lâu chọn một loạt món ăn vẫn không vui lên được, trong lúc đợi món bèn nằm bò ra bàn, trông tội nghiệp như một chú chó con bị bỏ rơi.
Hoàng Tử Hà chẳng buồn dỗ dành gã, mà gọi tiểu nhị múc cho một chậu nước, lại xin ít keo bong bóng cá và bột gạo, trộn lẫn vào nhau thành một hỗn hợp sền sệt dinh dính.
Chu Tử Tần nằm bò ra bàn nhìn cô, uể oải hỏi: “Sùng Cổ làm gì thế?”
Hoàng Tử Hà lấy gói mảnh sứ trong tay áo ra, đổ vào chậu nước rửa từng mảnh một. Vương Uẩn liền đứng dậy phụ
giúp: “Cẩn thận kẻo bị cứa vào tay.”
Lý Thư Bạch chỉ ở bên cạnh thờ ơ quan sát, không giúp, cũng chẳng nói năng gì.
Chu Tử Tần thấy vậy thì hào hứng hẳn, nhặt ngay một mảnh cọ sạch rồi giơ lên ngắm nghía: “Cái gì đây?”
“Mảnh sứ vỡ tìm được trong phủ công chúa, công tử đoán xem là gì?” Hoàng Tử Hà rửa sạch từng mảnh đặt lên bàn.
Mảnh Chu Tử Tần đang cầm là pần tai chó, gã ngắm nghía hồi lâu rồi nói: “Hình như là một món đồ chơi bằng sứ… Mèo hay chó gì đó.”
“Hẳn là một con chó.” Cô đáp.
Thấy Hoàng Tử Hà lầm lượt ghép những mảnh sứ vỡ lại, Chu Tử Tần cũng quên cả giận dỗi, thoăn thoắt giúp cô tìm từng mảnh.
Vừa ghép lại hoàn chỉnh thì tiểu nhị cũng bắt đầu bưng thức ăn lên.
Đợi ba người ăn xong, keo dán cũng khô lại, con chó được dính chắc. Chu Tử Tần cầm trong tay săm soi rồi quả quyết:
“Muốn mua được thứ này hẵng còn khó đấy.”
Vương Uẩn cầm lên xem rồi hỏi: “Chẳng phải một con chó sứ bình thường thôi sao? Hồi nhỏ hình như ta cũng từng chơi,
có gì mà khó mua?”
“Vương gia lớn lên trong cung thì thôi, còn Sùng Cổ, hồi nhỏ có chơi thứ này không?” Chu Tử Tần hỏi.
Hoàng Tử Hà gật đầu: “Tôi cũng có ấn tượng láng máng, chắc hồi nhỏ từng thấy rồi.”
“Đúng thế, mười năm trước, khi chúng ta còn nhỏ thì loại chó sứ này rất phổ biến, nhưng mấy năm nay lại ít thấy, con mấy ông anh ta đều không có. Hơn nữa loại đồ sứ này động một cái là bị bọn trẻ làm vỡ, ta dám đảm bảo, thứ này đã thành hàng hiếm rồi.”
“Con chó sứ này á?” Có đầy! Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu!”
Ông chủ tiệm đồ chơi ở chợ Tây vừa mở miệng đã giáng cho Chu công tử một đòn như búa bổ.
Có điều da mặt gã cũng không phải dày vừa, chỉ một chốc đã gạt phăng chuyện này đi, hăm hở theo ông chủ vào kho, khiêng ra một rương chó sứ.
Ông chủ mở rương ra, bên trong là hàng dãy chó sứ xếp ngay ngắn thành ba lớp, phải đến bảy tám chục con. Lớp trên cùng thiếu mất mấy con, thành ra bị khuyết.
Hoàng Tử Hà ngồi xuống ngắm nghía, phát hiện đám chó trong hộp bám đầy bụi, chỉ riêng một con ở lớp thứ hai là sạch sẽ. Cô bèn nhặt lấy đặt lên lòng bàn tay săm soi rồi hỏi: “Ông chủ, rương hàng cũ này cũng mười năm rồi, sao ông không bỏ
đi, lẽ nào vẫn còn người mua?”
“Đúng thế, rương chó sứ này nhập từ Giang Nam mười năm trước, bấy giờ rất phổ biến trong kinh. Tiếc rằng về sau dần dần lỗi thời, lò gốm chế ra chúng cũng đóng cửa, chẳng ai mua nữa. Có điều cũng thật tình cờ, tháng trước lại có người hỏi đến, tôi tìm mãi mới phát hiện còn một rương hàng tồn, bèn đem ra bán. Chắc cả kinh thành này chỉ còn chỗ tôi bán thứ này thôi. Trừ vị khách hôm đó ra, cũng chỉ có các vị hỏi tới.”
Hoàng Tử Hà ước chừng trọng lượng con chó sứ trong tay rồi hỏi: “Người khách lần trước trông thế nào? Chắc cũng tầm tuổi chúng tôi, đi mua lại món đồ chơi hồi bé chứ gì?”
Ông chủ cười hì hì nhận tiền Chu Tử Tần đưa rồi đáp: “Không phải không phải, chính là ông chủ Tiền của tiệm ngựa Tiền Ký ấy, ông ấy bốn năm chục tuổi rồi còn đi mua thứ này, có tức cười hay không?”
Chu Tử Tần quay sang nhìn Hoàng Tử Hà, nói bằng khẩu hình: “Lại là ông ta.”
Hoàng Tử Hà gật đầu, cũng dùng khẩu hình trả lời: “Quả nhiên.”
Chu Tử Tần rầu rĩ hỏi: “Công công biết trước rồi à? Lại không nói với ta!”
“Chẳng phải tôi nói với công tử đầu tiên đấy ư?” Lúc ra khỏi tiệm đồ chơi, Hoàng Tử Hà dỗ gã.
Nghe vậy, Chu Tử Tần tức thì bò ra khỏi vực sâu tuyệt vọng, vui vẻ cầm chó sứ về Chuế Cẩm Lâu, đặt trước mặt hai người kia: “Đoán xem ai đã mua con chó sứ kia nào?”
Lý Thư Bạch chẳng buồn ngước lên, đáp ngay: “Tiền Quan Sách.”
Ba từ này đã đánh bật Chu công tử về đáy vực, gã rưng rưng quay lại nhìn Hoàng Tử Hà: “Công công bảo là nói với ta đầu tiên mà?”
“Là gia tự đoán được đấy chứ.” Hoàng Tử Hà xòe hai tay, vẻ bất lực.
“Nhưng, nhưng dù gần đây Tiền Quan Sách có mua một con chó sứ, thì cũng không thể nói con chó bị vỡ trong phủ công chúa có liên quan đến con của ông ta! Huống hồ chó sứ thì liên quan gì đến vụ án của công chúa?”
“Đương nhiên liên quan rất nhiều. Có thể nói, cái chết của công chúa, đều do con chó sứ này.” Nói đoạn, Hoàng Tử Hà thận trọng bọc cả hai con lại.
Vương Uẩn thấy cô tất bật thì mỉm cười hỏi: “Sùng Cổ, vụ án Tôn ghẻ lần trước hai vị đi suốt đêm điều tra, giờ thế nào rồi?”
“Vẫn… chưa có tiến triển gì.” Chu Tử Tần nằm bò ra bàn, chán nản đáp: “Đại Lý Tự đã kết án là Tiền Quan Sách mượn cớ sửa sang đường nước, rồi theo đường nước lẻn vào giết người, nhưng vụ này vẫn còn cả đống nghi vấn chưa giải thích được.”
Vương Uẩn hỏi: “Ví như mùi linh lăng hương ta ngửi thấy ở đó ư?”
“Ừm, dĩ nhiên.” Chu Tử Tần thành thật gật đầu.
Lý Thư Bạch hỏi chen vào: “Linh lăng hương gì cơ?”
Vương Uẩn liền giải thích: “Tối hôm ấy Tích Thúy chức đi tuần thì gặp họ đi tra án, bèn theo xem thử. Những chuyện khác thì ty chức không biết, nhưng ở hiện trường lại ngửi thấy mùi linh lăng hương. Về mặt này ty chức cũng hiểu biết qua loa.”
“Ngươi là kẻ bình phẩm hương giỏi nhất kinh thành, nếu nói là chỉ biết qua loa, thì ai dám nhận mình sảnh sỏi nữa? Trong nhà Tôn ghẻ quả có mùi linh lăng hương ư?”
“Đúng thế, ngửi thấy mùi linh lăng hương trong căn nhà nát đó, ty chức cũng hết sức ngạc nhiên. Nhưng ty chức nhớ
nhất là mùi linh lăng hương ở đó bị lẫn với đủ thứ mùi, rất khó nhận ra. Nhớ đến thứ mùi nồng nặc khiến người ta lợm giọng trong nhà Tôn ghẻ, Vương Uẩn nhăn mặt.
Chu Tử Tần quay sang hỏi Hoàng Tử Hà: “Công công xem có nên tới nhà Tôn ghẻ lần nữa không?”
“Ừm, trong ba vụ, tôi chỉ còn khúc mắc mỗi vụ này thôi, nếu tìm ra được cách hung thủ sát hại Tôn ghẻ trong phòng kín thì có thể kết án rồi.”
Lý Thư Bạch sực nhớ ra một chuyện, liền bảo: “Dương Sùng Cổ, ngươi cầm lệnh tín phủ Quỳ đi bảo lãnh cho Tích Thúy ra đi.”
Hoàng Tử Hà ngạc nhiên nhìn y, rồi gật đầu đầy cảm động: “Thưa vâng.”
Giờ Tiền Quan Sách là nghi phạm lớn nhất, Tích Thúy tuy có liên quan tới hai vụ đầu, nhưng Đại Lý Tự từ lâu đã không còn hoài nghi nàng. Nay có Quỳ vương ra mặt bảo lãnh cho, huống hồ Lý Thư Bạch còn kiêm nhiệm Đại Lý Tự khanh, Tích Thúy hoàn toàn có thể về nhà đợi khi nào xử án sẽ cho truyền gọi.
Chu Tử Tần thở dài: “Tích Thúy cũng thật là, kết án xong, chắc chắn cô ấy sẽ bị khép tội khai man rồi phạt trượng cho coi.”
Vương Uẩn cười nói: “Lo gì, tới lúc đó vương gia chỉ cần nói một câu với Thôi thiếu khanh, để thiếu khanh nhắc nhở
người phạt trượng là xong mà.”
“Tôi là người chính trực, làm sao hiểu nổi mấy thủ đoạn đó của các người.” Chu Tử Tần vỗ trán than vãn.
Thấy Hoàng Tử Hà đã ra đến cửa, Vương Uẩn bèn đứng dậy theo: “Ta cũng phải về Tả Ngô Kim Vệ, cùng đường với Dương công công, để ta đi cùng công công!”
“Đi với đi với!” Chu Tử Tần bật dậy, “Tôi cũng phải đi lấy lòng Tích Thúy, bằng không lấy đâu đồ ngon mà ăn!”
Ba người cùng xuống lầu, chỉ còn mình Lý Thư Bạch đứng bên song cửa sổ nhìn xuống dưới.
Chu Tử Tần đi bên trái Hoàng Tử Hà, vừa đi vừa nhảy chân sáo, hoa chân múa tay ba hoa gì đó.
Vương Uẩn đi bên phải Hoàng Tử Hà, thỉnh thoảng lại nghiêng đầu nhìn cô, nở nụ cười ôn hòa quen thuộc.
Lý Thư Bạch đứng trên lầu nhìn theo cho tới khi cả ba ra khỏi chợ Tây. Ánh nắng gay gắt khiến cả thành Trường An sang rực lên, xói vào mắt y chói lóa.
Cảnh Dục và Cảnh Hữu đứng phía sau chẳng hiểu sao y đột nhiên quay ngoắt đi, không nhìn ra bên ngoài nữa.
Sau khi dừng ở cửa chợ Tây bàn bạc, ba người quyết định chia làm hai ngả, Chu Tử Tần đến phường Phổ Ninh báo tin cho Trương Hàng Anh, còn Vương Uẩn và Hoàng Tử Hà tới Đại Lý Tự trước.
Hoàng Tử Hà bảo Vương Uẩn: “Tôi chạy ù sang bên này một lát,” đoạn rẽ vào tiệm nhang đèn nhà họ Lữ.
Lão Lữ vẫn ở sau tiệm, lại đang hì hục làm một cây nến lớn, giống hệt cây bị nổ lần trước, chỉ thiếu chưa vẽ hoa văn và quết màu lên.
Hoàng Tử Hà lặng lẽ đứng ngoài quan sát, không bước vào, cũng không lên tiếng. Lão Lữ đã gần sáu mươi tuổi, nheo nheo cặp mắt mờ đục, còng lưng ngồi tỉ mẫn vẽ hình rồng phượng và hoa lá lên nến. Giữa ngày hè nóng hầm hập, lão cầm bảng màu trên tay, thỉnh thoảng còn phải lại gần lò lửa khuấy sáp lỏng.
