hồi lại vỏ chai bia (vì nếu bán cả chai bia, ví dụ để mang về nhà chẳng hạn thì giá sẽ khác). Với những người được mời, có ý kiến cho rằng họ được mời toàn bộ cả chai bia, gồm nước bia lẫn vỏ chai và nắp chai vì “chai bia là vật đồng bộ, nếu không có nắp còn gì là bia”. Ý kiến này không chính xác, vì người mời chỉ mời họ đi uống bia chứ không phải mời đến để biếu cả chai bia, cả thùng bia. Nếu được biếu cả chai bia, cả thùng bia thì người được biếu mới có quyền sở hữu cả vỏ chai, nước bia lẫn nắp bia. Trong trường hợp này (xin nhớ với điều kiện là ông Điện chỉ mời đi uống bia chứ không mời họ đến để cho họ các chai bia), những người được mời đi uống bia chỉ có quyền đối với phần nước bia đã rót mời họ chứ không có quyền gì đối với những phần khác (ở đây là vỏ chai, nắp chai và vật khuyến mãi thể hiện trên nắp chai). Cho dù ai khui bia thì số bia vẫn thuộc về người đã trả tiền để mua, do đó phần thưởng kèm theo cũng thuộc về người đó. Chỉ trong trường hợp người mời đã tuyên bố rằng không chỉ mời uống bia mà ai khui bia trúng quà người ấy được hưởng thì phần thưởng mới thuộc về người đã khui bia. Giải thích của tôi Tác giả bài này cũng dựa trên quan hệ pháp luật giữa các bên và đặt ra các câu hỏi về việc chuyển quyền sở hữu nước bia cùng những sự thỏa thuận đã có giữa các bên. Lập luận của tác giả tập trung vào hai phía – người mời và người được mời. Kết luận cuối cùng là ai đã trả tiền mua nước bia thì được hưởng quyền trúng thưởng vì mục đích của sự khuyến mãi là khuyến khích mua bia uống. 4. Phiên tòa giả định ra bản án (Vì vụ tranh chấp có thật nên khi mở phiên tòa giả tên và đối tượng tranh chấp được thay đổi). Thông thường khi tham gia đợt khuyến mãi, để có quyền nhận giải thưởng khuyến mãi, người tiêu dùng phải thực hiện các hành vi sau: (1) mua chai bia thuộc loại hàng hóa khuyến mãi; (2) bật nắp chai và bóc lớp cao su bên trong để xác định có dấu hiệu trúng thưởng trong thời hạn khuyến mãi. Hai hành vi đó chính là hai sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền được nhận giải thưởng khuyến mãi. Trong vụ kiện này đã xác định ông Lý là người mua bia; bà Sự là người
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 295 được ông Lý mời uống bia bằng cách đưa chai bia cho bà, cũng tức là giao cho bà quyền bật nắp chai bia để kiểm tra dấu hiệu trúng thưởng. Hãng bia Con Mèo quy định về giải thưởng và cách thức tham dự xác định như sau: “Uống bia Con Mèo chai trong thời gian khuyến mãi, bóc miếng nhựa bên trong nắp chai, xem bên dưới nắp chai, bạn có thể trúng một trong các giải thưởng...”. Như vậy, bằng hành vi cụ thể của mình, cả ông Lý, bà Sự đã cùng tham gia vào chương trình khuyến mãi của hãng bia Con Mèo. Quyền được nhận giải thưởng khuyến mãi phải là kết quả của hai hành vi nói trên chứ không thể là kết quả của riêng hành vi nào. Ở đây, thể hiện rất rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và kết quả. Nếu chỉ dừng lại ở hành vi mua bia mà không bật nắp chai kiểm tra thì sẽ không phát hiện ra nắp chai trúng thưởng. Vả lại, không phải cứ thực hiện hành vi mua chai bia là tất yếu dẫn đến trúng thưởng. Việc trúng thưởng còn phụ thuộc vào “sự may rủi” của chai bia, của hành vi bật nắp chai để kiểm tra. Ngược lại, nếu không thực hiện hành vi mua chai bia thì chắc chắn sẽ không có chai bia để mà bật nắp kiểm tra. Từ phân tích trên, Tòa cho rằng quyền nhận giải thưởng của hãng bia Con Mèo không thể chỉ phụ thuộc vào hành vi mua bia của riêng ông Lý – người mua