phần mềm. Tuy nhiên, chưa phải là mọi chuyện đều đã xong cả. Chúng ta còn phải tìm cách kết hợp cả hai cơ chế khuyến khích sao cho chúng có thể vận hành đồng thời. Bằng không chúng ta chỉ có sự thật của một bên và không có bảo đảm nào về tính hiệu quả của kết quả cuối cùng. Vấn đề chạy đồng thời cả hai cơ chế khuyến khích sẽ là vấn đề trong các trường hợp khi dự án được tiếp tục thực hiện với tổng các khoản chi vượt quá tổng các khoản thu! Tất cả những gì có thể dùng để chi trả chính là lợi nhận hoạt động. Những cơ chế được kết hợp sẽ mang lại hai lần lợi nhuận hoạt động, trừ tổng của hai chi phí. Phần thiếu hụt chính là lợi nhuận hoạt động trừ đi tổng hai chi phí và phần này luôn là số dương bất kỳ khi nào dự án được quyết định tiến hành. Có một cách khác để tránh vấn đề này là cả hai công ty cùng gửi vào ngân hàng một khoản tiền thích hợp ngay từ giại đoạn đầu và sử dụng nó để trang trải cho phần thiếu hụt. Nêu các công ty đặt vào ngân hàng số tiền bằng trung bình thống kê của phần thiếu hụt dự tính, họ sẽ có thể lãi trong một số trường hợp và lỗ trong các trường hợp khác, nhưng kết quả trung bình là hòa vốn. Trong ví dụ của chúng ta, số tiền cần đặt vào ngân hàng sẽ là 4 triệu đô la. Nhưng chúng ta còn có thể làm tốt hơn nữa. Chúng ta có thể tạo ra một hợp đồng mà (1) tạo động cơ cho cả hai công ty để nói ra mức chi phí của họ một cách trung thực, (2) luôn luôn bảo đảm có được quyết định đúng đắn cho tiếp tục hay chấm dứt dự án và (3) bảo đảm rằng hợp đồng sẽ có khả năng hòa vốn trong mọi trường hợp, chứ không chỉ ở tính toán trung bình. Nguyên tắc đằng sau một hợp đồng hiệu quả là để công ty tính đến các chi phí họ áp đặt lên người khác bằng các hành động của họ. Chứng ta mới nhìn thấy rằng khi một công ty hoàn trả chi phí cho công ty khác, công ty đó có động cơ để nói trung thực và đưa ra quyết định hiệu quả về việc có tiến hành dự án hay không. Nhưng điều này dẫn đến vấn đề về cân đốí ngân sách. Do vậy, thay vì trả các chi phí thực tế của công ty kia, mỗi bên có thể trả các chi phí theo mức kỳ vọng hoặc trung bình thống kê mà hành động của họ gây ra. Khi mỗi công ty tuyên bố chi phí thấp, điều này làm tăng khả năng dự án sẽ được thực hiện và tương ứng là khả năng công ty khác sẽ phải gánh chịu một số chi phí sản xuất. Để mỗi công ty phải tính chi phí ngoại sinh (externalities) trung bình mà họ sẽ gây cho công ty khác, công ty phải nhận được mức trung bình thống kê của lợi nhuận hoạt động do dự án mang lại trừ đi chi phí trung bình của một công ty khác mà họ sẽ làm việc cùng khi dự án được tiến hành. Nếu công ty khai tăng các
315 chi phí của mình, họ sẽ chịu rủi ro chấm dứt dự án nhiều hơn và nhận được khoản thu ít hơn, trong khi nếu họ tìm cách khai giảm các chi phí điều này sẽ dẫn đến việc khoản phải trả cho chi phí ngoại sinh cao hơn cho các chi phí dự tính mà họ áp đặt lên công ty khác. Hai, ví dụ sẽ làm rõ điều này. Nếu như công ty