Trò Chuyện Với Vĩ Nhân

phần duy nhất tôi sẽ dạy ông.

phần duy nhất tôi sẽ dạy ông.

phần duy nhất tôi sẽ dạy ông. Với đôi tay run run, lần đầu tiên, Ouspensky bắt đầu nghĩ về những điều mình biết. Ông đã viết về Thượng đế, đã viết về thiên đường và địa ngục, ông đã viết về linh hồn, và cả sự di trú của linh hồn – nhưng liệu ông có BIẾT? Ông bước sang phòng bên cạnh và ngồi đó với giấy bút trên tay. Và khi lục lại tâm trí những điều mình biết, điều mình chưa biết – lần đầu tiên trong đời, ông mới kiểm tra điều đó; bởi vì chẳng ai buồn hỏi rằng ai đó biết gì, không biết gì. Sau vài phút, ông bước ra với tờ giấy trắng, và nói: – Tôi chẳng biết gì cả. Ông phải dạy cho tôi mọi thứ. Gurdjieff đáp: – Nhưng ông đã viết rất nhiều sách. Tôi đã nhìn thấy sách của ông và tôi không nghĩ rằng một người chẳng biết gì lại có thể viết tốt đến vậy. Ouspensky đáp: – Hãy thứ lỗi cho tôi. Tôi không quen với cách làm việc của ông, nhưng trong vòng vài phút, ông đã khiến tôi nhận thức về sự ngu dốt tột độ của mình. Và tôi muốn bắt đầu từ con số không. Hãy bỏ qua những cuốn sách của tôi. Hẳn là chúng được viết trong khi ngủ, bởi vì giờ thì tôi hiểu rằng mình chẳng biết gì về Thượng đế. Tôi đã đọc về Thượng đế nhưng đó

không phải là BIẾT. Tôi chỉ muốn biết một việc: điều gì đang diễn ra ở đây vậy? Gurdjieff đáp: – Đây là cách tạo ra những ống tre rỗng. Tất cả những người đang chờ đợi ở đây để trở nên trống rỗng. Khi trở nên trống rỗng, họ mới được gia nhập trường phái. Đây chỉ là bên ngoài, còn trường phái ở bên trong. Khi họ trở nên trống rỗng, khi tôi hài lòng rằng họ trống rỗng, họ sẽ được nhận. Chúng tôi không ở đây để dạy ông bất cứ điều gì. Chúng tôi ở đây để giúp ông biết. Chúng tôi sẽ tạo ra các tình huống để tự ông nhận biết. *** Người phương Tây tìm đến Gurdjieff như là một cuộc trình diễn thời trang. Được gặp gỡ Gurdjieff là một việc có tính thời thượng; họ đến và chỉ vài ngày sau họ rời đi, bởi vì ở cạnh Gurdjieff không phải là việc dễ dàng. Ông ấy là một người khó nhằn, cùng với những phương pháp rất phi lý; nhưng những phương pháp đó lại rất có giá trị trong trường phái của ông. Cho nên, nếu nghĩ theo cách logic, bạn sẽ cho rằng điều đó hoàn toàn sai trái. Chẳng hạn như, khi ông ấy yêu cầu Bennett: “Hôm nay, ông hãy đào một đường hào dài sáu mét, sâu một mét hai, rộng sáu tấc, không ngừng nghỉ” – thậm chí không được dừng lại dùng bữa hay uống cà phê – “Ông không được đi đâu, thậm chí cả đi vệ sinh. Ông phải đào không ngừng”. Vì thế, Bennett đã tự nhủ: “Đào càng nhanh càng tốt, rồi mình sẽ được tự do”. Đến tối thì đường hào đã được đào xong. Gurdjieff đến và nói: “Tốt. Giờ thì hãy lấp nó trở lại đúng như cũ. Khi đó, ông sẽ được tự do”. Bennett tự nhủ: “Trời ạ, thật ngu ngốc. Nếu phải lấp đầy như vốn có, nghĩa là giống hệt sáng nay, vậy toàn bộ trò tra tấn này là gì?”. Tâm trí logic sẽ không thể nào hiểu được.

