Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

CHƯƠNG

CHƯƠNG

CHƯƠNG 3 Luật pháp dạy cho luật sư Luật sư tiếp cận luật pháp trên căn bản của từng cá nhân, theo tư cách của họ: bên nguyên hay bên bị. Do đó, khi có một vụ tranh chấp xảy ra (bạn gọi là mối tương quan pháp lý), thì luật sư phải xác định khách của mình là ai trong vụ kia. Người bên kia là gì? Hay tư cách của họ là gì? Luật dạy cho luật sư ở Pháp và các nước khác được sắp xếp để cho họ có khả năng trả lời câu hỏi kia nhanh chóng. Và nền tảng của cách dạy đó là gắn luật pháp với con người. Luật đó lấy con người làm nền tảng khi được giảng dạy. Mục 1: Tư cách xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người Tư cách chính là “địa vị pháp lý” của một thể nhân hay pháp nhân mà bạn đã học. Khi bạn nhìn “người sử dụng đất” theo địa vị pháp lý của họ thì họ có những quyền lợi và nghĩa vụ do luật định. Ta hình dung một người có hai cánh: cánh bên phải là các quyền lợi của họ; cánh bên trái là các nghĩa vụ. Con người có hai cánh ấy, thí dụ cô Lan, không tranh chấp với ai. Bạn có thể viết về cô Lan, một người sử dụng đất; cô ấy phải thế nọ thế kia. Tha hồ. Ngoài ra, bạn có thể bàn rất sâu về mỗi cái cánh. Đấy là cách bạn nhìn một người theo địa vị pháp lý. Ở đó các quyền lợi và nghĩa vụ của họ là một bản liệt kê; tức là chúng ở thể tĩnh, im lìm. Nay cũng vẫn con người ấy, cô Lan, phải tranh chấp với người khác, ông Ba; vì một trong những quyền lợi của cô bị xâm phạm, thí dụ chuyển nhượng đất mà không được trả tiền. Lúc ấy, bạn phải nhìn cô Lan với… một cánh! Cánh quyền lợi thôi. Thậm chí chỉ một điểm trong cái cánh đó (quyền được đòi tiền vì đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Nhưng nếu chỉ nhìn có mỗi cô Lan thì bạn cũng sẽ chẳng bảo vệ được gì cho cô! Ai vi

50 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ phạm vào quyền lợi ấy chứ? Vậy bạn phải nhìn sang ông Ba, cũng chỉ một cánh thôi. Cánh nghĩa vụ, và chỉ một điểm trên cánh đó (nghĩa vụ trả tiền). Nhìn hai người theo bốn cánh thì chẳng bao giờ bạn giải quyết được sự tranh chấp của họ. Vậy bạn phải nhìn họ theo tư cách. Một bên đã chuyển nhượng đất, một bên chưa trả tiền. Tư cách là thế đứng của một người này đối với một người khác trong khuôn khổ của luật pháp. Mà luật pháp thì không phải chỉ có các văn bản luật, mà còn có những quy định mà hai người đã thỏa thuận với nhau, ở trong hợp đồng chẳng hạn. Và bạn phải đứng về một bên nhất định. Trở lại với “người sử dụng đất”, nhìn người ấy theo địa vị pháp lý thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ đứng im; nhìn theo tư cách thì những quyền lợi của họ trở thành sống động và chúng xung đột với nhau. Khi ấy bạn không gọi cô Lan là “người sử dụng đất” mà là “người bán đất”; như thế sẽ liên tưởng ngay đến “người mua đất và phải trả tiền”: ông Ba nhăn nhó! Một người có quyền lợi; một người có nghĩa vụ; do vậy, người trước tranh chấp khi quyền lợi của họ bị người sau vi phạm. Khi ấy thì sẽ có một người nhờ đến bạn và bạn tham gia vào vụ tranh chấp. Dùng từ ngữ chính xác thì cô Lan là người chuyển nhượng quyền sử dụng đất; còn ông Ba là người nhận chuyển nhượng quyền ấy. Trình bày cách khác, khi bạn nhìn thân chủ của mình và người giao dịch với họ theo “địa vị pháp lý” thì giống như khi bạn đứng trên cao nhìn 32 quân cờ trong một bàn cờ tướng; bạn thấy chung chung, không phân biệt tướng, sĩ, hay tượng. Nhưng nếu bạn nhìn từng con một theo vai trò của nó thì sẽ phân biệt xe, pháo, mã, thấy ngay sức mạnh và nước đi của mỗi con. Đó là sự khác biệt về ý nghĩa của “địa vị pháp lý” và “tư cách”. Trong TDPL bạn phải đổi cách nhìn “địa vị pháp lý của con tượng” sang “con tượng”, tức là từ “địa vị pháp lý” sang “tư cách”. Như bạn sẽ biết sau này, mục đích chính của luật pháp là ấn định trật tự và để bảo đảm cho trật tự được tuân thủ; vì thế luật đặt ra trách nhiệm trong khuôn khổ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi đối tượng điều chỉnh. Khi còn đi học, ta bàn về “địa vị pháp lý”. Nhưng khi các quyền lợi và nghĩa vụ kia xung đột với nhau, ta phải chuyển sang “tư cách” để biết quyền lợi nào, của ai, bị vi phạm hay không.