bia, hoặc của bà Sự – người bật nắp chai bia, kiểm tra và phát hiện ra dấu hiệu trúng thưởng mà là thuộc quyền tài sản chung của cả hai người. Ông Lý, bà Sự là đồng sở hữu quyền tài sản có giá trị giải thưởng là chiếc xe Toyota Camry. Tòa xét thấy quan điểm của luật sư nguyên đơn cho rằng vì ông Lý là người mua bia, việc ông mời bà Sự uống bia thì chỉ có ý nghĩa mời nước bia, còn nắp chai trúng thưởng vẫn là vật sở hữu của ông để khẳng định ông Lý là chủ sở hữu của nắp chai bia trúng thưởng là chưa có cơ sở thuyết phục. Cũng như thế, quan điểm của luật sư bị đơn cho rằng việc ông Lý đưa chai bia mời bà Sự uống là một quan hệ cho tặng tài sản, vì chai bia là vật đồng bộ nên bà Sự có quyền sở hữu nắp chai bia trúng thưởng là chưa có căn cứ thỏa đáng. Bởi lẽ việc mời uống bia tại quán chưa hoàn toàn là một quan hệ tặng cho tài sản. Trong quan hệ tặng cho tài sản, người được tặng cho có quyền sở hữu với đầy đủ ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản cho tặng kể từ thời điểm nhận tài sản (trừ trường hợp thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác). Trong trường hợp này, việc mời
296 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ uống bia chỉ là một loại quan hệ giao tiếp thể hiện tình cảm với nhau. Loại giao tiếp này, trong tập quán hiện nay, bà Sự chỉ được quyền uống bia chứ không được quyền tự ý mang chai bia về nhà hoặc tặng lại cho ai nếu không được sự đồng ý của ông Lý là người mời. Như vậy, bà Sự đã không thể có quyền định đoạt chai bia được mời với tư cách là sở hữu chủ chai bia, trong đó có nắp bia trúng thưởng. Xét quan điểm của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Quán, Tòa nhận thấy quan hệ mua bán bia giữa ông Lý với ông Quán mặc dù vào thời điểm bật nắp bia trúng thưởng ông Lý chưa trả tiền mua bia nhưng trên thực tế, về mặt ý chí, ông Quán đã chấp nhận thông lệ”nhậu” trong xã hội là: nhậu xong mới tính tiền. Hơn nữa, sau khi phát hiện ra nắp bia trúng thưởng, ông Quán không có ý kiến gì. Sau khi nhậu xong, ông vẫn đồng ý tính tiền bia là 295.000 đồng. Ông còn viết giấy biên nhận xác nhận có giữ nắp bia trúng thưởng của bà Sự. Do đó, không thể chấp nhận yêu cầu của ông Quán và quan điểm của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông. Xét quan hệ sở hữu chung của ông Lý, bà Sự đối với quyền tài sản là giá trị trúng thưởng là sở hữu chung theo phần. Xét hành vi của ông Lý, bà Sự thì thấy: Việc ông Lý bỏ tiền ra mua chai bia là hành vi đầu tiên làm phát sinh quá trình tham gia khuyến mãi. Chai bia có nắp trúng thưởng đã ngẫu nhiên nằm trong số chai bia được mua từ số tiền bỏ ra của ông Lý. Hành vi của bà Sự chỉ là hành vi kế tiếp, có ý nghĩa phát hiện ra chiếc nắp cụ thể có dấu hiệu trúng thưởng mà thôi. Trong trường hợp này, cần áp dụng điều 4 “Nguyên tắc tôn trọng đạo đức”, điều 14 “Áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật” của Bộ luật Dân sự để xác định phần quyền sở hữu của mỗi người trong sở hữu chung. Hội đồng xét xử quyết định: Ông Lý được sở hữu 60% giá trị giải thưởng khuyến mãi. Bà Sự được sở hữu 40% giá trị giải thưởng khuyến mãi. Bác yêu cầu của ông Quán. Giải thích của tôi Ở đây bản án dựa trên quy định về sự khuyến mãi do nhà sản xuất đưa ra và các sự kiện pháp lý làm nảy sinh quyền nhận giải thưởng. Đó là sự kiện mấu chốt, trở thành câu hỏi pháp lý và cơ sở pháp lý. Ông Lý và bà Sự đã thực hiện hai hành vi này. Việc đó tạo nên mối quan hệ nhân quả và sự sở hữu chung; do đó cả hai đều được hưởng.