Hơi nóng bốc lên nghi ngút, cả người lão Lữ đầm đìa mồ hôi, bộ áo chẽn nâu ướt sũng, xong lão vẫn chăm chú vẽ nến, vô cùng thành kính, không chút cẩu thả.
Vương Uẩn nhìn lão rồi nhìn sang Hoàng Tử Hà hỏi khẽ: “Sao thế?”
Hoàng Tử Hà thở dài đáp: “Không có gì. Tôi nghĩ hôm nay Tích Thúy được thả, không biết có nên báo cho cha cô ấy một tiếng không.”
“Cha con đoàn tụ là chuyện đương nhiên, phải không nào?”
Nghe Vương Uẩn nói vậy, Hoàng Tử Hà bèn cùng y bước vào tiệm, chào Lữ Chí Nguyên: “Lão Lữ.”
Lữ Chí Nguyên nheo mắt ngước lên, chẳng biết có nhận ra cô hay không, chỉ lạnh nhạt ậm ừ: “Ồ, là quý khách.”
“Ta đến báo tin mừng cho ông, Lữ Tích Thúy con gái ông hôm nay sẽ được thả, ông có muốn tới gặp cô ấy không?”
Bàn tay Lữ Chí Nguyên thoáng khựng lại, nhưng rồi vẫn thoăn thoắt vẽ tiếp: “Được thả à? Được thả thì tốt rồi, cứ sợ nó làm liên lụy đến lão.”
Hoàng Tử Hà biết tính lão già này nên cũng chẳng nhiều lời nữa, chỉ đứng ngắm nghía cây nến một hồi, chợt buột miệng:
“Sắp xong rồi đấy nhỉ?”
Lữ Chí Nguyên chẳng buồn đáp, lão vốn sẵn ghét hoạn quan.
Vương Uẩn đang ngắm một đôi nến hoa trong tiệm, chợt gọi cô: “Sùng Cổ lại mà xem.”
Đôi nến hoa nọ cao chừng một thước, hình thù rất đặc biệt, một cây hình rồng, cây kia hình phượng, mỗi chiếc vảy sợi lông một màu khác nhau, chỉ riêng màu đỏ đã có đỏ nhạt đỏ thẫm đỏ son đỏ thắm đỏ phớt, vô vàn sắc độ màu đều do một tay lão Lữ chế ra, thực khiến người ta phải trầm trồ. Tài điêu khắc của lão lại càng tuyệt diệu, đôi rồng phượng trông sống động như thật, bừng bừng khí thế, trên đầu mỗi con đính một sợi bấc, dọc thân trang trí vô số hoa lá, lục lạc bằng những mảnh đồng, quả là muôn màu muôn vẻ, lấp lánh rạng ngời, khiến người ta không ngăn được ý nghĩ, chẳng biết khi đốt lên còn đẹp đến đâu.
Thấy đôi nến tinh xảo nhường ấy, Vương Uẩn ngoái lại hỏi: “Ông chủ có bán đôi nến này không?”
“Không bán.” Lão từ chối thẳng thừng.
Vương Uẩn cũng chẳng lấy thế làm điều, chỉ cười cười nói: “Thứ này bày trong tiệm, đúng là bảng hiệu đẹp nhất rồi.”
Lúc hai người bước ra cửa, chợt có cơn gió thổi qua khiến mấy chiếc lục lạc trên thân nến rung lên khe khẽ, những cánh hoa phiến lá bằng đồng cũng lay động tạo thành tiếng leng keng ngân nga như tiên nhạc.
Hoàng Tử Hà bất giác ngoái lại nhìn đôi nến.
Vương Uẩn đi bên cạnh, chợt nói khẽ: “Nếu cô thích, sau này cũng có thể đặt ông ta làm một đôi như vậy dùng khi hai ta
thành hôn.”
Hoàng Tử Hà bỗng thấy lòng ngập đầy bối rối xen lẫn kinh ngạc, hai má đỏ bừng, nhưng đồng thời, cô lại có cảm giác nhói lạnh như bị kim châm đâm thẳng vào tứ chi, khiến thân hình không sao cử động.
Thấy cô cứng đờ người, Vương Uẩn chỉ liếc nhìn rồi mỉm cười, nụ cười gượng gạo mà bao dung, giọng nói vẫn dịu dàng như thế: “Ta đùa thôi, chuyện đó chờ đến khi phá được vụ án của gia đình cô rồi tính, được không nào?”
Cô chẳng biết mình nên gật hay lắc đầu nữa.
Người trước mặt biết rõ cô đã ô danh đến nhường này, còn biết cô luôn bị đàm tiếu về chuyện Vũ Tuyên, nhưng vẫn bỏ
qua tất cả.
Lâu thật lâu, cô mới nghèn nghẹn đáp: “Được, đợi khi nào phá xong vụ án của gia đình tôi…”
Rồi như bị chính những lời mình vừa thốt ra đánh thức, cô sực tỉnh.
Hoàng Tử Hà, từ khi cha mẹ người thân qua đời ngươi đã thề rằng vĩnh viễn không để bất cứ việc gì ảnh hưởng đến mình nữa, quyết tâm vứt bỏ tất cả dịu dàng quyến luyến, cắt đứt vương vấn nhớ nhung, chỉ dốc lòng báo thù cho cả nhà, chẳng phải thế ư?
Vũ Tuyên, Vương Uẩn, đều không phải vấn đề cần xét đến bây giờ.
Nghĩ vậy, cô ngẩng lên cười với Vương Uẩn, giọng hơi khàn, nhưng ngữ điệu hết sức bình thản: “Vương đô úy khéo đùa, tôi là hoạn quan trong vương phủ, đời này còn thành hôn với ai được nữa?”
Vương Uẩn sững người, rồi bật cười tự giễu: “Đúng thế… Ta đùa vô ý rồi.”
Họ rời tiệm nhang đèn, lại ghé qua tiệm ngựa Tiền ký gần đó. Chưởng quầy vừa thấy Vương Uẩn vội vỗn vã chạy ra đón: “Ôi chao, Vương đô úy! Hôm nay đô úy đại giá quang lâm mà bổn tiệm thất lễ, không kịp ra ngoài nghênh tiếp rồi.”
Tiệm ngựa Tiền ký đã mấy lần bán ngựa cho Tả Kim Ngô Vệ nên chẳng lạ gì nhau, mấy người làm bên trong tức thì chạy ra đón họ vào, lăng xăng bày quả pha trà.
Vương Uẩn thấy vậy liền ngăn lại: “Ta chỉ đi ngang qua thôi, không cần bày vẽ.”
“Ôi, thực xin lỗi Vương đô úy, đô úy xem đấy, Tiền lão gia bị bắt giam rồi, chúng tôi thật không biết phải làm thế nào nữa…” Chưởng quầy đang than vãn thì Tiền phu nhân và ba đứa con từ nhà sau chạy đến, khóc lóc thảm thiết vật nài Vương Uẩn giúp đỡ.
Vương Uẩn xưa nay ôn hòa lễ độ, thấy họ kêu khóc như thế đành gượng cười phân trần: “Chuyện này ta không can thiệp được, các vị thử đến Đại Lý Tự kêu oan đi.”
“Vị…Vị quan sai này lần trước từng đến tìm lão gia, nghe nói là người của Đại Lý Tự!” Người hầu trỏ ngay Hoàng Tử
Hà, bảo với chưởng quầy và phu nhân.
Lập tức cả nhà họ Tiền từ trên xuống dưới liền xúm lấy cô, Tiền phu nhân còn khóc nức lên: “Lão gia nhà chúng tôi là người tốt, hàng ngày làm gì cũng cẩn trọng, sao có thể giết người chứ…”
Hoàng Tử Hà vội đỡ Tiền phu nhân dậy: “Thực ra ta tới đây cũng có chuyện muốn hỏi, chẳng rõ các vị có biết viên cai thầu đã sửa sang nhà cửa cho Tôn ghẻ không?”
Chưởng quầy vội đáp: “Sổ sách về sửa sang phòng ốc đều để ở ngay nhà bên cạnh đây, tiểu nhân sẽ đi tìm ngay, xem hôm đó ai đến nhà họ Tôn.”
“Nếu tiện thì ông mời người đó đến ngay nhà họ Tôn ở phường Đại Ninh cho, ta còn bận chút việc, làm xong sẽ tới đó đợi ông ta.”
“Vâng vâng, tiểu nhân sẽ bảo ông ta đến ngay.”
Lòng vòng mãi, khi Hoàng Tử Hà và Vương Uẩn đến Đại Lý Tự đã thấy Chu Tử Tần và Trương Hàng Anh đợi ở đó, Trương Hàng Anh đang ẵm một đứa bé, sau lưng còn hai người lạ mặt, một nam một nữ.
“Anh trai chị dâu tôi dẫn thằng bé sang chơi, nghe nói là đi đón A Địch, bèn cùng đi luôn.” Trương Hàng Anh giới thiệu.
Anh trai Trương Hàng Anh tên Trương Hàng Vĩ, dáng người cao to không kém em trai. Hai vợ chồng y rụt rè cười: “A Địch là người nhà chúng tôi, đương nhiên phải đi đón cô ấy về.”
Chu Tử Tần xen vào: “Trương lão gia cứ khăng khăng đòi đi, nhưng ông ấy vừa khỏi bệnh, chúng tôi phải khuyên ngăn mãi, nếu không lão gia cũng đến rồi.”
Thấy nhà họ Trương thật lòng yêu thương Tích Thúy như thế, Hoàng Tử Hà cũng nhẹ lòng, bèn mỉm cười gật đầu: “Mọi người đợi cho một lát, tôi vào đón A Địch ra.”
Thực không ngờ Thôi Thuần Trạm vẫn ở nha môn chưa về nhà, hơn nữa trông còn rất vui vẻ, vừa thấy cô đã tươi cười hỏi: “Dương công công lại phụng lệnh vương gia ư?”
Hoàng Tử Hà hành lễ rồi đưa lệnh tín của Quỳ vương phủ ra: “Vương gia nói vụ này đã tìm được kẻ bị tình nghi nhiều hơn, huống hồ khi công chúa qua đời, Lữ Tích Thúy đang bị giam, không có khả năng gây án, nên sai tôi đến thương lượng với Thôi thiếu khanh xem có nên cho Lữ cô nương về nhà chờ thẩm vấn không, chứ cứ giữ cô ta mãi như vậy có phần không ổn lắm.”
“Ồ, chuyện này đơn giản mà.” Thôi Thuần Trạm quay sang bảo viên tri sự bên cạnh mang một tờ đơn đến để Hoàng Tử
Hà điền vào, rồi đích thân cùng cô đi thả Lữ Tích Thúy.
Dọc đường đi qua mấy gian phòng bỏ không, Hoàng Tử Hà thuận miệng hỏi: “Không biết Tiền Quan Sách bị giam ở
đâu?”
“Hắn ta ấy à? Chuyển đến đại lao bộ hình rồi.” Thôi Thuần Trạm thản nhiên đáp: “Nhân chứng vật chứng đầy đủ, sáng nay hắn đã cung khai rồi.”
Hoàng Tử Hà sững sờ: “Khai rồi ư?”
“Đúng thế.” Bị đôi mắt trong veo như soi thấu tất cả của cô nhìn chằm chặp, Thôi Thuần Trạm chột dạ ngoảnh đi, né tránh ánh mắt cô, hạ giọng nói: “Dương công công, vụ này… kết thúc rồi. Phá án nhanh như thế, chứng cứ lại rõ ràng, thánh thượng và Quách thục phi đều hài long, Đại Lý Tự lập được công lớn, bộ Hình cũng có cái mà ăn nói, không phải kết cục tốt nhất hay sao?”
Hoàng Tử Hà đứng lặng dưới mái hiên mờ tối, hồi lâu mới cất tiếng: “Tiền Quan Sách… Làm thế nào mà khai?”
“Làm thế nào, công công còn không biết ư?” Thôi Thuần Trạm dán mắt nhìn xuống nền gạch xanh dưới mái hiên, thở dài bất lực: “Bộ Hình phái một tay lệnh sử(*) lợi hại nhất đến, đem theo cả bộ đồ nghề. Nghe nói hắn đã tra tấn hơn một trăm hai mươi người, không kẻ nào không khai nhận, Tiền Quan Sách cũng… chẳng phải ngoại lệ.”
(*) Chức vụ phụ tá cho huyện lệnh. Lệnh sử có thể làm nhiều công việc, viên lệnh sử được nói tới ở đây là đến trak hảo.
Hoàng Tử Hà nhíu mày: “Hắn nhận cả việc giết công chúa ư?”
“Nhận rồi. Chiều qua nhận giết Tôn ghẻ, đến tối nhận Ngụy Hỷ Mẫn, sáng sớm nay thì khai nhận sát hại công chúa.”
Hoàng Tử Hà thấy lòng lạnh buốt, thẫn thờ thốt lên: “Quả là thủ đoạn ghê gớm.”
“Bản án đã được cấp tốc sao chép lại, trình lên hoàng thượng, hẳn lát nữa trong cung sẽ có ý chỉ truyền ra.”
