phần của CT2. Vậy CT2 phải làm thủ tục theo bản điều lệ để cho CT1 trở thành cổ đông. Vậy hợp đồng giữa CT1 và CT2 sẽ là một hợp đồng mua cổ phần hay chuyển nhượng vốn, tùy cơ cấu vốn hiện có của CT2. - Nội vụ cũng cho biết khi chuyển hợp đồng thiết kế cho CT3 thì tiền thu về, 180 triệu, sẽ được CT2 trả tiền thuê nhà cho CT3. Vậy giữa hai bên với nhau họ phải lấy hợp đồng thuê nhà ra, dựa vào đó để lập một hóa đơn trả tiền thuê nhà. Tóm lại cho vụ nêu trên, phải có hai chuỗi hợp đồng: một chuỗi tạo quyền lợi, một chuỗi tạo nghĩa vụ. Vụ này có thật! Vụ 36 Tờ vé số bị mất cắp Vụ án này được nêu ở đây để bạn xem cách phân biệt yếu tố chính, yếu tố phụ và tầm quan trọng của CHPL.
270 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ A. Trình bày Ngày 20/5/2002, TAND thị xã Tuy Hòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “hợp đồng hứa thưởng xổ số kiến thiết (XSKT)” giữa nguyên đơn là anh Trương Trung Trực và bị đơn là Công ty XSKT Phú Yên. Anh Trực ủy quyền cho cha ruột là ông Trương Trung tham gia tố tụng. Vé số trúng nhưng không được nhận tiền Ông Trung trình bày: Tối 13/8/2000, con trai ông là Trương Trung Trực đến trước cửa Công ty XSKT Phú Yên mua 10 tờ vé số kiến thiết và một tờ vé số điện toán (VSĐT) của một người bán dạo. Ngày 25/8/2000, khi đối chiếu kết quả mở thưởng, anh Trực mới biết tờ vé số có sêri 716391 do mình chọn đã trúng giải đặc biệt. Anh Trực cùng gia đình mang tờ VSĐT đến Công ty XSKT Phú Yên để nhận giải thưởng. Nhưng ở đó, ông Nguyễn Thăng, Giám đốc Công ty XSKT Phú Yên, tuyên bố không trả thưởng vì cho rằng tờ VSĐT của anh Trương Trung Trực là tờ vé số đã bị mất cắp trước đó. Lãnh đạo Công ty XSKT Phú Yên đã lập biên bản thu hồi tờ VSĐT của anh Trương Trung Trực. Ngày 13/9/2000, Hội đồng XSKT tỉnh Phú Yên có văn bản số 01 khẳng định: Tờ VSĐT có sêri số 716391 của anh Trương Trung Trực không hợp lệ, không có giá trị nhận giải thưởng. Anh Trương Trung Trực khởi kiện Công ty XSKT Phú Yên, yêu cầu công ty này phải chi trả tiền thưởng, đồng thời phải tính lãi suất kể từ ngày trúng thưởng. Bị mất trước đó nên … Tại phiên tòa, ông Lê Sĩ Miên, Phó Giám đốc Công ty XSKT Phú Yên, khẳng định: tờ VSĐT có sêri 716391 của anh Trương Trung Trực chính là tờ vé số đã bị đánh cắp trước khi mở thưởng. Ông Miên trình bày như sau: lúc 18 giờ ngày 15/8/2000, Công ty XSKT Phú Yên có lập biên bản về việc đại lý phát hành vé số Trần Sĩ Hiến ở phường 5, thị xã Tuy Hòa báo mất hai liên VSĐT, trong đó có sêri 716391. Theo như ông Hiến báo thì Đinh Thị Tuyết ở phường 8, thị xã Tuy Hòa, một người nhận vé số từ đại lý của ông để bán, đã báo rằng: khoảng 20 giờ ngày 13/8/2000 trong khi bán vé số, bà bị một thanh niên lừa lấy cắp hai liên VSĐT, trong đó có sêri 716391.