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 297 B. Nhận xét của tôi về các lập luận Như bạn thấy trong phần giải thích, các luật gia dùng các cơ sở pháp lý khác nhau, ba bài đầu dùng quan hệ pháp luật giữa chủ quán, và những người uống bia. Bản án giả định dùng quy định khuyến mãi. Ta rút được vài điều sau: - Mỗi người có thể chọn sựu kiện hay căn cứ pháp lý khác nhau để lập luận; - Mỗi một sự kiện nêu ra đều hàm chứa một khái niệm pháp lý, người ta nêu ra pháp lý trước rồi sự kiện sau hay làm ngược lại. Rút ra như thế để bạn biết mà chọn lựa sau này. Bây giờ tôi xin nêu nhận xét của mình là các lập luận trên có tính thuyết phục cao không? Nhận xét của tôi có tính lý luận. Tôi cho rằng các lập luận trong ba bài đầu thiếu một sự kiện quan trọng là nhà sản xuất. Trong bản án nhà sản xuất được đề cập, nhưng chỉ qua việc khuyến mãi. Nhà sản xuất bị loại bỏ khi các bên tranh luận. Các bài tranh luận đã chỉ nhìn vào chủ quán, người mời và được mời và chỉ thấy quan hệ pháp luật giữa họ và chai bia. Từ chai bia, sự phân tích đi chi li đến nước bia, cái nắp bia và tranh cãi về quyền sở hữu những thành phần này, thậm chí “uống bị đau bụng”. Tôi thấy các chủ thể trong vụ này phải có thêm nhà sản xuất bia vì chính họ là người có quyền lợi (thu tiền bia) và có nghĩa vụ (trao giải cho ai trúng như mình đã hứa thưởng). Và như thế cơ sở pháp lý phải chuyển sang quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Khi ấy ta sẽ thấy chiếc xe, chứ không chỉ thấy mỗi một chai bia như ở đây. Các lập luận ở trên có thể bị chỉ trích vì đã loại bỏ nhà sản xuất. Về mặt lý luận, nếu một yếu tố quan trọng bị bỏ đi thì sự lập luận trở thành mất nền tảng. Vì đã loại bỏ nhà sản xuất nên các sự lập luận đã xoay quanh quyền sở hữu chai bia. Quyền sở hữu chai bia giữa những người mời bia và uống bia không có hiệu lực ràng buộc nhà sản xuất. Người này quan tâm tới việc thu tiền, tức là đến quyền lợi của họ; bởi họ phải thực hiện nghĩa vụ trao chiếc xe. Các lập luận của ba bài đầu đã không đào sâu vào tư cách của người bán (là nhà sản xuất) và người mua (những người mời và uống bia), để định ra nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người mà xoáy vào mối quan hệ pháp luật giữa những người uống bia với nhau. Tôi không phủ nhận là
298 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ quan hệ tạo ra tư cách, nhưng người ta tranh chấp với nhau về tư cách chứ không phải vì quan hệ; tức là A phải có nghĩa vụ gì với B; chứ không phải A là gì với B. Trong nơi học tập, hay chốn bàn cãi bạn có thể nói về quan hệ hay tư cách; nhưng khi một người đang tranh chấp đến nhờ bạn, bạn phải nhìn họ theo tư cách. Bản án giả định không lấy cơ sở pháp lý là nghĩa vụ và quyền lợi của các bên mà lấy quy định khuyến mãi làm nền tảng. Khuyến mãi dẫn đến nhà sản xuất là người có nghĩa vụ trao xe. Đưa nhà sản xuất vào cuộc thì ta sẽ có câu hỏi với bà Sự là: (i) Bà Sự đã thực hiện một nghĩa vụ gì với nhà sản xuất để được hưởng 40% giá trị chiếc xe?; (ii) khi nắm cái nút chai bà ấy có rơi vào trường hợp