Thì ra hôm nay Thôi thiếu khanh ăn trưa xong còn chưa về nhà, là vì phải đợi ý chỉ.
Hoàng Tử Hà trầm ngâm, chợt nghe sau lưng có tiếng xích sắt xủng xoảng, rồi Tích Thúy được dẫn ra. Bị giam mấy ngày, nàng có phần tiều tụy ngơ ngác, trông thấy Hoàng Tử Hà mới gượng gạo mỉm cười.
“Lữ Tích Thúy, hôm nay ngươi được phủ Quỳ vương bảo lãnh, tạm thời cho về phường Phổ Ninh. Trước khhi bản án kết thúc, nếu bộ Hình và Đại Lý Tự cần thẩm vấn, sẽ cho triệu đến, rõ chưa?”
“Thưa, rõ.”
Hoàng Tử Hà giúp nàng gấp hết chăn màn Trương Hàng Anh đem đến, ôm theo ra khỏi Đại Lý Tự.
Vừa rời Đại Lý Tự, Tích Thúy đã trông thấy Trương Hàng Anh đứng đợi bên ngoài, tức thì lộ vẻ mừng rỡ xen lẫn buồn thương, nức nở gọi: “Trương nhị ca!”
Trương Hàng Anh vội đặt đứa bé xuống, chạy như bay lên thềm, ấp chặt hai tay Tích Thúy trong lòng bàn tay mình áp lên ngực, đăm đăm nhìn nàng hồi lâu mới nghẹn ngào bảo: “A Địch, chúng ta… về nhà thôi.”
Những người đứng đó thấy hai người như vậy đều mỉm cười đầy thấu hiểu. Ngay cả đứa bé được chị dâu Trương Hàng Anh dắt cũng giơ tay vẫy vẫy Tích Thúy: “Tỷ tỷ… Tỷ tỷ…”
Rồi, nó đột ngột quay đi, gập người xuống gọi với ra ngoài cửa nha môn: “Ca ca, ca ca!”
Thấy đứa nhỏ sắp vùng ra, anh trai Trương Hàng Anh vội chạy đến bế xốc nó lên, quay đầu nhìn ra đường.
Chỉ thấy một nam tử dáng người dong dỏng vừa đi ngang qua gốc du bên đường, nghe đứa bé gọi, liền quay đầu nhìn sang bên này.
Con phố hết sức bình thường, chỉ vì một cái ngoái đầu này mà sang bừng lên.
Ánh mắt Hoàng Tử Hà sững lại trên mặt hắn, hơi thở cũng ngưng một nhịp. Nắng hè chói chang, nóng như lửa đốt, còn lòng cô đau đớn như nghẹt thở.
Giữa ngày hè nóng bức, người kia lại toát ra khí chất thanh tĩnh mát lạnh, không vướng bụi trần, dáng dấp cao gầy như
một cây trúc non, tỏa hào quang nhàn nhạt.
Hắn mỉm cười tiến lại, giơ tay ôm lấy đứa nhỏ cứ nhoài người về phía mình, đùa với nó: “Ra là A Bảo, còn nhớ ca ca ư?”
Hoàng Tử Hà lặng lẽ lùi lại một bước, nấp sau gốc đại thụ ở cửa Đại Lý Tự, tránh phá vỡ bầu không khí.
Người nhà họ Trương nhận ra hắn là ân nhân đã đưa đứa bé về nhà, vội chạy lại cảm tạ.
Vũ Tuyên giơ tay che nắng cho đứa bé, rồi ẵm nó đến dưới bóng cây. Chu Tử Tần vội sán đến, ngưỡng mộ hỏi: “Không biết huynh đài tên họ là gì? Lần trước nghe Trương nhị ca tả huynh là một nhân vật như thần tiên, ta còn không tin, hôm nay tận mắt chứng kiến mới thấy quả không sai!”
Vũ Tuyên nghe nói chỉ cười đáp: “Chuyện vặt ấy mà, đâu đáng nhắc đến.”
Rõ ràng là hắn không định tiết lộ tên họ, xong Chu Tử Tần vẫn bám nhằng nhẵng: “Ta tên Chu Tử Tần, nhà ở phường Sùng Nhân, cạnh mộ Đổng Trọng Thư, chẳng hay huynh đài tên họ là gì, sống ở đâu? Ta có khá nhiều bạn bè trong kinh, chắc chắn họ sẽ rất mến huynh, sau này chúng ta có thể hẹn nhau ngâm thơ làm văn, nghe nhạc uống rượu, du sơn ngoạn thủy, đi chơi xuân, đánh mã cầu… Phải rồi, tôn tính đại danh huynh đài là gì vậy, ta phải xưng hô thế nào đây?”
Gặp phải hạng người dai dẳng thế này thực chẳng có cách nào thoát nổi, hắn đành đặt đứa bé xuống, chắp tay hành lễ:
“Tại hạ Vũ Tuyên, là học chính Quốc Tử Giám.”
“Gì cơ? Huynh là học chính Quốc Tử Giám?” Chu Tử Tần giật nảy mình, “Bất công hết chỗ nói! Sao năm xưa ta ở Quốc Tử Giám, toàn gặp phải mấy lão đầu râu tóc bạc! Nếu bấy giờ có một học chính như huynh, thì ta đâu đến nỗi phải trốn học đi chọc tổ chim chứ?”
Vũ Tuyên giải thích: “Tại hạ mới được tiến cử vào kinh chừng một tháng thôi. May mắn lọt mắt xanh của tế tửu Quốc Tử
Giám nên tạm thời được phân giảng dạy phần Chu Lễ.”
“Huynh giỏi thật đấy! Trẻ thế này mà đã làm học chính Quốc Tử Giám rồi! Ta đến giờ còn chưa thuộc hết Chu Lễ nữa!”
Nói đến đây. Chu Tử Tần chợt sững ra, hỏi lại: “Vũ Tuyên… học chính Quốc Tử Giám ư?”
Hắn gật đầu, không nói gì thêm.
Nhìn vẻ tò mò pha lẫn kinh ngạc của Chu Tử Tần, Hoàng Tử Hà biết gã đang nghĩ đến lời đồn đại về quan hệ khác thường giữa Đồng Xương công chúa và Vũ Tuyên lâu nay vẫn xôn xao kinh thành.
Nỗi buồn âm thầm len vào lòng, cô mệt mỏi tựa vào thân cây, lặng lẽ lắng nghe hơi thở của mình.
Vũ Tuyên không để ý tới ánh mắt lạ lùng của Chu Tử Tần, chỉ cười cúi xuống xoa đầu A Bảo rồi cáo từ hai anh em họ
Trương: “Tôi còn có việc ở Quốc Tử Giám, phải đi trước đây.”
Trương Hàng Anh vội kéo Tích Thúy lại giới thiệu: “Đây là… vợ chưa cưới của tôi, chúng tôi sắp thành hôn, tới khi ấy mời huynh đến uống chén rượu mừng, huynh không được từ chối nhé.”
Vũ Tuyên nhìn Tích Thúy rồi gật đầu cười, không nói gì.
A Bảo cứ nắm chặt lấy tay hắn, ríu rít gọi: “Ca ca, ca ca…”
Vũ Tuyên bèn quay lại, ngồi xuống nhìn vào mắt A Bảo mỉm cười dỗ dành: “Ngoan nào, A Bảo thích ăn gương sen đúng không? Để ca ca đi tìm xem, nếu thấy sẽ mua về cho A Bảo, được không nào?”
A Bảo nghiêng đầu nghĩ ngợi, rồi buông tay ra, gật đầu lia lịa: “Được, A Bảo muốn hai cái cơ.”
“Ba cái cũng được.” Vũ Tuyên cười, xoa đầu A Bảo, đứng dậy hành lễ cáo từ rồi quay người đi thẳng, sau khi ngoặt vào một con hẻm thì khuất bóng.
Chu Tử Tần ngưỡng mộ bình phẩm: “Đúng là khéo dỗ trẻ con.”
Hoàng Tử Hà dựa vào gốc cây, nói khẽ như tự lẩm bẩm: “Đúng thế… rất giỏi gạt trẻ con, từ xưa đến giờ vẫn vậy.”
Trong nháy mắt, cô chợt thấy thoáng qua quang cảnh một buổi chiều hè, hoàng hôn rực rực rỡ, gió sen lồng lộng. Vũ
Tuyên cúi xuống còn cô ngước lên, thấy rõ hình bóng mình in trong đáy mắt sâu thẳm mênh mang của hắn, có điều, ảo ảnh ấy chỉ vụt qua rồi biến mất.
Cô hít một hơi thật sâu, xác nhận mình đã bình tĩnh lại, mới từ sau gốc cây đi ra.
Chu Tử Tần vừa thấy cô đã liến thoắng khoe: “Sùng Cổ! Vừa nãy công công đi đâu thế? Có thấy người vừa rồi không?
Ta sống sở Trường An hai mươi năm nay, chưa từng gặp ai phong tư trác tuyệt, khí độ thanh cao như thế, nếu công công không thấy thì thực đáng tiếc!”
Hoàng Tử Hà đang không biết trả lời thế nào thì một thót ngựa từ phía cung Đại Minh chạy tới, người trên ngựa nhảy xuống lao thẳng vào trong: “Thánh thượng có khẩu dụ, Đại Lý Tự thiếu khanh Thôi Thuần Trạm ở đâu?”
Thôi Thuần Trạm lật đật chạy ra tham kiến: “Công công, không biết thánh thượng hạ ý chỉ thế nào?”
Vị công công nọ tên Phùng Nghĩa Toàn, hầu hạ bên ngài ngự, giọng sang sảng như chuông đồng, vừa cất tiếng đã vang khắp trong ngoài nha môn: “Thánh thượng có chỉ, tội phạm giết hại Đồng Xương công chúa bị lăng trì tùng xẻo, tịch thu gia sản, cả nhà bất luận già trẻ lớn bé đều xử trảm.”
Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần nhìn nhau, không giấu được vẻ ngạc nhiên.
Trương Hàng Anh và Lữ Tích Thúy nắm chặt tay nhau, đều cảm thấy tay người kia dấp dính mồ hôi lạnh.
Chu Tử Tần ghé tai Hoàng Tử Hà hỏi nhỏ: “Chúng ta còn điều tra nữa hay thôi?”
Hoàng Tử Hà hỏi lại: “Công tử nói xem?”
“Chân tướng vụ án còn chưa rõ, sao có thể bỏ qua?” Chu Tử Tần bừng bừng nhiệt huyết, siết chặt hai tay đặt lên ngực.
Hoàng Tử Hà gật đầu: “Đi thôi.”
“Đi đâu?”
“Tới phường Đại Ninh, nhà Tôn ghẻ.”
19
Than thở trăm năm
Lúc Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần đến nhà họ Tôn, đã thấy một người đàn ông trung niên cao to thuần hậu bồn chồn đứng đó đợi. Nhác thấy bóng họ, ông ta vội bước lên đón: “Dương công công phải không? Tiểu nhân là Chử Cường, người làm ở tiệm ngựa Tiền Ký, lần trước chính tôi cùng các anh em dưới quyền sửa nhà cho Tôn ghẻ.”
“A, là cai thầu Chử.” Trong lúc Hoàng Tử Hà chào hỏi ông ta, Chu Tử Tần đã nhanh nhẹn gỡ giấy niêm phong trên cửa ra.
Đồ đạc bên trong vẫn y nguyên như lần trước, chỉ là mấy hôm đóng kín cửa, không khí trong nhà càng hầm hập như
nung, mùi hôi xộc nên nồng nặc.
Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần lại rà soát cửa sổ và nền đất một lượt, rồi bảo Chử Cường: “Các vị làm khá thật, cửa sổ
rất chắc chắn.”
“Thưa vâng, thế nên tiệm Tiền Ký mới lấn sang lĩnh vực sửa sang nhà cửa chưa lâu, nhưng đã có tiếng trong kinh, mọi người đều tín nhiệm!” Chử Cường tự đắc vỗ vào ván cửa sổ bằng gỗ bản: “Công công xem, nếu cài chốt vào thì gậy sắt cũng không đánh bật ra được! Cái then này chấp cả bốn năm trai tráng cũng đừng hòng xô gãy!”
Hoàng Tử Hà gật đầu tán đồng, rồi đứng dậy đi một vòng quanh nhà.
Phòng ốc vẫn lộn xộn ngổn ngang, tường treo đầy bùa chú, tượng Phật, tượng gỗ. Chử Cường chỉ những thứ này nói:
“Lúc chúng tôi tới đã thất mấy thứ này rồi. Tôn ghẻ có tật giật mình nên đem treo khắp nơi trong nhà, nói là sợ trời phạt!”
Hoàng Tử Hà hỏi: “Ông biết hắn ta không có tiền, lại chẳng phải hạng tử tế gì, sao còn nhận lới sửa nhà giúp?”