Một số vụ khác để mở rộng 271 Ngày 15/8/2000, tại biên bản xác định doanh thu và số lượng vé hủy, vé mất, Hội đồng giám sát XSKT tỉnh Phú Yên gồm đại diện Sở Tài chính – Vật giá, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh, Công an tỉnh đã xác nhận có hai tờ VSĐT bị mất mang số sêri 712347 và 716391. Sau khi có kết quả mở thưởng, lúc 17 giờ 30 ngày 16/8/2001, Công ty XSKT Phú Yên tiến hành lập biên bản mở niêm phong kiểm tra liên lưu và xác định VSĐT đã phát hành tại Phú Yên không có vé trúng giải đặc biệt. Tại Tòa, Công ty XSKT Phú Yên khăng khăng: không thể trả thưởng giải đặc biệt VSĐT có sêri 716391 của anh Trương Trung Trực vì tờ vé số này đã bị mất cắp, không có trong dự thưởng. Người mua: đúng luật … Ông Trương Trung, người đại diện cho anh Trương Trung Trực, cho rằng nếu tờ VSĐT có sêri 716391 bị mất từ đêm 13/8/2000, tại sao trong hai ngày đó Công ty XSKT Phú Yên không thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc niêm yết công khai tại trụ sở các thành viên của Công ty XSKT để khách hàng biết trước khi mở thưởng? Ông Trung lập luận: Không thể dựa vào lời khai của người bán vé số dạo để quy kết sự mất cắp tờ VSĐT có liên quan đến anh Trương Trung Trực, như thế là xúc phạm đến gia đình ông. Và nếu điều này là có thật, vì sao Công ty XSKT Phú Yên không kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật? Ông Trung nói rằng con ông là một khách hàng tham gia cuộc chơi xổ số đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định in trên mặt sau tờ VSĐT và thực tế đã trúng thưởng. Ông yêu cầu Công ty XSKT Phú Yên phải có trách nhiệm trả thưởng. Việc mất liên lưu vé số có sêri 716391 là trách nhiệm của Công ty XSKT Phú Yên. … Và người bán: cũng không sai Qua xem xét, Hội đồng xét xử TAND thị xã Tuy Hòa nhận định: Công ty XSKT Phú Yên đã thực hiện đúng các quy định về quy chế tổ chức, quản lý và phát hành VSĐT do Bộ Tài chính ban hành. Quy chế này không có điều khoản nào bắt buộc phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng khi có trường hợp mất vé số. Do đó, TAND thị xã Tuy Hòa đã tuyên xử bác yêu cầu của anh Trương Trung Trực đòi Công ty XSKT Phú Yên trả thưởng 662 triệu đồng.
272 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Hiện nay, gia đình anh Trương Trung Trực đã có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Từ vụ kiện này, dư luận nói rằng liệu có bao nhiêu khách hàng tham gia các loại hình XSKT được các Công ty XSKT phổ biến cụ thể quy chế tổ chức, quản lý và phát hành vé số? Trên thực tế, ngoài một số quy định đã in phía sau những tờ vé số, hầu như khách hàng không được cung cấp thêm một thông tin nào khác. Người chơi vé số hẳn không khỏi hồi hộp, lo âu vì biết đâu những tờ vé số mình mua cũng sẽ có số phận hẩm hiu như những tờ vé số “bị mất cắp” kia? B. Nhận xét CHMC ở đây là tờ vé số điện toán có đã bị mất trước khi nguyên đơn mua hay không? Xem sự kiện ta thấy tòa đã không đặt câu hỏi ấy mà chỉ chú trọng vào việc thực hiện quy chế tổ chức, quản lý và phát hành VSĐT do Bộ Tài chính ban hành của CTSXKT. Nói cách khác tòa chú trọng đến lời khai của ông Miên (bị đơn) mà không đặt câu hỏi pháp lý. Nếu đặt CHMC thì tòa phải quyết định hai sự kiện: (i) nguyên đơn mua; (ii) tờ vé số đã được khai báo là mất cắp. Trong hai vấn đề này, cái sau quan trọng hơn cái trước. Nếu tờ vé số đã bị mất trước khi nguyên đơn mua thì dù nguyên đơn đã có mua thật, hay được kẻ gian bán lại, hay chính nguyên đơn đã lấy, cũng không còn có ý nghĩa nữa vì tờ vé số đã mất trước rồi. Vụ 37 “Cây chà” là của ai Bài này hướng dẫn bạn cách đặt CHPL khi sự kiện giúp đặt ra câu hỏi không rõ ràng. A. Trình bày Trước kia, bà L có thuê ông H làm tài công. Ông H đã lập ra “cây chà” rồi nhượng lại cho ông Th. Bây giờ bà L. đòi ông Th. trả lại cây chà; nhưng không chứng minh được việc ông Th. đang chiếm giữ tài sản thuộc sở hữu của bà. Ông H là người đã đặt chà và khai thác cây chà xác định khi ông nhượng địa