của điều 604 LDS về nghĩa vụ hoàn trả vì được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật để phải trả cái nút chai cho ông Lý không? Lập luận để cho bà Sự hưởng chiếc xe có hai điểm yếu này về mặt pháp lý. Bởi vậy, tôi đề nghị là mình sẽ đi vào tư cách của các bên có liên quan và dùng cơ sở pháp lý là quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ với nhau. Ở đây ta có: chủ quán, ông Điện (hay ông Lý trong bản án giả định), ông Sơn (bà Sự trong bản án) và nhà sản xuất. Họ có quyền lợi và nghĩa vụ với nhau. Đứng ở vị trí của nhà sản xuất, ta đặt câu hỏi: Người này có nghĩa vụ gì? Và với ai? Câu trả lời là: Họ phải giao xe cho ai đã mua bia, trả tiền và trúng thưởng. Tiếp theo, ta áp một câu hỏi chung với từng người còn lại là đối tác của nhà sản xuất rằng: “Ông đã thực hiện nghĩa vụ gì với nhà sản xuất để có quyền lợi là trúng thưởng chiếc xe? Hỏi như thế ta sẽ thấy ông Sơn (hay bà Sự) không phải thực hiện một nghĩa vụ gì; còn ông Điện đã thực hiện một nghĩa vụ với nhà sản xuất là trả tiền mua bia; vậy cái nắp là của ông ta, và cuối cùng ông trúng thưởng. Trong quan hệ pháp luật giữa nhà sản xuất và ông Điện thì nhà sản xuất đã giao chai bia cho ông Điện; chứ không giao cho ông Sơn hay bà Sự. Tất nhiên ở đây sẽ nảy sinh câu hỏi là ông Sơn (hay bà Sự) đã bật nắp theo quy định của nhà sản xuất chứ không phải ông Điện (hay ông Lý). Vì thế mới có tranh chấp! Bây giờ tình thế là sau khi bị hỏi như trên thì ông Sơn (hay bà Sự) sẽ vặn lại rằng: “Đồng ý là tôi không trả tiền bia, không thực hiện một nghĩa vụ gì với nhà sản xuất, nhưng tôi nắm cái nắp chai trúng thưởng!”. Dầu vậy, trên căn bản quyền lợi và nghĩa vụ, ta sẽ hỏi: “Nắp chai kia ở đâu mà ra? Ông hay bà đã thực hiện nghĩa vụ gì để có cái nắp chai ấy?”. Rõ ràng, họ không làm gì cả; vậy họ phải trả lại cái nắp chai cho ông
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 299 Lý. Đấy là lý lẽ. Việc chia phần thưởng sẽ bàn sau vì đó là tình cảm và đã có câu “lộc bất hưởng tận”. Đến đây, bạn thấy có ba cơ sở khác nhau được dùng để đưa ra câu hỏi pháp lý trong vụ này: (i) dùng quan hệ pháp luật giữa các bên; (ii) dùng quy định về khuyến mãi; và (iii) dùng tư cách của tất cả các bên. Trong mỗi cách, bạn xem các vấn đề pháp lý được đặt ra như thế nào, lý giải ra sao, và xem cái nào khó bị tấn công nhất. Nói theo lý thuyết hay lý lẽ đơn thuần là như thế, nhưng trong cuộc sống này người ta không sống thuần túy theo lý lẽ cho nên giải pháp đề ra như bản án của phiên tòa giả định là hợp tình, cơ sở lựa chọn cũng khéo dẫu căn cứ pháp luật không hoàn toàn thỏa đáng. Sống là phải tương nhượng. Đi tìm cái thỏa đáng thì chắc là phải về kiếp sau! Hơn nữa, vụ tranh chấp này sẽ làm cho những người khác sau này nếu có uống bia có hứa thưởng thì sẽ giao hẹn với nhau về cái nắp chai để tránh chuyện tranh chấp này xảy ra với họ. Làm người là phải rút kinh nghiệm và do đó đã có luật pháp. Vụ 42 Ong trên cây là của ai? A.Trình bày Đây là một bài trích trong báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tên các nhân