“Ôi chao, chẳng vẫn nghe đồn tên Tôn ghẻ này rủng rỉnh tiền của ư, lão Lữ ở tiệm nhang đèn kể rằng đã được hắn bồi thương rất nhiều tiền, nên mới tha cho đấy. Ai ngờ tên khốn này đền tiền xong thì chẳng còn xu nào nữa, hại tôi bị ông chủ
Tiền mắng như tát nước vào mặt, giờ người chết rồi, nợ biết đòi ai!” Chử Cường hối hận ra mặt, hậm hực nhận xét: “Lão Lữ
cũng chẳng tử tế gì, vốn đã đi theo để đặt đế đèn, vừa thấy là nhà Tôn ghẻm lão liền biến sắc, trỏ mặt họ Tôn chửi cho một chặp rồi đi thẳng, chẳng thèm đặt đế đèn nữa, thế mà không hề hé răng bảo cho tôi biết Tôn ghẻ đã hết tiền!”
Chu Tử Tần không hứng thú với việc tranh chấp tiền nong, nhân lúc hai người trò chuyện, gã lần lượt gỡ hết những tấm bảng phổ độ chúng sinh trên tường, tranh
Quán Âm ban con
treo trên đầu giường và mấy lá bùa nhăng cuội xuống xem, nhưng chẳng thấy lỗ hổng nào trên bức tường phía sau cả, liền hậm hực ra mặt.
Hoàng Tử Hà phân tích: “Mặt tường bằng phẳng như thế, làm sao có lỗ hổng bên trong được?”
“Biết đâu đấy.” Chu Tử Tần miệng nói, chân đã giẫm nên bậu cửa, định gỡ tấm bảng sắt
Mục Liên cứu mẹ
trên đỉnh khung cửa xuống, nào ngờ gỡ mãi không được,gã tiện tay gõ gõ mấy cái, phát hiện ra đó là một chiếc hộp dài rỗng không, gắn vào tường.
Chử Cường vội ngăn lại: “Ồ, cái đó không gỡ xuống được đâu, hộp sắt đặt trong tường đó là cái giá đỡ khung cửa đấy.”
“Để làm gì vậy?” Chu Tử Tần hỏi.
Chử Cường giải thích: “Ban đầu là ông chủ Tiền nhà chúng tôi học được cái này ở chỗ mấy thương nhân Tây Vực, nghe nói bên đó họ thích đặt một chiếc hộp sắt rỗng, chạm trổ hoa văn rất đẹp, dài bằng chiều rộng cửa lên đỉnh khung cửa, coi
như đặt một miếng giảm xóc giữa khung cửa và bức tường, như vậy khung cửa sẽ không bị biến dạng. Về sau trong kinh dẫn dần thịnh hành, chúng tôi đến xưởng rèn đặt làm hơn một trăm chiếc, chưa đầy năm đã sắp hết tới nơi. Cái này là tôi chọn bừa, hình khắc bên trên hình như là…
Mục Liên cứu mẹ
phải không?”
“Hình như thế.” Chu Tử Tần kê ghế đứng lên cao ngang tầm chiếc hộp quan sát rồi nhận xét: “Đúng là chạm rỗng, tiếc rằng cứ đen sì, nếu thêm ít sơn vào có phải đẹp không.”
Hộp sắt dài bằng chiều rộng khung cửa, cao chừng hai tấc. Mặt hướng vào trong chạm rỗng hình
Mục Liên cứu mẹ
, mặt hướng ra ngoài thì đặc ruột, vẽ hoa văn cát tường, xong đã nứt rạn đen sì, nhìn rất xấu xi.
“Đương nhiên là phải sơn rồi… Ô, rõ ràng lúc gắn lên, tôi gắn cái mới cho hắn kia mà, kẻ nào lại đổi thành thứ đen kịt như đã dùng mấy năm vậy?” Chử Cường ngẩng lên nhìn chiếc hộp đèn sì, nhíu mày: “Sao thế nhỉ, mới mấy hôm mà đã ám khối đen sì thế này rồi? Lúc trước có hoa văn sặc sỡ mà.”
Chu Tử Tần nhìn qua lớp hoa văn chạm rỗng vào bên trong hộp, cũng cau mày: “Bẩn quá… Toàn là tro than.”
Hoàng Tử Hà lật đật bê ngay một chiếc ghế kê cạnh ghế của Chu Tử Tần rồi trèo lên nhìn vào trong hộp. Chỉ thấy lớp sơn bên ngoài cháy đen như bị lửa thiêu, bên trong hộp toàn tro, ở góc còn có mất vết ngón tay quẹt qua.
“Có người thò ngón tay qua lỗ hổng, lấy thứ bên trong ra.” Hoàng Tử Hà nhận xét, rồi ngoái lại hỏi Chử Cường: “Cái hộp này mở ra được không?”
“Hộp bằng sắt mỏng ấy mà, muốn mở thì lấy kéo cắt ra là xong.”
Chu Tử Tần tìm được một cây kéo gỉ ngoèn, bèn cắt rời hoa văn
Mục Liên cứu mẹ
ra, trong hộp chỉ có một cái khung sắt và lớp tro dày, trên lớp tro còn in hằn một vài vết tích.
Chu Tử Tần trỏ một vết khá lớn nhận xét: “Nhìn cái này này, có vẻ vật bị lấy ra là hình tròn.”
Lại trỏ một vết dài mảnh: “Nhìn cái này, thì có vẻ là thứ gì đó làm bằng sợi sắt mảnh.”
Hoàng Tử Hà nhíu mày, săm soi dấu vết hình tròn khá lớn kia: “Nhìn độ lớn này, công tử có thấy là không thể móc một vật hình tròn to như thế qua lỗ hổng bé thế này không?”
Chu Tử Tần dùng ngón tay ước lượng độ lớn của vật tròn, rồi lại gí ngón tay đo chiều rộng lỗ hổng trên mặt hộp sắt mà mình vừa cắt rời ra, ngỡ ngàng nhận xét: “Đúng thật… Chỗ lỗ hổng lớn nhất cũng vẫn nhỏ hơn kích thước vật kia! Công công xem, dài mất là mấy đám mây này, phải đến hai ba tấc ấy, nhưng lại hẹp bề ngang…”
“Bởi vậy thứ đó nhất định không phải hình tròn, chỉ là cong cong thôi.” Vừa nói cô vừa quệt ít tro trong hộp ngửi thử, không giấu được nụ cười: “Linh lăng hương.”
Giữa gian phòng tranh tối tranh sáng, không khí lởn vởn bụi bặm, nụ cười vui sướng của cô vì vạch trần được âm mưu chợt bừng lên rạng rỡ, khiến Chu Tử Tần nhìn mà ngẩn ngơ.
Hoàng Tử Hà rút khăn tay ra, quệt ít tro đen trong hộp gói lại. Ngẩng lên thấy Chu Tử Tần vẫn đờ đẫn nhìn mình, cô buột miệng hỏi: “Sao thế?”
“Ờ…” Chu Tử Tần vội nhìn lảng đi nơi khác, luống cuống quệt vội ít tro, chống chế: “Ta cũng lấy một ít về kiểm nghiệm xem có phải linh lăng hương không.”
Rời phường Đại Ninh, Chu Tử Tần đi về hướng Tây Nam, còn Hoàng Tử Hà đi về hướng Đông Nam, mỗi người một ngả.
Đi đến phường Hưng Ninh, Hoàng Tử Hà chợt thấy rất nhiều người chậy rầm rập trên đường, có kẻ còn la lớn: “Mau tới Thập Lục trạch đi! Chậm là hết đó!”
Hoàng Tử Hà không hiểu chuyện gì, đương ngỡ ngàng chợt thấy một bà lão đang chạy thì bị đám đông xô ngã nhào, miệng kêu ôi chao. Cô vội chạy tới đỡ bà ta lên, hỏi: “Các vị chạy đi đâu vậy?”
“Ối chao, nghe nói thánh thượng và Quách thục phi đang rải tiền khắp phố ở khu Thập Lục trạch, gần phủ công chúa ấy.
Chúng tôi đi nhặt tiền chứ đi đâu nữa!”
Hoàng Tử Hà chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, đành chạy theo dòng người.
Đến nơi, thấy cả đám đông đang vây chặt cửa phủ,ai nấy đều lom khom nhặt gì đó dưới đất, cô đành níu một người đang nắm chặt vật vừa nhặt được trong tay hỏi: “Đại ca, nghe nói thánh thượng và Quách thục phi đang rải tiền, đúng không?”
“Rải tiền cái gì? Đúng là phàm tục!” Người trông như ăn sĩ nọ xòe tay ra cho cô xem. Trong lòng bàn tay ông ta là một đóa hoa cài đầu bằng bạc khảm trân châu, tinh xảo hoa mỹ, hẳn là đồ trang sức trong cung.
“Vừa rồi thánh thượng và Quách thục phi giá lâm phủ công chúa để xem điệu
Than thở trăm năm
mà Lý Khả Cập mới dựng, gấm đoạn trải dài suốt dọc đường thánh giá đi từ trong cung Đại Minh tới đây, mấy trăm người vừa ca vừa múa, hoa cài đầu rơi lả tả, những kẻ này đều kéo đến để nhặt đó.”
Hoàng Tử Hà sực hiểu ra, bèn lắng tai nghe, quả nhiên lẫn trong tiếng lao nhao của đám đông, vẫn loáng thoáng nghe thấy tiếng ca múa tờ bên trong vẳng lại.
Cô tránh cửa lớn, lánh đến nơi vắng người, quả nhiên nghe rõ mồn một tiếng mấy trăm người đồng ca. Âm điệu bi ai uyển chuyển khiến cô đứng xa xa nghe mà cũng thấy nao nao trong dạ, chạnh lòng buồn thương vô cớ.
Hoàng Tử Hà dựa vào tường, lặng lẽ ngẩng đầu nhìn trời. Chiều hạ lặng gió, tiếng ca sầu thảm từ xa đưa lại như cứa vào lòng, khiến nước mắt cô cứ thế lăn dài.
Tự thấy mặt mình nhạt nhòa nước mắt sẽ rất khó coi, cô lần tìm khăn tay để lau, nhưng lại sực nhớ ra khăn tay đã dùng gói mấy dúm tro tàn khi nãy. Cầm trong tay gói tro linh lăng hương, còn đang bần thần, Hoàng Tử Hà chợt thấy một chiếc khăn tay trắng muốt chìa ra từ phía sau.
Cô ngoái lại, mở to mắt, nhìn qua màn lệ nhạt nhòa.
Là Vũ Tuyên.
Hắn vận chiếc áo thiên thanh, đứng giữa con hẻm xám nhờ, màu sắc rất thanh nhã, dung mạo rất thuần tịnh.
Cô chầm chậm đưa tay nhận lấy chiếc khăn, ấp lên mặt.
Nước mắt nóng bỏng thấm vào lần vải mềm mịn, chẳng còn dấu vết.
Rồi như vừa bị rút cạn sức lực, Hoàng Tử Hà bất giác dựa người vào tường, vùi mặt trong chiếc khăn tay hắn đưa, thật lâu chẳng chịu ngẩng lên.
Trong chiếc khăn là mùi hương của hắn, nhẹ nhàng mà hư ảo, là đóa sen chớm nở ngày hạ, là nhụy mai rơi rụng mùa
đông, là lửa nóng, cũng là băng giá trong giấc mơ của cô.
“Ta trông thấy muội, từ lúc ở Đại Lý Tự.” Giọng hắn nhẹ nhàng cất lên, tuy còn hơi mơ màng, nhưng vẫn rành rọt lọt vào tai cô: “Muội nấp sau gốc cây, tránh mặt ta. Cũng phải, dù gặp mặt, thì có thể nói gì đây?”
Qua giọng nói chậm rãi ấy, cô nghe được rất rõ nỗi bi ai và lưỡng lự trong lòng hắn.
Hắn cũng như cô, hắn đang hồi tưởng lại những ngày đầm ấm bên nhau, những điều không thể quên, cũng không thể
chết.
“Ta đã gặp cô nương ấy, muội cứu cô ấy từ Đại Lý Tự ra đúng không?” Vũ Tuyên ngẩng lên nhìn những đóa mây trắng đến lóa mắt trên đầu, giọng chậm rãi mà xa xăm, “Dọc đường về, ta cứ nghĩ mãi. Nhớ lại năm xưa, chỉ vì một câu cần cân nhắc trên hồ sơ, muội cũng lặn lội ngàn dặm, đi suốt ngày đêm lật lại bản án giúp người dưng. Dù giờ đây phải gánh đủ thứ
tiếng xấu, bị dồn vào chân tường, muội vẫn dốc sức giúp đỡ người khác. Vậy mà kẻ thân thiết với muội nhất trên đời là ta lại khăng khăng cho rằng muội là hung thủ, thực… uổng phí tình cảm bấy nhiêu năm nay.”
Hoàng Tử Hà cắn môi nín lặng, nhưng bờ vai run bần bật đã bán đứng cô.
Vũ Tuyên thở dài, dịu dàng giữ lấy vai cô.
Trước đây, họ từng thân mật hơn thế này nhiều. Nhưng lâu ngày không gặp, lần đầu tiên chạm lại vào nhau, Hoàng Tử
Hà bất giác nghiêng người né tránh, khiến bàn tay Vũ Tuyên đang vươn ra bị hẫng.