Nhưng Bennett vẫn ở cùng Gurdjieff trong một thời gian dài, và về sau hiểu được thêm đôi chút về những điều mình làm – bởi vì tự ông ấy cảm nhận được nó. Khi đào đường hào đến mức ông ấy cảm thấy như muốn ngã quỵ thì bỗng khoảnh khắc đó, một nguồn năng lượng lớn, một nguồn năng lượng tươi mới từ đâu xuất hiện. Và Bennett không hiểu được nó từ đâu đến bởi ông ấy thậm chí còn chưa uống trà. Và với nguồn năng lượng mới này, ông lại tiếp tục đào. Đêm xuống, khi ông ấy thấy kiệt sức thì một lần nữa, một nguồn năng lượng thứ hai xuất hiện trong ông – nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất mà ông từng cảm nhận được trong suốt cuộc đời mình. Chừng nào bạn không lắng nghe trải nghiệm nội tâm thì toàn bộ trò hành xác kia dường như không thể chấp nhận được. Không một người tỉnh táo nào ở cạnh Gurdjieff được lâu nếu phải làm những điều như thế. Suốt đêm hôm đó, khi nằm trên giường, Bennett không tài nào ngủ được bởi vì nguồn năng lượng thứ hai kia nhiều đến mức khiến ông không ngủ được, nó muốn làm một điều gì đó. Bennett nói: “Thật điên rồ. Ta đã làm việc cả ngày trời. Ta chưa từng làm những việc như thế bao giờ. Ta là nhà văn, không phải là người đào huyệt”. Sáng hôm sau, Bennett hỏi Gurdjieff, và được trả lời rằng: – Đó chính là điều tôi muốn ông hiểu, rằng có nhiều lớp năng lượng bên trong mỗi người. Lớp đầu tiên là công việc hàng ngày. Nó đủ cho những việc hàng ngày. Nếu vượt quá mức đó, ta sẽ thấy kiệt sức, cảm giác gần như muốn chết nếu tiếp tục; nhưng đó là thời điểm phải tiếp tục, bởi vì chỉ khi đó thì lớp năng lượng thứ hai mới bắt đầu hoạt động. Nó chỉ hoạt động khi ta đủ ương bướng để kích thích nó, thách thức nó. Đó chính là lớp năng lượng dự trữ cho tình huống khẩn cấp. Ta mệt và đi ngủ, rồi ngôi nhà bốc cháy. Bỗng nhiên, toàn bộ sự mệt mỏi đó biến mất, ta thức trắng đêm để dập tắt đám cháy mà không cảm thấy mệt mỏi gì. Chính lớp năng lượng dự trữ đã làm việc đó thay ta.

Và lớp thứ ba là lớp lớn nhất, lớp có nguồn năng lượng vô tận; một khi đã chạm đến, ta sẽ biết nó, và nó ở trong tầm với của ta. Khi đó, ta có thể tạo ra những điều kỳ diệu – những thứ trông như phép mầu trong mắt người khác, nhưng không phải với ta, bởi vì ta biết rằng mình có những lớp năng lượng này. Hầu hết mọi người đều nỗ lực làm việc và chết đi trong lớp năng lượng đầu tiên. Vì thế, Gurdjieff có một hệ thống riêng không thuộc các tôn giáo truyền thống – chúng không có gì cả. Cho nên, ông ấy không nên bị phán xét theo các tiêu chí của người khác, mà nên được phán xét theo các tiêu chí của riêng ông ấy. Cho nên, đầu tiên là hãy cố gắng hiểu được hệ thống của ông ấy rồi mới phán xét, nếu như bạn có xu hướng phán xét. Ông ấy là một trong những người bị hiểu sai nhất trên thế giới, chỉ vì một lý do đơn giản là mọi người phán đoán theo tâm trí định kiến, còn người đàn ông này đang tìm cách giới thiệu học thuyết bí ẩn đến công chúng lần đầu tiên, nhưng ông ấy đã thất bại. Gurdjieff đã hoàn toàn thất bại, không phải vì chính ông ấy – bạn không thể thai nghén được người nào tốt hơn ông ấy. Nhưng hộp sọ đặc quánh của những người đang lấp đầy trái đất này thật sự quá dày. * Kirtan là một kiểu thực hành yoga bằng cách hát lên những câu hát làm thăng hoa cảm xúc tích cực.