vật tham dự được tôi đổi. “Như chúng tôi đã thông tin, để có điều kiện tranh luận, phân tích thấu đáo hơn tình huống pháp lý của đề thi Đố vui pháp luật kỳ 1/2004 dưới hình thức phiên tòa theo đúng tinh thần cải cách tư pháp, ngày 16/5, Báo Pháp Luật TP.HCM và Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Nai đã tổ chức phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án “Ong trên cây là của ai?” Ông An trồng một cây điều, nhánh của nó chĩa sang đất nhà của ông Ban, trên nhánh kia có tổ ong; ông Cương – là người đi lấy mật ong – bèn leo lên cành lấy mật ong của tổ kia. Ai là chủ tổ ong? Ông Cương có lỗi với ai? HĐXX gồm có: bàP chủ tọa; phụ thẩm làN và V, đại diện Viện Kiểm sát là ông P (VKS).
300 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Bảo vệ quyền lợi cho các đương sự gồm có: luật sưT bảo vệ quyền lợi cho ông An; P, bảo vệ ông Ban; R, bảo vệ ông Cương. Tổ ong không phải là hoa lợi Vấn đề pháp lý quan trọng: “Tổ ong có phải là hoa lợi của cây điều?” được tranh luận, phân tích cặn kẽ. Phát pháo đầu tiên, luật sưT nói như đinh đóng cột: “Tổ ong là hoa lợi của cây điều. Việc khai thác tổ ong trên cây không làm ảnh hưởng đến giá trị của tài sản gốc. Nếu ta gọi tài sản sinh hoa lợi là tài sản gốc thì tài sản gốc là cây điều chứ không phải là khoảng không gian có cây điều”. Luật sư R cho rằng tổ ong là hoa lợi nhưng không phải là hoa lợi của cây điều. Tổ ong là hoa lợi của con ong (do con ong hút phấn, tạo mật…). Luật sưP nói căn cứ theo điều 182 BLDS thì hoa lợi phải là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Tổ ong này nằm trên cành cây nhưng không phải là sản vật của cây hoặc cành cây sinh ra. KSV củng cố thêm: Cái lá, cái hoa, cái quả điều là hoa lợi của cây điều. Nếu bất cứ cây điều nào cũng sinh ra tổ ong thì ong mới là hoa lợi của cây điều! HĐXX gút lại: Tổ ong không là hoa lợi của cây điều bởi cây điều không sinh ra tổ ong. Có công thì được hưởng Luật sư R đề nghị HĐXX công nhận tổ ong là của anh Cương vì anh Cương là người phát hiện ra tổ ong. Nghề lấy ong là công việc hoàn toàn lương thiện, tập quán cho phép họ đi tìm bắt ong. Ngoài ra, công việc này có tính nguy hiểm, đòi hỏi kỹ thuật cao, kinh nghiệm nhất định. Như vậy, anh Cương đã bằng lao động mà tạo ra thu nhập hợp pháp. Việc anh Cương vào nhà không xin phép có thể chưa đúng về mặt lễ nghĩa nhưng ở nhà quê không dễ thấy chủ mà xin phép. Luật sưP bác lại: Anh Cương bước chân vô vườn mà không được phép chủ là đã sai, có thấy tổ ong nhưng chủ không cho phép thì không được lấy! Việc anh Cương đi bắt ong trước đây không ai ngăn cản là do tình làng nghĩa xóm nhưng pháp luật không cho phép. KSV phân tích: Anh Cương có hai hành vi: vào nhà không xin phép và hành vi bắt ong. Hành vi vào nhà không xin phép là không hợp pháp nhưng