Hồi lâu, hắn mới lặng lẽ rút tay lại, nói khẽ: “Muội không nên nói với ta nhưng lời ấy, cũng không nên làm những việc đó, nếu không ta đời nào tin muội gây ra chuyện tày đình như vậy, bất luận thế nào cũng không tin.”
Hoàng Tử Hà gập chiếc khăn lại, vẻ mặt bình thản, trừ khóe mắt hơi đỏ thì chẳng còn gì khác thường.
Cô hỏi ngược lại: “Muội đã… nói gì với huynh? Muội đã làm gì?”
Hắn nhìn cô chăm chú, giọng rất khẽ, xong lại hết sức rành rọt: “Đêm trước khi cả nhà muội qua đời, lúc muội từ Long Châu trở về, ta đến tìm, thấy… muội đang nhìn chằm chằm gói tỳ sương trong tay, vẻ mặt rất lạ.”
Hoàng Tử Hà tròn mắt ngạc nhiên nhìn Vũ Tuyên: “Gì cơ?”
“Đêm hôm đó, chính hôm muội vừa từ Long Châu trở về ấy. Ta còn nhớ muội gửi cho ta một bức thư, viết rằng vụ án ở
Long Châu là vì cô con gái bị người nhà chia uyên rẽ thúy, bèn bỏ cỏ đoạn trường vào thức ăn, đầu độc chết cả nhà. Muội còn bảo, nếu đôi ta lâm vào cảnh ngộ ấy, chẳng rõ muội có vứt bỏ người nhà, bước lên con đường không thể quay đầu hay không.” Ánh mắt Vũ Tuyên nhìn cô đầy đau đớn, “Đọc được câu đấy, ta rất lo lắng, thấy muội vừa về lại lấy tỳ sương ra xem, liền khuyên muội vứt đi, nhưng muội chỉ cất vào tủ khóa lại rồi nói, biết đâu thứ này có thể giúp đôi ta được ở bên nhau.”
Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng nhìn Vũ Tuyên, như nhìn một người xa lạ: “Muội nhớ chuyện ở Long Châu, cũng nhớ nội dung bức thư ấy, nhưng muội không nhớ mình từng lấy tỳ sương ra… càng không nhớ mình đã nói câu đó!”
Vũ Tuyên nhìn xoáy vào cô, ánh mắt sắc như dao, nhưng chỉ thấy mặt cô đầy vẻ ngạc nhiên và đau xót, chẳng có gì sơ
hở.
Mặt Vũ Tuyên hơi tái đi, hắn day day thái dương, hơi thở cũng nặng nề vì kích động, khó nhọc nói: “A Hà, xem ra, đúng là ta hiểu lầm hành động khi đó của muội rồi… Có điều lúc đó muội cầm gói tỳ sương, nét nặt rất đáng sợ, mà ngay tối hôm ấy, cả nhà muội lại chết vì tỳ sương… Muội bảo ta làm sao tin muội đây?”
“Không thể nào!” Hoàng Tử Hà run rẩy cắt lời, “Sau khi mua tỳ sương về, muội lập tức khởi hành đi Long Châu, tới tận lúc về cũng chưa động vào nó! Sao huynh lại thấy muội cầm gói tỳ sương được?”
Vũ Tuyên nhìn cô chằm chằm, con người tiêu sái thanh tinh như hắn, lúc này cũng lộ vẻ kinh hoàng, cứ lẩm bẩm mãi mấy chữ: “Không thể nào? Không thể nào…”
Nóng và lạnh, máu me và quạnh hiu, mệnh vận không thể đoán trước cùng ý trời khôn lường đều đổ sụp lên người họ.
“Dương Sùng Cổ.”
Phía sau chợt vang lên một giọng nói lạnh lùng đến gần như vô tình, phá vỡ bầu không khí im phắc như chết giữa hai người.
Hoàng Tử Hà ngoái lại, thấy Lý Thư Bạch đang đứng đầu ngõ bất động nhìn cả hai. Ánh sáng từ sau lưng y hắt lại, không trông rõ nét mặt y, chỉ thấy đường nét gương mặt toát lên áp lực vô hình, không thể trốn thoát.
Cuối cùng, cô nhìn thấy đôi mắt trong veo sâu thẳm của y, bỗng sực tỉnh khỏi trạng thái mơ màng ngơ ngẩn, nhận ra mình đang đứng giữa một con ngõ vắng tanh. Khúc
Than thở trăm năm
sâu thẳm vẫn vọng lại từ đằng xa, giục người rơi lệ, tiếng nhạc văng vẳng giữa bầu không, tựa hồ lấn át cả mây trời, khiến mấy ngừng trôi.
Vũ Tuyên phía đối diện dường như cũng đã định thần lại, tuy trán còn xâm xấp mồ hôi lạnh, nhưng vẻ mặt đã bình thản như thường.
Hắn cúi đầu hành lễ với Lý Thư Bạch rồi quay người bỏ đi, trước khi đi còn ngước nhìn cô.
Hoàng Tử Hà cũng lặng lẽ nhìn hắn, trên gương mặt tái nhợt là vô vàn ưu tư phức tạp, khiến cô ngập ngừng, muốn nói lại
thôi.
Vũ Tuyên khẽ hỏi: “Lần trước muội nói muốn về Thục tra rõ chân tướng ư?”
Hoàng Tử Hà gật đầu: “Muội nhất định sẽ về.”
“Vậy ta ở Thành Đô đợi muội.”
Ánh mắt Vũ Tuyên đăm đăm nhìn vào mắt cô, hệt như lần đầu gặp gỡ, hồi ấy cô còn chưa hiểu tình yêu là gì, nhưng khi nhìn vào đôi mắt đắm đuối của hắn, cô đã thấy bóng mình in trong đó.
Chẳng ai biết được, trong khoảnh khắc ấy, cô đã từ một cô bé trở thanh thiếu nữ.
Lúc Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà bước vào phủ Đồng Xương, đội múa
Than thở trăm năm
đã giải tán.
Trên nền đá sáng lóa dưới nắng, châu ngọc vương vãi khắp nơi càng lấp lánh chói mắt. Thi thể Đồng Xương công chúa đã nhập quan, nhưng trong phòng vẫn đặt đầy nhưng khối những khối băng lớn có nhỏ có.
Bên cạnh còn một cỗ áo quan nhỏ hơn, đặt thi thể Vân nương, bà vú của công chúa, vết hằn vẫn rành rành trên cổ, vẻ
mặt nhăn nhó đến tuyệt vọng, cùng công chúa đi vào giấc ngủ vĩnh hằng.
Hoàng đế và Quách thục phi ngồi giữa đại sảnh, các cung nữ và hoạn quan phía sau đều đang lau nước mắt. Ngài ngự
trông hết sức giận dữ, cơn giận của nỗi tuyệt vọng không thể phát tiết, tích tụ lại mà thành.
Vừa nhác thấy Lý Thư Bạch dẫn theo Hoàng Tử Hà bước vào, mấy hoạn quan và cung nữ bên cạnh hoàng đế liền thở
phào nhẹ nhõm. Thấy Lý Thư Bạch đưa mắt nhìn Vân nương, hoàng đế nói: “Công chúa một mình dưới đó thì lạnh lẽo quá, nên trẫm cho Vân nương xuống tiếp tục hầu hạ công chúa.”
Dù sao người cũng đã chết, nên Lý Thư Bạch chỉ lặng thinh, ngồi xuống bên cạnh hoàng đế.
Quách thục phi bưng mặt nức nở: “Còn mấy thị nữ và hoạn quan nữa, những người khác thì thôi, nhưng mấy kẻ đó chuyên hầu hạ bên cạnh công chúa, công chúa xảy ra chuyện, chúng cũng phải chịu trách nhiệm!”
Hoàng đế nghĩ ngợi hồi lâu rồi chậm rãi nói: “Lần trước Dương công công đã xin tha cho chúng, trẫm nghĩ cũng có lý, cứ
tạm gác chuyện đó lại đi.”
“Hoàng thượng thương hại chúng, nhưng thiếp lại lo Linh Huy ở dưới đó cô đơn!” Quách thục phi khóc nấc lên, càng thương tâm khôn xiết: “Linh Huy từ bé sợ nhất là cô đơn, lúc nào cũng cần có người bên cạnh, vậy mà giờ phải xuống dưới đó một thân một mình, không có người hầu hạ, kẻ làm mẹ như thần thiếp làm sao yên lòng đây…”
Nghe tiếng khóc thảm thiết của bà ta, Hoàng Tử Hà chỉ thấy một luồng khí lạnh từ gan bàn chân theo cột sống chạy thẳng lên đầu. Lý Thư Bạch cũng đang đưa mắt nhìn cô, cả hai đều thấy dụng ý của Quách thục phi trong mắt nhau.
“Thục phi đừng nói nữa, trẫm đau lòng lắm.” Hoàng đế thở dài, nhưng không phản đối, chỉ quay sang nói với Lý Thư
Bạch: “Vừa rồi, trẫm đã truyền gọi tên Vũ Tuyên, học chính Quốc Tử Giám mà công chúa yêu quý lúc sinh thời đến.”
Quách thục phi ngồi bên vẻ mặt phức tạp, khẽ khàng đặt tay lên mu bàn tay hoàng đế. Xong ngài ngự dường như không hề nhận thấy, vẫn tiếp tục nói: “Trẫm cũng nghe được lời đồn đại trong kinh, Linh Huy từng đề nghị Vũ Tuyên dạy học cho mình, nhưng hắn nhiều lần cự tuyệt, về sau công chúa phải đích thân có lời với tế tửu Quốc Tử Giám, hắn mới chịu đến phủ
công chúa giảng Chu Lễ. Bấy giờ trẫm chỉ cười cho qua, nhưng giờ nghĩ lại thì thương Linh Huy đang trẻ trung mơn mởn, lại phải thui thủi một mình dưới đó, nó thích nghe Vũ Tuyên giảng Chu Lễ, lẽ nào trẫm không thể chiều theo nó?”
Tim Hoàng Tử Hà giật thót, nhưng rồi cô sực nghĩ mình vừa gặp Vũ Tuyên đi ra, xem chừng hoàng thượng đã tha cho hắn rồi.
“Trẫm quả thật định giết hắn.” Hoàng đế thẫn thờ giây lát mới ngẩng lên thở hắt ra, “Nhưng sau khi gặp mặt, chẳng hiểu sao lại từ bỏ ý định đó.”
Lý Thư Bạch không đáp, chỉ hơi nghiêng đầu nhìn sang cỗ áo quan của công chúa.
“Có lẽ trẫm già rồi, không đành lòng bẻ gãy cây ngọc.” Đoạn hoàng đế quay sang hỏi Lý Thư Bạch: “Tứ đệ đã gặp Vũ
Tuyên bao giờ chưa?”
“Thưa, thần đệ gặp rồi. Quả là thanh tú thuần tịnh, tuyệt thế vô song.” Lý Thư Bạch hờ hững đáp.
Quách thục phi ngẩn người ra hồi lâu, rồi đột ngột đứng phắt dậy, chạy đến cạnh quan tài Đồng Xương công chúa, vịn vào mép áo quan khóc lóc.
Trái lại, Lý Thư Bạch vẫn thản nhiên như thường: “Hoàng thượng không giết hắn là phải. Nếu không, để hắn bầu bạn cùng công chúa ở dưới đó, thì phò mã phải làm sao?”
Hoàng đế gật đầu, nhắm nghiền mắt lại vẻ mết mỏi.
Hoàng Tử Hà đứng hầu phía sau, im lặng lắng nghe. Chiều mùa hạ râm ran tiếng ve. Cô nghe thấy giọng hoàng đế yếu ớt lẫn trong tiếng ve inh ỏi: “Sáng mai, Đại Lý Tự sẽ xét xử công khai vụ này. Trẫm đã hạ lệnh, sau khi thẩm vẫn, lập tức đưa phạm nhân tới pháp trường, lăng trì tùng xẻo.”
Lý Thư Bạch trầm tư hỏi: “Vụ này đã có kết luận rồi ư?”
“Nhân chứng vật chứng đủ cả rồi.”
“Nếu bắt được hung thủ, cũng an ủi được vong linh công chúa trên trời.” Lý Thư Bạch ngoái lại liếc Hoàng Tử Hà rồi nói: “Thần đệ giữ chức trong Đại Lý Tự, sáng mai cũng sẽ có mặt.”
“Trời nóng quá, Linh Huy cũng không thể để lâu, trẫm quyết rồi, sau khi hung thủ chịu hình phạt, sẽ tạm thời quàn linh cữu công chúa vào Trinh lăng của phụ hoàng, đợi khi nào lăng công chúa xây xong, sẽ cho an táng.”
“Thế là ổn nhất.” Lý Thư Bạch tán đồng, xong chỉ thấy hoàng đế ngả người dựa vào lưng ghế, ngửa mặt nhìn trời bất động, thậm chí mắt cũng không hề chớp, hơi thở mỗi lúc một nặng nề.