Một số vụ khác để mở rộng 273 điểm đánh bắt cho ông Th. thì cây chà không còn. Chính bà L. thừa nhận chi phí làm chà đã được trừ vào chi phí mỗi chuyến đi biển của ông H. Do vậy, dù cây chà có tồn tại khi ông Th. tiếp nhận điểm đánh bắt thì cũng không thuộc sở hữu của bà L. Về quyền ưu tiên khai thác địa điểm đánh bắt hải sản: Đây là vùng biển xa bờ, pháp luật chưa quy định về quyền ưu tiên khai thác nên quyền ưu tiên phải được xác định theo tập quán. Theo xác minh ở chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn (Ban Hải sản thị trấn L H) thì tài công là người có quyền chọn và cho người khác điểm đánh bắt; địa điểm đã bị bỏ hơn ba tháng không khai thác thì có quyền khai thác. Như vậy, việc ông Th. sử dụng điểm đánh bắt hải sản hiện nay (địa điểm tranh chấp) là phù hợp với tập quán, không trái pháp luật, không vi phạm quyền lợi hợp pháp của bà L. Yêu cầu của bà L đòi lại “cây chà 19 tiếng” bao gồm yêu cầu đòi lại cây chà đã làm và yêu cầu đòi lại quyền khai thác địa điểm đã đặt chà. B.Cách làm Bản án này không mô tả “cây chà” là gì. Trong giới đánh bắt hải sản trên biển thì “cây chà” là một địa điểm để tàu thả lưới đánh cá. Nó do tài công lập ra và thường có trồng cây Chà. Vậy “cây chà” là một địa điểm đánh cá trên biển. Đây là kiến thức mà luật sư phải đi tìm! Trong vụ này bạn là luật sư của ông Th. Bạn sẽ suy nghĩ như thế này. Địa điểm này hiện do ông Th. giữ và bà L thưa ra tòa để đòi lại. Sự kiện cho thấy bà L. không chứng minh được mình là chủ của địa điểm kia do đó ta không thể đặt câu hỏi pháp lý là “Cây chà kia có phải là của bà L không?”. Xin mở ngoặc, nếu bạn có đặt câu hỏi pháp lý như thế này mà sau khi tìm bằng chứng, câu trả lời là có thì ông Th phải trả lại cho bà L; vì đối với một tài sản chỉ có một chủ. Hơn nữa bạn không bao giờ nên đặt câu hỏi như thế vì làm sao bạn đòi bà L phải đưa ra bằng chứng? Bạn chỉ hỏi như thế khi bạn là luật sư của bà L; nhưng sự kiện đã cho biết bà L không chứng minh được. Ngoài ra bạn cũng không cần phải “nghĩ” rằng “cây chà kia có thuộc quyền sở hữu của bà L không?”; nó dài, trong khi mà suy nghĩ cần phải ngắn gọn. Khi không đặt câu hỏi pháp lý đó cho bà L thì chỉ còn nước là hỏi “Ông
274 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Th. có phải là chủ của cây chà kia không?”. Khi là luật sư của ông Th. mà bạn đặt câu hỏi như thế là… làm hại thân chủ mình vì để trả lời ông ta phải đưa ra bằng chứng! Hơn nữa trong tình hình hiện nay ông ta là chủ trên thực tế; vậy về pháp lý thì không có gì chứng minh; vì sự kiện cho biết “quyền ưu tiên phải được xác định theo tập quán”. Ta biết ông Th. nhận cây chà từ ông H và cũng biết “theo xác minh ở chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn thì tài công là người có quyền chọn và cho người khác điểm đánh bắt; địa điểm đã bị bỏ hơn ba tháng không khai thác thì có quyền khai thác”. Vậy các SKMC ở đây là: (i) ông H cho ông Th; hoặc (ii) địa điểm đã bị ông H bỏ hơn ba tháng không khai thác. Trong hai SKMC trên thì cái trước dễ dàng chứng minh hơn cái sau. Do đó ta phân tích: nếu ông H là người chủ hợp pháp của địa điểm thì khi giao địa điểm kia cho ông Th., có nghĩa là ông ta đã giao hợp pháp; vậy ông Th là chủ hợp pháp của địa điểm. Nếu dùng CHMC thứ hai, ta phải chứng minh địa điểm kia đã bị bỏ không hơn ba tháng. Làm sao chứng minh được? Cãi tay không với bà L ư? Bởi vậy, câu hỏi pháp lý nên là “Ông H có phải là chủ hợp pháp khi giao địa điểm kia cho ông Th không?” Khi trình bày, bạn phải viết: “Ông H có phải là chủ sở hữu…” cho nó chỉnh chu. Đặt CHPL nhằm làm sáng tỏ các sự kiện; nhưng phải chọn câu hỏi nào có lợi cho thân chủ của mình. Nghĩ một mình nên phải làm sao càng ngắn thì càng rõ; nói hay viết cho người khác thì phải dùng các từ ngữ họ quen dùng. Bạn nhớ xin tòa triệu tập ông H như là người có quyền lợi liên quan. Vụ 38 Ông Hồ Đắc Tuấn và Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải1 A. Trình bày Năm 2007, Công ty TNHH TM&DV Vạn Kim, trụ sở tại tổ 14 Phạm Văn Đồng, phường An Hải Bắc, Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng được Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. 1 Nội dung được tổng hợp từ các thông tin báo chí.
Một số vụ khác để mở rộng 275 Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vốn điều lệ 9 tỷ đồng. Thành viên gồm: Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (gọi tắt “Công ty Trường Hải”) góp 4,5 tỷ đồng (chiếm 50% vốn Điều lệ) và Ông Hồ Đắc Tuấn góp 4,5 tỷ đồng (chiếm 50% vốn Điều lệ). Tháng 8/2009, Công ty TNHH TM&DV Vạn Kim đổi tên thành Công ty TNHH Ô tô Thaco–Kia Đà Nẵng, ông Tuấn giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên (gọi tắt “HĐTV”), ông Mai Phước Nghê làm Giám đốc là người đại diện pháp luật của Công ty Thaco–Kia Đà Nẵng. Đại diện theo ủy quyền quản lý