H HERACLITUS eraclitus là một hiện tượng thật đẹp. Nếu được sinh ra ở Ấn Độ, hay ở phương Đông, hẳn ông ấy đã được biết đến như là Đức Phật. Nhưng trong bối cảnh của đất nước Hy Lạp, ông ấy là người xa lạ, là người ngoài cuộc. Ông ấy được biết đến ở Hy Lạp không phải là người được giác ngộ, mà là Heraclitus Khó hiểu, Heraclitus Tăm tối, Heraclitus Bí ẩn. Aristotle, cha đẻ của triết học Hy Lạp và triết học phương Tây, cho rằng Heraclitus chẳng có gì giống một nhà triết học. Aristotle nói: “Cùng lắm anh ta chỉ là một nhà thơ”, nhưng thậm chí ông ta cũng không muốn thừa nhận điều này. Về sau, Aristotle còn nói: “Hẳn phải có khiếm khuyết nào đó trong tính nết của Heraclitus, khiếm khuyết bẩm sinh; đó là lý do vì sao anh ta cứ nói theo cách mơ hồ khó hiểu, và nói về những thứ ngược đời”. Aristotle cho rằng Heraclitus hơi lập dị, hơi điên – và Aristotle đã chi phối toàn bộ tư tưởng của người phương Tây. Nếu Heraclitus được chấp nhận, hẳn toàn bộ lịch sử phương Tây đã rất khác. Nhưng không ai hiểu được ông ấy cả. Ông ấy ngày càng trở nên tách biệt với dòng tư tưởng chính thống của phương Tây. Heraclitus giống như Phật Thích Ca Mâu Ni và Lão Tử. Mảnh đất Hy Lạp rõ ràng không phù hợp với ông ấy. Hẳn ông ấy phải là một cây đại thụ nếu sống tại phương Đông: hàng triệu người đã gặt hái được thành quả, hàng triệu người đã tìm thấy con đường của mình từ Heraclitus. Nhưng đối với người Hy Lạp, ông ấy chỉ là một gã kỳ quặc, lập dị, một người xa lạ, một kẻ ngoại lai; ông không thuộc về họ. Đó là lý do vì sao tên tuổi của ông ấy vẫn chỉ ở bên lề, trong góc tối; dần dần, ông ấy bị quên lãng.

Vào khoảnh khắc khi Heraclitus chào đời, chính khoảnh khắc ấy, loài người đã đạt đến một đỉnh cao mới, khoảnh khắc của sự biến đổi. Nó xảy ra với loài người giống như với một cá nhân: có những khoảnh khắc khi nhiều thay đổi xảy ra. Cứ mỗi bảy năm, cơ thể sẽ thay đổi, và nó sẽ tiếp tục thay đổi – nếu sống trong suốt bảy mươi năm, toàn bộ cơ quan sinh học của bạn sẽ thay đổi mười lần. Nếu biết tận dụng những khoảng hở này khi cơ thể thay đổi, bạn sẽ rất dễ dàng đi vào thiền tịnh. Chẳng hạn như năm mười bốn tuổi, lần đầu tiên tình dục trở nên quan trọng. Cơ thể trải qua một cuộc thay đổi sinh hóa, và nếu vào khoảnh khắc đó, được bước vào chiều không gian của thiền, bạn sẽ rất dễ dàng tiến bộ bởi vì cơ thể khi đó chưa được định hình, mô hình cũ vừa mất đi còn cái mới thì chưa kịp đến – có một khoảng cách giữa quá trình biến đổi đó. Ở tuổi hai mươi mốt, một lần nữa, những thay đổi sâu sắc xuất hiện, bởi vì cứ mỗi bảy năm, cơ thể sẽ tự làm mới chính mình: tất cả những tế bào cũ sẽ bị loại bỏ và những tế bào mới xuất hiện. Ở tuổi ba mươi lăm, nó lại xảy ra một lần nữa, và cứ thế tiếp diễn. Cứ mỗi bảy năm, cơ thể của bạn sẽ đạt đến một điểm khi cái cũ ra đi và cái mới thế chỗ – và đó là giai đoạn chuyển đổi. Trong giai đoạn chuyển đổi này, mọi thứ đều ở thể lỏng. Nếu bạn muốn bước vào đời theo một chiều không gian mới, đó chính là khoảnh khắc để thực hiện. Hiện tượng này cũng xảy ra trong lịch sử nhân loại nói chung theo cách tương tự. Cứ mỗi hai mươi lăm thế kỷ sẽ lại xuất hiện một đỉnh cao – và nếu biết tận dụng khoảnh khắc đó, bạn có thể dễ dàng được giác ngộ. Có những lúc sẽ không dễ dàng làm được bởi vì ở đỉnh cao đó, dòng sông sẽ chảy theo hướng đó; mọi thứ đều dễ thay đổi, không có gì là cố định. Hai mươi lăm thế kỷ trước, Phật Thích Ca Mâu Ni và Mahavira (người sáng lập Kỳ Na giáo) đã chào đời tại Ấn Độ; tại Trung Quốc có Lão Tử và Trang Tử; tại Iran có Zarathustra, và tại Hy Lạp có Heraclitus. Họ là những đỉnh cao của nhân loại.

Chưa từng có một đỉnh cao nào như thế trước đó, hoặc nếu có, họ không thuộc một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 14

Đang tải bình luận...