Y làm thinh hồi lâu rồi cáo từ hoàng đế, cũng Hoàng Tử Hà rời khỏi phủ công chúa.
Chiều mùa hạ, cả kinh thành chìm trong nóng nực, đường phố cũng vắng ngắt.
Trong thùng đá lạnh trên xe đặt một khối đá lớn đẽo hình núi tiên, trời nóng quá nên những hình thần tiên và cây cỏ đều tan chảy cả, chỉ còn thấy dáng dấp ngọn núi mà thôi.
Nước đá tan chảy tí tách nhỏ xuống lòng thùng.
Dù ngồi ngay cạnh khối đá, Hoàng Tử Hà vẫn thấy nóng bức, mồ hôi rịn ra ướt cả lưng. Cảm giác được cái nhìn chăm chú của Lý Thư Bạch, cô càng căng thẳng tột độ.
Rơi vào cảnh này, quả là biết mình không biết người, đáng mất khả năng khống chế cục diện. Cuối cùng, để tránh kết cục bi thảm, cô đành nghiến răng lên tiếng trước: “Nô tài muốn thỉnh giáo vương gia một chuyện.”
Ánh mắt chăm chú của y toát lên vẻ ngạc nhiên: “Gì cơ?”
“Có cách nào khiến người ta sinh ra ảo giác, trông thấy một việc không hề xảy ra không?” Lý Thư Bạch lắc đầu: “Không có.”
“Nhưng vừa rồi gặp Vũ Tuyên, huynh ấy có nói, vào hôm cha mẹ tôi qua đời, từng thấy tôi cầm gói tỳ sương, vẻ mặt hết sức quái dị.”
Khi thốt ra hai tiếng Vũ Tuyên, lòng cô như dậy sóng, nhưng rồi, cơn sóng lại loang ra thành từng gợn lăn tăn, dần dần tan biến.
Lý Thư Bạch thoáng trầm tư: “Có lẽ chuyện đó có thể giải thích vì sao hắn cứ khăng khăng cho rằng ngươi là hung thủ.
Bởi hắn đã chính mắt chứng kiến ngươi có cử chỉ khác thường ngay trong ngày hôm đó.”
“Nhưng tôi thực sự không làm gì cả!”
“Là hắn nhớ lầm, hay là ngươi quên mất?” Lý Thư Bạch vặn lại.
“Huynh ấy nhớ lầm rồi.” Hoàng Tử Hà đáp ngay không hề do dự.
“Cũng có thể còn một khả năng nữa, là hắn nói dối.”
“Nhưng… huynh ấy nói dối người trong cuộc để làm gì?” Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng hỏi.
“Ngươi là người trong cuộc còn không hiểu, làm sao ta hiểu được?” Lý Thư Bạch lạnh lùng, “Huống hồ, chẳng phải các người đã hẹn gặp ở Thành Đô ư? Đến lúc đó đối chất lại là rõ.”
Nghe giọng điệu lạnh băng của y, Hoàng Tử Hà đành nín lặng ngồi nghe nước đá nhỏ xuống tí tách, xe ngựa cũng từ từ
dừng lại, đã đến phủ Quỳ.
Vừa bước xuống xe, hơi nóng bên ngoài đã tạt thẳng vào mặt Hoàng Tử Hà như một con sóng hữu hình, khiến cô lảo đảo.
Lý Thư Bạch phía sau vội giơ tay ra đỡ cô.
Hoàng Tử Hà vừa đứng vững, đang định cảm tạ thì y đã buông tay, xăm xăm băng qua cô đi thẳng vào trong.
Cô đứng nhìn theo bóng y giây lát rồi quay người đi về phía tàu ngựa.
Lý Thư Bạch không hề quay đầu, nhưng như có mắt sau gáy, lạnh lùng hỏi: “Đi đâu?”
“Cung Thái Cực.” Cô ngoái lại đáp, “Tôi muốn xem thử có thể cứu mấy hoạn quan và thị nữ bên cạnh công chúa hay không.”
“Dương công công vẫn khỏe chứ?”
Vương hoàng hậu vừa ngủ trưa dậy, vẫn còn uể oải. Hoàng hậu da băng xương ngọc, áo lụa như mây quấn quanh mình, ngồi giữa đại điện thâm u, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cái nóng hầm hập ngày hè.
Trái lại, Hoàng Tử Hà cưỡi ngựa dãi nắng chạy đến nên trông rất lôi thôi, tóc mái bết vào trán, mồ hôi lấm tấm hai cánh mũi, quần áo vừa sửa sang vội vàng bên ngoài điện, vẫn còn xộc xệch.
Vương hoàng hậu giơ tay cho tất cả người hầu lui xuống, rồi cầm khăn gấm trên bàn đưa cho cô: “ Công công vội đến tìm ta như vậy, có chuyện gì chăng?”
Hoàng Tử Hà cung kính nhận lấy, thấm mồ hôi trên mũi, sẽ giọng thưa: “Chúc mừng hoàng hậu nương nương sắp quay về
cung Đại Minh.”
Vương hoàng hậu nhìn xoáy vào cô, thấy không có vẻ giả trá mới mỉm cười nói: “Gác Bồng Lai gần hồ, mát hơn ở đây nhiều, nếu chóng về được thì tốt quá.”
Hoàng Tử Hà gật đầu: “Nô tài biết nương nương nhất định đã chuẩn bị về cung, nhưng có thể giúp nương nương về sớm dăm ngày, cũng là chức trách của nô tài.”
“Ngươi nói xem, sao phải vội vã đến đây thông báo chuyện này?” Vương hoàng hậu ngả người trên sập, phe phẩy cây quạt tròn họa hình thiên nữ rải hoa.
“Quách thục phi có một bí mật, có thể đã bị mấy hoạn quan và thị nữ hầu hạ bên cạnh Đồng Xương công chúa biết được, nên giờ chỉ muốn bọn chúng phải chôn theo công chúa.”
Vương hoàng hậu dùng quạt che miệng, nhưng không che được đôi mắt cong cong: “Xem ra, hẳn là một bí mật quan trọng.”
“Thực ra… chỉ là một câu nói thôi.” Cô thì thào, “Nô tài còn một chuyện, xin hoàng hậu đồng ý.”
“Chuyện gì?”
“Việc này liên quan đến một người nữa, là học chính Quốc Tử Giám Vũ Tuyên… người quen cũ của nô tài. Nô tài tin rằng bí mật này chỉ cần bẩm báo với hoàng hậu là đủ để dạy bảo Quách thục phi, không cần thiết làm toáng lên cho mọi người đều biết.”
Vương hoàng hậu cười: “Đương nhiên rồi, bản cung đã dung dưỡng được Quách thục phi trong cung bấy nhiêu năm, về
sau cũng muốn ả ta tiếp tục làm trợ thủ cho ta.”
Hoàng Tử Hà cúi đầu khẽ đáp: “Thưa, đúng vậy.”
“Vậy thì, bí mật của Quách thục phi là câu nói gì?”
Khung cảnh lần đầu gặp gỡ Vũ Tuyên chợt hiện ra như ảo ảnh, những đóa sen trong lòng cô lả tả rơi xuống, trôi bồng bềnh trên mặt hồ loang đầy những gợn nước lăn tăn.
Hôm đầu tiên dọn ra ở riêng, Vũ Tuyên không ngủ được, đành chạy đến đứng trước cửa nhà cô cả đêm, mặc cho tuyết phủ khắp người, những bông tuyết trên mi tan ra, chảy dài như nước mắt.
Vào ngày xảy ra thảm án, hắn ôm một ôm hoa mai giùm cô, những đóa mai đỏ rực như lửa đặt cạnh nụ cười của hắn, còn tươi thắm hơn máu đào.
Cả những mảnh vụn lá thư bị hắn xé nát bỏ vào lò hương chùa Hưng Đường, từ từ tan biến trong lửa, chỉ còn lại tàn tro.
Cô nhắm nghiền mắt, nói thật khẽ, như mê sảng: “
Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng
.”
Ráng chiều như gầm phủ lên toàn bộ Trường An. Hoàng Tử Hà quay đầu về Tây, thấy bầu không thấp đến nỗi tưởng chừng chỉ giơ tay ra là chạm đến.
Sau ráng chiều lộng lẫy, là một ngày sắp trôi qua.
Hoàng Tử Hà quay về phủ Quỳ, vào phòng ngồi xuống, rút cây trâm trên đầu ra, vô thức vạch vạch lên giường, sắp xếp lại toàn bộ manh mối.
Xác định không còn gì lầm lẫn, cô mới cắm trâm lại chỗ cũ, ngồi trên giường ngẫm nghĩ một lúc, cuối cùng cũng phát hiện được cảm giác bất ổn này từ đâu đến…
Lý Thư Bạch không cho gọi cô.
Bình thường, khi cô về đến phủ, nhất định sẽ có người chạy ra báo, vương gia truyền ngươi đến.
Vậy mà hiện giờ, cô vừa nắm được một bước tiến quan trọng của vụ án, lại không biết phải bẩm báo tình hình với ai.
Hoàng Tử Hà thở dài, nằm vật ra giường, ngơ ngẩn ngẫm lại tình cảnh xảy ra hôm nay trong con ngõ cạnh phủ công chúa.
Vũ Tuyên nói đã trông thấy cô cầm gói tỳ sương, vẻ mặt quái dị.
Không có khả năng đó. Như cô nhớ thì, sau khi mua tỳ sương về, cô còn chưa kịp tiến hành vụ cá cược đã nghe được ở
Long Châu xảy ra vụ thảm án giết chết cả nhà, bèn chạy ngay đến Long Châu điều tra, cuối cùng phát hiện hung thủ chính là con gái nhà đó, vì bị cha mẹ ngăn cấm tình duyên nên mới hạ độc vào đồ ăn, để cả nhà, bao gồm cô ta, cùng xuống suối vàng. Thấy vậy cô rất xúc động, bèn viết thư cho hắn. Hai ngày sau, cô về đến phủ Thành Đô. Cả ngày bôn ba vất vả, về tới nhà cũng đã hoàng hôn, ăn cơm xong, cô lập tức lên giường, ngủ say như chết, chẳng mộng mị gì. Sáng sớm hôm sau, lúc Vũ
Tuyên đến cô cũng vừa trở dậy, hắn hỏi han chuyện cô kể trong thư, thấy cô không có gì khác lạ, bèn cùng ra sân sau ngắm hoa mai, mãi đến khi bà và chú cô đến mới cáo từ ra về.
Bấy giờ cô còn chưa hề mở ngăn tủ đựng tỳ sương ra, sao có thể cầm nó lên xem được chứ?
Là hắn nhớ lầm, hay chính cô nhớ lầm đây?
Hay là Vũ Tuyên bịa đặt? Nhưng nhìn vẻ mặt hắn không có gì giả trá, hơn nữa, hắn nói dối cô thì được tác dụng gì chứ?
Hoàng Tử Hà thấy cả người rời rã, mệt mỏi đến cùng cực, bất giác năm ngửa ra giường, thẫn thờ nhìn lên trần nhà.
“Nghĩ gì mà đờ người ra thế?” Một giọng nói vang lên ngay bên cạnh.
Cô đang mơ màng, vô thức lẩm bẩm gọi: “Vũ Tuyên…”
Vừa buột miệng, cô bỗng sởn da gà, mồ hôi lạnh túa ra, lập tức lật người ngồi phắt dậy, nhìn về phía Lý Thư Bạch đang đứng trước cửa.
Trời đã nhá nhem, sắp sập tối đến nơi, ánh hoàng hôn nhạt nhòa phủ lên đường nét gương mặt y, càng khó trông rõ vẻ
mặt.
Cô cuống quýt leo xuống giường bước ra đón y: “Nô tài đang nhớ đến mấy câu huynh ấy nói.”
Cũng chẳng hiểu sao cô phải vội vã giải thích như vậy, tiếc rằng Lý Thư Bạch vẫn thản nhiên như không, chỉ nhìn xoáy vào cô, hờ hững “ừm” một tiếng.
Hoàng Tử Hà lấy làm ấm ức, tại sao cô đứng trong phòng, bị ráng chiều soi rõ mồn một nét mặt, còn y lại đứng ngược sáng, khiến cô cố thế nào cũng không trông rõ được y, càng không biết trong đôi mắt thăm thẳm kia ẩn giấu điều gì.
Lý Thư Bạch chẳng buồn để ý tới cô, quay lưng đi thẳng ra ngoài.
Hoàng Tử Hà thấp thỏm đi theo đến đài Chẩm Lưu. Dọc đường y cứ im lìm, khiến cô càng căng thẳng.
Mãi tới khi bước vào bên trong, cô mới đánh bạo lên tiếng: “Nếu gia có chuyện cần truyền, cứ bảo bọn Cảnh Dục gọi tôi là được mà…”
Nào ngờ y phớt lờ câu này, hỏi ngay sang chuyện khác: “Ngươi đến cung Thái Cực, hoàng hậu phản ứng thế nào?”
“Chắc hẳn nương nương sẽ sai người triệu Quách thục phi đến, dù sao thời cơ cũng chín muồi rôi.”