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 301 nó không tạo ra thu nhập. Việc bắt ong là lao động có kỹ năng, có kinh nghiệm mới có thể bắt được. Khi bắt được tức là đã chiếm hữu mà không phạm pháp. Luật sưT liên hệ với quy định người có vật nuôi dưới nước di chuyển vào ao của người khác thì không được đòi lại trừ trường hợp vật đó có làm dấu riêng. Vì vậy, anh Cương tuy có công bắt được tổ ong nhưng xâm phạm quyền sở hữu của người khác. Chủ không gian có quyền cấm Luật sưP. cho rằng tổ ong nằm trong khoảng không gian đất nhà ông Ban thì ông An, cũng như anh Cương muốn khai thác, sử dụng, chiếm hữu nó (cũng như những gì có trên cành điều – hoa, lá, trái …) phải được sự đồng ý của ông Ban. Nếu ông Ban không cho phép thì cũng chỉ được đứng nhìn chứ không làm gì được. Pháp luật không buộc ông Ban phải cho phép ông An vào vườn mình để thu hoạch, khai thác hoa lợi (trái điều…) trên cành cây này. Nếu ông Ban ngăn cấm thì cũng không bị coi là trái pháp luật. Một người không được phép khai thác, sử dụng, định đoạt, chiếm hữu (như ông An, anh Cương) thì có được coi là chủ sở hữu của tài sản hay không, trong khi ông Ban lại có đầy đủ các quyền này…? KSV cho rằng ông Ban có quyền chiếm hữu những gì lọt vào không gian, mặt đất trong trường hợp không xác định ai là chủ. Đối với vật tự nhiên không có chủ thì chỉ là chủ khi bắt được. Ở đây, ông Ban cũng chưa bắt, thậm chí chưa phát hiện thì làm gì là của ông Ban! Áp dụng tương tự Luật sưT khẳng định: Tổ ong là của ông An! Nếu nhánh cây tách ra khỏi cây thì không còn giá trị. Việc sở hữu cành cây bao giờ cũng gắn với quyền sử dụng đất nơi có cây. Vì vậy ông Ban không thể chỉ sở hữu một nhánh trên thân cây của ông An. Nếu ông An bón hóa chất cho cây điều dẫn đến trái điều trên phần không gian của ông Ban có chất độc gây hậu quả thì ông An vẫn phải chịu trách nhiệm. Vì ông An phải chịu trách nhiệm pháp lý về những hậu quả do đối tượng của sở hữu mình gây ra nên được toàn quyền khai thác cây điều. Nếu con chó nhà ông An sang đẻ bên đất ông Ban thì ông An có sai nhưng ông Ban phải đem qua trả chứ không được lấy. VKS cũng cho rằng cây là vật đồng bộ, không thể tách nhánh ra khỏi thân cây. Việc vi phạm cho cây gie (chìa sang nhà bên kia) ra không có nghĩa là
302 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ mất quyền sở hữu. Luật không quy định việc mất quyền sở hữu khi vi phạm không gian. HĐXX nhận định: Nhánh cây ông An vi phạm không gian, ông Ban có quyền yêu cầu chặt bỏ nhưng ông An chưa chặt, ông Ban lại không có biện pháp gì (khiếu nại với tổ hòa giải, UBND phường xã) chứng tỏ mình yêu cầu chặt thì cành cây vẫn là của ông An. Còn tổ ong là vật thiên nhiên như cây cỏ, chim muông, thú dữ sinh sản, di chuyển tự nhiên, nếu không có chủ và không thuộc diện nhà nước quản lý thì áp dụng pháp luật tương tự (điều 252 Bộ luật Dân sự, xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước) – cho rằng cá di chuyển tự nhiên di chuyển vào ruộng hoặc ao của người nào thì người đó được sở hữu. Tổ ong không phải là hoa lợi của cây nhưng lại di chuyển vào cây điều của ông An nên ông An được quyền sở hữu. Việc áp dụng phong tục tập quán khai thác ong của anh Cương chỉ phù hợp nếu tổ ong đó ở trên rừng hoặc đất hoang. Đây lại là nhà của ông Ban, không thể muốn vào bắt là được. Trước khi