“Ừm, hoàng thượng lạm sát kẻ vô tội vì Đồng Xương công chúa, hôm nay trong triều cũng có mấy vị đại thần khuyên can, xong đều bị thánh thượng trách phạt. Các thái phi trong cung vì chuyện này mà lo lắng không yên. Nhưng ai dám trách móc hoàng thượng? Đánh đổ tất cả tội lỗi lên đầu Quách thục phi thôi.”
Lúc này, cả triều đình và hậu cung đều đồng lòng nhất trí, mong Vương hoàng hậu trở về kiềm chế Quách thục phi, thậm chí dân chúng trong kinh thành cũng xôn xao bàn tán.
“Có lẽ ông trời giúp Vương hoàng hậu, trong lúc quan trọng nhất thì Đồng Xương công chúa, chỗ dựa vững chắc nhất của Quách thục phi lại qua đời, khiến trong triều ngoài nột náo loạn cả lên.” Hoàng Tử Hà khẽ nhận xét.
Lý Thư Bạch lắc đầu: “Vương hoàng hậu đi được đến ngày hôm nay, hoàn toàn không phải nhờ may mắn. Kẻ chống lưng cho bà ta quả không thể xem thường.”
“Là nhà họ Vương ư?”
“Phải, mà cũng không phải.” Lý Thư Bạch nhìn về phía con cá nhỏ đang lặng lẽ lặn xuống đáy bình lưu ly, giọng chậm rãi: “Một kẻ mạng họ Vương, xong lại ly khai nhà họ Vương, mới thực sự là bàn tay âm thầm thao túng cả triều đình này.”
Trước mắt Hoàng Tử Hà chợt hiện ra nam nhân đứng trên lầu gác ở cung Thái Cực, nhìn cô chòng chọc từ xa.
Áo tía đai ngọc, mắt như rắn độc.
Y từng ấn tay cô vào chậu cá, để A Già Thập Niết mút mát máu dính trên tay.
Cô sực hiểu ra, lẩm bẩm gọi cái tên đó: “Vương Tông Thực.”
Lý Thư Bạch chỉ nhếch môi: “Nếu không nhờ Vương Tông Thực chống lưng, ta sao có thể đi đến ngày hôm nay, ngồi vào vị trí này?”
Hoàng Tử Hà nín lặng.
Mười năm trước, tiên hoàng qua đời, Vương Tông Thực là trung úy trong Tả thần sách hộ quân, đã giết chết bọn Vương Quy Trường, Mã Công Nho, Vương Cư Phương mưu đồ làm phản, đích thân dẫn đội nghi trượng tới nghênh đón hoàng đế
vào cung, là công thần hàng đầu trong việc đăng cơ của đương kim thánh thượng.
Sau khi bước lên ngôi cửu ngũ, hoàng đế mới hiểu ra, ngai vàng vốn không dễ ngồi.
Gần trăm năm nay, triều đình phần nhiều do hoạn quan nắm giữ, những triều thần chết trong tay chúng nhiều không đếm xuể, thậm chí có cả hoàng đế. Tiên hoàng phải giả ngây giả dại, ẩn nhẫn nhiều năm, cuối cùng mới lật đổ được hoạn quan Mã Nguyên Chí từng phò trợ mình lên kế vị, nhưng đương kim thánh thượng chẳng cách nào lừa được Vương Tông Thực luôn luôn phòng bị, cũng chẳng có khả năng chống lại.
May sao, ba năm trước Từ Châu đại loạn, nhờ Quỳ vương Lý Thư Bạch dẹp yên, uy hiếp thế lực của lục đại tiết độ sứ, kinh thành thập ty hầu như đều nghe theo lệnh y, cuối cùng hoàng thất mới vực dậy được thế lực. Mấy năm nay, nhờ Quỳ
vương kiềm chế quân Thần sách, triều đình và hoàng đế mới được yên lòng.
Nhìn gương mặt bình thản của y, Hoàng Tử Hà thầm nghĩ, lúc tiên hoàng băng hà, y mới mười ba tuổi, bị đuổi ra khỏi cung Đại Minh, là tình cảnh thế nào? Trong sáu năm làm Thông Vương mờ nhạt, y đã sống ra sao? Mười chín tuổi đại thắng, vang danh bốn biển, hiển lộ tài năng, từ bấy gánh trên vai toàn bộ sự tồn vong của hoàng thất Đại Đường, y đã nghĩ những gì?
Y mang vô số trọng trách, lúc nào cũng phải tận tâm kiệt lực, chẳng được một ngày thảnh thơi. Có lúc, cô đã vắt óc nghĩ
xem y thích gì, nhưng giờ ngẫm lại thì, ý thích đối với y là một thứ quá chừng xa xỉ, cả cuộc đời y có lẽ chỉ mang nặng trách nhiệm với hoàng thất Lý Đường, chẳng lúc nào được sống cho mình nữa.
Bởi vì y họ Lý, y là Quỳ vương Lý Thư Bạch.
Hoàng Tử Hà lặng lẽ nhìn y, đúng lúc y ngoái lại, ánh mắt đôi bên giao nhau thật lâu.
Cuối cùng cô cụp mắt xuống trước, còn y vẫn nhìn cô chăm chú: “Bí mật của Quách thục phi bại lộ, ngươi thử nghĩ Vũ
Tuyên sẽ có kết cục thế nào?”
Cô cắn môi đáp khẽ: “Vương hoàng hậu sẽ không tiết lộ đâu, lộ ra thì hoàng hậu có lợi lộc gì chứ? Cách làm thông minh nhất là cảnh cáo Quách thục phi, biến phi thành một trong những người ra mặt đề nghị hoàng hậu hồi cung.”
“So với Vương hoàng hậu, Quách thục phi quá khờ khạo. Chỉ có một đứa con gái mà dám vọng tưởng dựa vào lòng sủng ái của hoàng thượng với công chúa, lật đổ một Vương hoàng hậu đã sinh một trai một gái, còn đích thân nuôi nấng thái tử; huống hồ, sống giữa chốn cung đình phải cẩn trọng từng li từng tí, vậy mà dám ngang nhiên viết thơ tình gửi cho người, để rồi bị kẻ khác nắm thóp.” Lý Thư Bạch lạnh lùng nhận xét, nghĩ ngợi giây lát rồi hỏi: “Ngươi khẳng định người tư tình với Vũ
Tuyên là Quách thục phi chứ không phải Đồng Xương công chúa từ bao giờ?”
“Thưa gia, từ khi nhìn thấy hai câu thơ dang dở ở vườn Tri Cẩm.” Hoàng Tử Hà ngước lên nhìn ra cửa sổ, thấy sắc trời đang tối dần, từng ngọn đèn lồng lần lượt được thắp lên, “Đó không phải nét chữ Đồng Xương công chúa, như vậy kẻ ở
vườn Tri Cẩm ngày hôm đó mới thực sự là hung thủ giết hại Đậu Khấu. Công chúa vốn đã định cho Đậu Khấu chuyển ra ngoài ở, vậy mà vì bảo vệ kẻ đó, đành để phò mã hiểu lầm rồi sinh ra oán hận mình… Người được công chúa dốc sức bao che như vậy, đương nhiên chỉ có… mẹ ruột mình, chính lá Quách thục phi. Nét chữ của phi, giống hệt nét chữ trên bức thư bị
Vũ Tuyên thiêu hủy.”
Trời tối dần, khiến ngọn đèn trong phòng càng rực lên, soi sáng hai người, chỗ sáng càng thêm sáng, chỗ tối càng thêm tối.
“Hơn nữa, hai câu trong thư,
‘cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy, muốn theo trăng trôi chảy đến chàng’
cũng không phải lời lẽ của công chúa. Công chúa muốn gì được nấy, đã đến thẳng Quốc Tử Giám tìm tế tửu đòi Vũ Tuyên đích
thân tới giảng bài cho mình, sao có thể viết cho huynh ấy những câu thơ ai oán, cứ như gần trong gang tấc mà biển trời cách mặt như thế được?”
Lý Thư Bạch mỉm cười, nhìn con cá nhỏ đang bất động như say ngủ: “Ngoài phố đồn đại Quách thục phi liên tục ra vào phủ công chúa là vì có tư tình với phò mã Vi Bảo Hoành; lại có lời đồn rằng, Đồng Xương công chúa ép học chính Vũ
Tuyên của Quốc Tử Giám vào phủ giảng bài, làm mất mặt phò mã, nhưng có mấy ai rõ chân tướng sự thực đâu.”
“Gia phát hiện ra chuyện này từ bao giờ?”
“Sớm hơn ngươi.” Y ngồi xuống bàn, mắt vẫn không rời con cá, vẻ mặt bình thản, “Khi trâm Cửu loan biến mất, ngươi đến gác Thê Vân tra xét, ta đứng ở lan can bên ngoài, nhìn xuống dưới thấy Quách thục phi dúi cho Vũ Tuyên vật gì đó. Về
sau, ngươi nói rằng đó là một phong thư, cũng kể cho ta biết câu thơ còn sót lại.”
Hoàng Tử Hà ngập ngừng, nhưng cuối cùng vẫn hỏi: “Sao gia không nói với tôi?”
“Ta cho rằng việc đó chẳng liên quan gì tới ngươi, cũng chẳng liên quan tới vụ án.”
Hoàng Tử Hà nín lặng, hồi lâu mới lên tiếng: “Bất kể thế nào, Vũ Tuyên với tôi cũng là chỗ quen biết nhiều năm, tôi nên biết chuyện của huynh ấy…”
“Vậy cần gì ta kể? Hắn đợi ngươi ở Thành Đô kia mà, ngươi cứ tự đi mà hỏi hắn.”
Từ khi quen biết đến giờ, lần đầu tiên Lý Thư Bạch gay gắt cắt lời cô như thế. Hoàng Tử Hà ngạc nhiên ngước mắt nhìn y, khẽ khàng thưa: “Vương gia đã nói khi nào chuyện này kết thúc, sẽ lập tức đưa tôi đi mà.”
“Nóng lòng quá không chờ nổi nữa chứ gì?” Y cười nhạt.
Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng: “Lẽ nào phải ở lại kinh thành ít lâu nữa ư?”
“Nếu đã nóng lòng như thế, sao không theo Vũ Tuyên về Thục quách, còn đòi ta đưa đi làm gì?”
Hoàng Tử Hà bối rối, chẳng hiểu sao y lại đột ngột trở mặt, chỉ biết phân trần: “Vụ án đó đã có phán quyết, nếu không có gia giúp đỡ, nô tài rất khó lật lại bản án. Trước đây chúng ta đã thống nhất rồi kia mà, lẽ nào bây giờ gia lại nuốt lời?”
“Bản vương chưa bao giờ nuốt lời.” Mặt Lý Thư Bạch đã lạnh càng thêm lạnh, y quay đi không buồn nhìn cô, lạnh lùng nói: “Ngươi nói đúng, chúng ta vốn chỉ là quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau mà thôi. Đợi khi nào phá được vụ án gia đình ngươi, hai ta cũng đường ai nấy đi, không nợ nẫn gì nhau nữa.”
Hoàng Tử Hà cảm thấy lời lẽ của y có gì đó rất khó chấp nhận, nhưng theo giao hẹn ban đầu giữa hai người thì đúng là như vậy.
Ngẩng đầu lên, bắt gặp gương mặt lạnh băng của Lý Thư Bạch, lòng cô rối như tơ vò, bất giác nhích lại gần y một bước:
“Bất luận ra sao, xin vương gia đừng quên giao hẹn, dẫn tôi về Thục điều tra huyết án của gia đình, rửa sạch oan khuất…”
Vừa nói, Hoàng Tử Hà vừa với tay về phía y, khi cánh tay vươn qua mặt bàn, cô chợt thấy cổ tay lành lạnh, thì ra chiếc bình lưu ly đặt ở góc bàn đã vô tình bị kéo theo, rơi xuống nền gạch xanh vỡ tan tành, nước bắn tung tóe, con cá đỏ giãy đành đạch trên mặt đất.
20
Lấy lá đựng cá
Hoàng Tử Hà thoáng sững ra, rồi lập tực ngồi thụp xuống, dùng tay vốc cá lên.
Lý Thư Bạch nuôi con cá này đã lâu, nó chính là sắc màu tươi sáng duy nhất trong cuộc đời tất bật mà tẻ nhạt của y, để
y ngắm nhìn những lúc được thảnh thơi hiếm hoi.
Bởi vậy, khi nâng nó trong lòng bàn tay, Hoàng Tử Hà cũng hơi hối hận.
Cô không thể để nó chết, không thể chính tay làm hỏng màu sắc tươi sáng duy nhất của y.
Nước trong chậu rửa bút đã nhuốm màu mực, trà trong ấm lại nóng, cá không sống nổi. Hoàng Tử Hà quay phắt người chạy vụt ra ngoài, đài Chẩm Lưu xây bên bờ hồ, bốn bề rợp những hoa sen, xuống mấy bậc thềm là chạm vào mặt nước.
Cô nhúng hai bàn tay đang khum khum giữ cá xuống nước, thấy nó lại quẫy đuôi lật mình lại, mới thở phào nhẹ nhõm ngước nhìn y.
Lý Thư Bạch đứng trong phòng, cặp mắt sâu thăm thẳm dõi theo cô, chỉ thấy cô bưng cá trong tay, đăng lặng lẽ nhìn y.
Quỳ vương thoáng khựng lại, rồi với lấy một chiếc tước(*) bằng đồng điếu trên giá đồ cổ, bước đến cạnh cô.
(*)
Một loại chén cổ dùng để uống rượu, có ba chân, rất thịnh hành trong giới quý tộc trước thời Tần.
Nhưng đúng vào lúc Hoàng Tử Hà bưng cá lên định thả vào tước, con cá bỗng hoảng hốt búng mình vọt ra khỏi tay cô, lao thẳng xuống nước.
Một vòng sóng gợn loang ra, con cá vừa rơi xuống đã lẩn mất hút.
Hoàng Tử Hà kinh hãi ngồi thụp xuống bên hồ, còn kịp trông thấy Lý Thư Bạch tái mặt.
Hồ rộng mênh mông, lại trồng đầy sen, trong khi con cá chỉ bé bằng đốt ngón tay. Dù nhổ hết sen trong hồ rồi rút cạn nước đi, cũng không cách nào tìm được một con cá bé như thế.
Hoàng Tử Hà thấy đôi mày Lý Thư Bạch cau rúm lại.
Y luôn mang chiếc bình lưu ly có con cá nhỏ này theo bên mình. Lần đầu gặp gỡ, y đã nói, nó liên quan tới một bí mật mà ngay hoàng thượng cũng không thể hỏi tới. Vậy mà, chính tay cô lại làm mất nó.
Hoàng Tử Hà đứng bên bờ, vốc nước trong tay đổ ướt cả vạt áo, cô nơm nớp ngẩng lên nhìn Lý Thư Bạch, xong y chẳng buồn nhìn cô, cũng chẳng nói năng gì, hồi lâu mới quay người đi vào.
Còn lại một mình Hoàng Tử Hà đứng đó, gió lay sen động, tà dương rực rỡ, khiến mọi vật trước mắt cô nhòa hẳn đi.
Hồi tưởng lại bốn năm trước, cũng vào một ngày hè thế này, cô chân trần lột xuống hồ hái sen, nghe thấy tiếng cha gọi bèn ngoái đầu lại, bắt gặp Vũ Tuyên đứng phía sau cha, giữa ráng chiều vàng rực, đang lặng lẽ nhìn mình.
Nụ cười cùng ánh mắt đăm đăm của hắn trong khoảnh khắc ấy đã thay đổi cả cuộc đời cô.
Cô bỗng thấy cả người bải hoải, bèn ngồi phịch xuống, thẫn thờ nhìn ra mặt hồ.
Hôm ấy, cha dẫn Vũ Tuyên về nhà, nói rằng hắn là trẻ lang thang, mồ côi cha mẹ, nương náu trong ngôi chùa đổ. Một người bạn cũ của cha mở trường dạy học, thấy có đứa ăn mày thường mon men đến đứng ngoài cửa sổ nghe giảng, hỏi câu nào hắn cũng đối đáp trôi chảy, khiến người ta phải tấm tắc. Lại hỏi hắn học chữ từ đâu, hắn nói lúc trước nhặt được một cuốn sách, nghe người ta nói là
Kinh Thi
, gặp đúng lúc thầy giáo ở trường bắt đầu giảng
Kinh Thi
, hắn bèn chiếu theo những gì thầy giáo dạy, học thuộc các chữ trong bài, học hết chữ trong
Kinh Thi
, hắn lại xin những sách cũ người ta vứt đi, dựa vào vốn chữ học được từ
Kinh Thi
mà bập bõm đọc hết tứ thư ngũ kinh. Tiên sinh kia nghe nói cũng rung động trước thiên tài của hắn, bèn kể với cha cô, cha cô vừa gặp Vũ Tuyên đã động lòng tiếc tài, liền dẫn hắn về nhà.
Đúng thế, một thiếu niên lưu lạc giữa đời như Vũ Tuyên, ai lại không rủ lòng thương xót?
Hoàng Tử Hà ngồi trên thềm, gục mặt vào đầu gối, lặng lẽ nhìn phiến lá sen xoay trong gió.
Gió đã se se, trời sắp sập tồi. Gió thổi đến đâu, cuốn theo lớp lớp lá sen lay động đến đó, nhìn như muôn ngàn đợt sóng.
Lòng cô cũng xáo động như sóng, khó mà dẹp yên được.
Vũ Tuyên nói, ta đợi muội ở Thành Đô.
Nhưng người đã hứa sẽ dẫn cô tới Thành Đô, giờ lại đang nổi giận.
Hơn nữa còn rất tức giận.
Cô bất giác thở dài.
Tuy cô biết Lý Thư Bạch sẽ không vì thế mà nuốt lời, nhưng cô không muốn y cáu giận vì mình.
Bởi…
Cô nhớ y từng nói, trí nhớ của cá chỉ bằng bảy cái búng tay, bất kể đối tốt hay xử tệ với nó nhường nào, thì sau bảy cái búng tay, nó cũng quên hết.
Nhưng cô không phải giống cá dễ dàng lãng quên người khác chỉ sau bảy cái búng tay.
Cô nghĩ, lẽ ra lúc đó nên thưa với y rằng mình không phải cá, dù bảy tháng, bảy năm, bảy mươi năm cũng không quên những người đã khắc cốt ghi tâm.
Nghĩ đoạn, cô đưa ngón tay lên miệng cắn thật mạnh.
“A Già Thập Niết thích nhất máu người. Nghe nói Quỳ vương cũng nuôi một con, Dương công công nhớ đem bí quyết này mách lại với vương.”
Trong cung Thái Cực, Vương Tông Thực từng nói với cô như vậy.
Cắn rách ngón tay, một giọt máu đỏ tươi tức thì ứa ra, nhỏ xuống mặt nước dưới chân.
Trời đã nhá nhem, cuối chân trời ngả màu tím sẫm, cô đang vớt vát chút ánh sáng cuối ngày đề dụ con cá kia ra.
Máu tươi nhỏ xuống nước, loang ra, tan biến.
Cô đợi một lúc, thấy mặt nước không có động tĩnh gì, bèn nặn vết thương, nhỏ thêm hai giọt máu xuống.
Máu đỏ tan vào làn nước trong vắt, sóng chỉ hơi gợn lên.
“Ngươi làm gì vậy?” Sau lưng vang lên một giọng thanh thanh lạnh lùng.
Cô không ngoái lại mà cúi đầu chăm chú quan sát mặt nước, đáp khẽ: “Nô tài đang thử xem nó còn ở quanh đây không.”
“Dù còn, chẳng lẽ ngửi mùi máu ngươi nó lại bơi ra sao?”
Hoàng Tử Hà không đáp, bởi dưới bóng chiều nhập nhoạng, cô đã trông thấy con cá nhỏ từ sau một gốc sen, chầm chậm bơi về phía mình.
Qua nhiên nó vẫn nấp quanh đây.
Cô chậm rãi nhúng tay xuống nước, lập tức máu từ vết thương loang ra thành một sợi dây mỏng nhanh, phất phơ trong nước, tan thành hư vô.
Nhưng con cá nhỏ kia lại như bị sợi dây vô hình ấy lôi kéo, bơi về phía tay cô.
Cô từ từ nâng dần tay lên, tới khi sắp nhấc khỏi mặt nước thì thình lình ụp hai bàn tay lại, giữ chặt con cá nhỏ bên trong, rồi vui vẻ quay lại gọi y: “Gia mau đem cái gì ra đựng cá đi.”
Nụ cười của cô bừng lên rạng rỡ trong ánh sáng rơi rớt cuối ngày, khiến Lý Thư Bạch ngẩn ngơ.
Y lặng lẽ chìa cái tước đồng khi nãy ra, để cô bỏ cá vào.
Cô giơ đôi tay ướt sũng lên, cúi nhìn con cá nhỏ trong lòng chiếc tước đồng cổ kính. Thoạt tiên, nó còn hốt hoảng quẫy đuôi, nhưng chỉ lát sau liền bắt đầu bơi nhởn nhơ, xem chừng đã quen với hoàn cảnh lạ lẫm này.
Cô thò ngón tay vào trên nó, mắng yêu: “Nguy hiểm quá, suýt nữa để mày chuồn mất rồi.”
“Sao ngươi biết nó thích mùi máu?” Lý Thư Bạch chăm chú nhìn gương mặt nghiêng tươi cười của cô, giọng trầm xuống.
Hoàng Tử Hà ngẩng lên, thành thật đáp: “Vương công công, Vương Tông Thực bảo cho tôi biết.”
Lý Thư Bạch bất giác nhíu mày: “Sao ngươi lại quen hắn ta?”
“Tôi từng gặp ông ta trong cung Thái Cực hai lần. Hôm Đồng Xương công chúa qua đời, hai tay tôi dính đầy máu công chúa, Vương công công bèn nhúng tay tôi vào chậu cá của ông ấy, ngay lập tức, lũ cá lao đến liếm sạch máu tươi…” Kể
đến đó, cô vẫn không nén nổi cảm giác ghê tởm, sởn cả gai ốc.
Lý Thư Bạch làm thinh thật lâu rồi cầm lấy chiếc tước đồng, lặng lẽ nhìn con cá bên trong: “Ta nuôi con cá này mười năm rồi.”
Hoàng Tử Hà ngạc nhiên hỏi lại: “Mười năm rồi ư?”
Nuôi mười năm mới lớn bằng ấy, hơn nữa còn chưa chết.
“Phải, mười năm rồi. Vào đúng hôm phụ hoàng băng hà. Ngươi đoán xem ta tìm thấy nó ở đâu?” Lý Thư Bạch ngước lên nhìn cô, ánh mắt đầy thâm ý: “Giữa vũng máu phụ hoàng khạc ra. Nó quẫy mình vùng vẫy trong máu. Bấy giờ ta đang bưng một bát nước, dùng khăn bông thấm nước lau miệng cho phụ hoàng. Nào ngờ Chiêu vương, bấy giờ còn bé, lại nhặt con cá lên, bỏ vào bát nước trên tay ta.”
Ánh mắt y dần trở nên xa xăm, như đang nhìn xuyên qua mười năm thời gian, trông thấy một bản thân bơ vơ năm ấy.
“Ta vội đặt bát nước lên bậu cửa sổ, mãi tới sau khi phụ hoàng qua đời, hoàng thượng đăng cơ, ta chuẩn bị rời khỏi cung Đại Minh, mới sực nhớ đến nó, bèn tới tẩm cung của phụ hoàng xem thử, thì thấy nó vẫn nhởn nhơ bơi lượn trong bát. Mọi chuyện xảy ra trên đời chẳng liên quan gì tới nó, dù trời có sập xuống, nó cũng chỉ cần một bát nước, là đủ sống thảnh thơi như thường.”
Y hơi nghiêng tước đồng, lớp gỉ đồng làm làn nước bên trong nhốm màu xanh lục, khiến con cá đỏ rực càng thêm nổi bật.
“Ta đem nó ra khỏi cung, về phủ đệ của mình. Mười năm, ta từ Quỳ vương trở thành Thông vương rồi lại thành Quỳ
vương, từ một thiếu niên ngờ nghệch đến bây giớ, thật chẳng ngờ, kẻ bầu bạn bên mình lâu nhất, lại là con cá này.” Y lặng lẽ
nhìn con cá đang bơi trong nước, loài sinh vật dễ dàng quên sạch mọi thứ chỉ trong bảy cái búng tay này, sống thực thảnh thơi thoải mái.
Không có tri giác, nên chẳng có lo phiền.
Hoàng Tử Hà cũng đang chăm chú nhìn nó, nói khẽ: “Tôi nghe nói… tiên hoàng uống lầm đan dược, không lâu thì qua đời.”
“Phải.” Lý Thư Bạch xưa nay vốn hờ hững với mọi người xung quanh, cuối cùng cũng thở dài một tiếng, ngẩng lên nhìn cô, cặp mắt y thật sâu, thật tối, “Tại sao lúc hấp hối phụ hoàng lại khạc ra con cá này? Câu hỏi này đã đeo đẳng ta suốt mười năm nay. Giống như lá bùa không thể xuất hiện kia vậy, khiến ta nghĩ nát óc mà không sao hiểu nổi, cũng chẳng thể
sống yên. Bây giờ… lại xuất hiện bức tuyệt bút của phụ hoàng, cùng ba mảng mực không thể lý giải ấy nữa.”
Hoàng Tử Hà cúi đầu nhìn vết thương trên tay, nói khẽ: “Vương Tông Thực cũng có A Già Thập Niết.”
“Hắn ta cứ ở riết trong nhà, hiếm khi giao du với người ngoài, nhưng lại rất thích nuôi cá, đặc biệt là những giống quý hiếm, có A Già Thập Niết cũng chẳng có gì lạ.”