tuyên án, HĐXX hỏi ý kiến ông An, anh Cương. Theo tình làng nghĩa xóm, cả hai đều đồng ý chia đôi để mọi người cùng chung được hưởng “mật ngọt của đất trời”. HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này. Ý kiến phản đối - Đại diện Viện Kiểm sát tại “phiên tòa” phúc thẩm: Cần “kháng nghị” bản án phúc thẩm vì áp dụng sai luật. Hội đồng xét xử sai lầm trong việc áp dụng pháp luật về nội dung: Nếu áp dụng điều 244 BLDS thì phải xác lập sở hữu cho ông Ban vì tổ ong ở trên không gian thuộc vườn nhà ông Ban. Bộ luật Dân sự không hề quy định: bất cứ vật nào gắn, đậu vào vật thuộc quyền sở hữu của một người (không phải vật phụ, vật đồng bộ, hoa lợi, lợi tức) là thuộc sở hữu của người đó! Sẽ thấy ngay là không hợp lý, nếu: Có đàn chim rừng bay vào đậu trên mái nhà ông An; khi chim bay ra khỏi nhà, người khác bắn được, bắt được thì ông An lại dám ra đòi bảo đó là chim của mình; có con cáo rừng chạy vào nhà ông An, sau đó nó chạy ra bắt gà nhà hàng xóm thì chẳng lẽ buộc ông An phải bồi thường vì là chủ sở hữu của con cáo đó? - Luật sưP: Phải thuộc về người chủ không gian
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 303 Hội đồng xét xử nhận định rằng: “Nhánh cây nhà ông An tồn tại là vi phạm không gian nhà ông Ban”. Và xác định: “Tổ ong không phải là hoa lợi của cây điều, cành điều nhà ông An” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật. Nhưng lẽ ra nhận định như vậy thì phải hiểu cả cành điều và tổ ong có tồn tại được hay không là hoàn toàn thuộc quyền của ông Ban chứ không phải của ông An. Người để cành cây vươn sang nhà người khác chỉ được hưởng hoa lợi do cây tạo ra, còn những gì không phải là hoa lợi trên cành cây đó phải thuộc về người chủ không gian. Hội đồng xét xử viện dẫn điều 252 BLDS thì theo tôi, tổ ong phải thuộc sở hữu của ông Ban. Nếu trong ao hồ có vật gì của người khác tự ý đem vào ngâm trong ao hồ mà cá tôm chui vào sống thì vẫn xác định cá tôm là của người có ao hồ. Không thể nói nhờ vật đó mà cá tôm ở lại. Cũng không thể nói do chủ ao hồ không yêu cầu lấy vật ấy đi nên cá tôm đó là của người có vật chứa cá tôm. Tương tự như vậy, tổ ong vào không gian của nhà ông Ban làm tổ thì ông Ban có quyền sở hữu bất kể nó làm tổ ở vật nào trong khoảng không gian đó. - Bạn đọc chưa đồng tình với án phúc thẩm Cá không thể tương tự với ong Hội đồng xét xử lấy điều 252 BLDS xác lập quyền sở hữu cho vật nuôi dưới nước, có chủ đi vào mương, ao người khác, trong khi tổ ong này đã được tòa xác định là vật tự nhiên, không có chủ. Con ong bay tự do, không bị một giới hạn nào, trong khi con cá phụ thuộc vào luồng lạch của nguồn nước. Cá không thể tương tự với ong được. Hàng vạn người đang hành nghề bất hợp pháp? Hiện nay đang vào mùa mưa. Theo tập quán “chim trời, cá nước” hàng trăm năm nay, mỗi đêm có hàng vạn người dân đồng bằng sông Cửu Long soi ếch, cá trên ruộng lúa, trong vườn cây của người khác như là một nghề nghiệp kiếm sống. Nếu theo quan điểm của Hội đồng xét xử chỉ áp dụng tập quán này với đất rừng, đất hoang thì hàng vạn người này đang hành nghề bất hợp pháp hay sao? Pháp luật sẽ quy định xử phạt họ ra sao? Phải xem xét yếu tố không gian chứ không phải cành cây! Cá sống trong môi trường nước, ong sống trong không gian. Việc hình thành tổ ong phụ thuộc vào nhiều yếu tố không gian như: ánh sáng (cây
304 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ làm tổ ong chỗ rậm, có bóng mát), tiếng ồn, độ ẩm…, còn cành cây chỉ là một yếu tố. Vì vậy, nếu áp dụng pháp luật tương tự thì người được hưởng phải là ông Ban chứ đâu phải ông An! Vật tự nhiên là của chúng ta! Luật cho phép áp dụng phong tục tập quán trong các tình huống chưa có luật quy định, tại sao ta không vận dụng? Từ xưa và ngay cả hiện nay, “lệ” chim trời cá nước được hàng triệu người chấp nhận tuân thủ. “Lệ” này chưa gây hậu quả xấu nào cho xã hội mà còn là điều kiện, là môi trường để lối sống tình làng nghĩa xóm phát triển, sinh sôi. Vật tự nhiên không phải của anh, của tôi mà là của chúng ta, ai bắt được thì người đó hưởng. Nếu tuyệt đối hóa một cách chi li cái của tôi, sẽ có lúc người ta tranh nhau quyền được thở vì không khí cũng phải nằm trong khoảng không gian nào đó. Anh có đất rộng, có nhiều không gian được thở nhiều; anh ít đất thở ít; người không có đất thì phải nín thở!? Người phạm pháp lại được hưởng lợi? Tôi thấy ở đây có nhiều nghịch lý, bất ổn trong thực thi pháp luật. Trong mọi tình huống, pháp luật phải được vận dụng vào thực tiễn theo hướng tiếp cận được với những nguyên tắc công bằng, tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định. Trong trường hợp này, nếu bản án sơ thẩm là một bài học sinh động cho mọi người thấy rằng hành vi vi phạm pháp luật không những không được hưởng lợi dưới bất cứ hình thức nào mà còn có thể phải chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại thì bản án phúc thẩm lại đem đến cho mọi người một thứ “công lý” lạ: Kẻ làm trái pháp luật (An và Cương) công khai xâm phạm vào đất và không gian thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người khác thì được hưởng lợi, còn người bị xâm phạm thì phải gánh chịu sự thiệt thòi! B. Nhận xét Chúng ta thấy các ý kiến bàn cãi nhiều vấn đề: cây điều, cành cây điều, không gian, tổ ong… là vì không ai đưa ra được một câu hỏi pháp lý mà có thể thuyết phục những người khác nhiều nhất để làm cơ sở tranh luận. Bạn cũng thấy, nếu bạn bênh vực ai mà không dựa trên một câu hỏi pháp lý nhất định thì lý luận của bạn sẽ không chặt chẽ, khó thuyết phục được người khác.
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 305 Với câu hỏi pháp lý “tổ ong có phải là hoa lợi của cây điều không?”, người nêu đi tìm nguồn gốc hay tính chất của tổ ong, nó từ đâu ra, là gì. Thế nhưng câu hỏi của vụ án này là tổ ong của ai. Vậy câu hỏi pháp lý đặt sai. Từ cái sai đó nó dẫn đến cành cây chĩa sang đất ông Ban, rồi trong khoảng không của ông Ban… Sự kiện ở đây là cây điều, nhánh của nó mọc chĩa sang nhà khác, và tổ ong nằm trên ấy. Theo tôi, sự kiện mấu chốt là cây điều, vì nó liên quan đến cành, và cành đó là của ai. Câu trả lời tất nhiên là nhánh của cây điều là một