Luật pháp dạy cho luật sư 51 Danh từ “tư cách” trong luật khác ý nghĩa với “tư cách” trong luân lý. Cái trước là vị trí của mỗi người trong một giao dịch; cái sau là cách thức cư xử hay hành vi của một người nhất định (có triết gia gọi là cử thái, tiếng Anh là “behavior”). Tư cách theo nghĩa luân lý cho biết một người nào đó có đàng hoàng, đứng đắn hay không. Thí dụ như bạn nói “Ông ấy có tư cách”. Thế nhưng cũng nói câu y như thế trong lĩnh vực luật pháp thì nó có ý nghĩa ông ấy ở trong một vị trí và có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định theo luật định. Khi giải quyết tranh chấp, ta phải đi tìm tư cách của khách hàng mình trong giao dịch liên quan, để xác định trách nhiệm và quyền lợi của họ. Đó là “lợi ích hợp pháp” của họ mà họ thuê bạn… bảo vệ. Bạn dùng danh từ “tư cách” để mình dễ nhập vào làm một với thân chủ trong suy nghĩ của mình. Các bạn không quen thuộc với “tư cách” lắm. Vì là cán bộ pháp chế các bạn không dùng tới nó. Thậm chí nó không được ghi trong quyển Từ điển luật học to tướng của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp xuất bản năm 2006, dày 906 trang. Trong các từ điển luật học của Pháp hay của Mỹ đều có. Pháp gọi là capacité và Mỹ là capacity. Đó là năng lực để làm những thứ hay thực hiện các hành vi của đời sống dân sự hay chính trị. Tuy nhiên, khi vì nghề nghiệp, bạn bị kéo “xuống hồ”. Lúc ấy, bạn cần biết mình về phe nào, phải làm gì, thì sau đó mới chỉ dẫn cho thân chủ được. Thân chủ, qua lời kể, đưa cho bạn một vụ việc trong đó có các sự kiện; bạn phải phân tích và nối kết chúng với luật lệ bạn biết. Bạn phải hình dung ra thân chủ của bạn, đối phương của người ấy, và luật sư của họ nữa; đó là chưa kể đến những người thứ ba như công an, viện kiểm sát, tòa án. Bạn phải cân nhắc “liệu rằng nói thế này họ sẽ bác bỏ hay không, nếu có thì phải thay đổi thế nào”. Bởi theo lẽ tự nhiên, muốn thuyết phục được họ (đặc biệt là tòa án) thì bạn phải cố gắng trình bày giải pháp rõ ràng, hợp về tình, đúng về lý. Và cách làm là TDPL. I. Một người có nhiều tư cách Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người có nhiều tư cách. Thí dụ, ở nhà với bố mẹ, ông A là con (Luật hôn nhân gia đình – quan hệ huyết thống); đến trường dạy học ông ta là thầy giáo, hiệu trưởng (Luật giáo dục – quan

52 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ hệ hành chính); ra chợ mua hàng lại là người mua (Luật dân sự – quan hệ mua bán). Do vậy, những quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dễ đụng chạm nhau. Đó là sự tranh chấp về quyền lợi. Luật sư được thuê để giải quyết các sự tranh chấp trong một giao dịch. Vậy công việc chính của luật sư là xem xét quyền lợi và nghĩa vụ của bên thuê mình trong một giao dịch và đừng nhầm lẫn về tư cách của họ. II. Tư cách là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp Vì phải gỡ rối vụ việc để tìm giải pháp, nên tôi đổi cái nồi méo thành một cái cuộn dây bị rối. Muốn gỡ nó, ta phải tìm cái mắt nào rối nhất; gỡ cái mối ấy ra trước nhất, rồi từ từ gỡ các mối khác. Cuộn dây rối tiêu biểu cho vụ việc. Cái mắt rối nhất là tư cách. Chúng ta đã biết cơ bản về tư cách, nay sẽ đào sâu hơn. Khi TDPL, bạn phải xác định tư cách của thân chủ bạn để biết quyền lợi và nghĩa vụ của người ấy trong vụ việc; tiếp theo bạn định ra tư cách của những người khác. Vì nghĩa vụ của người này là quyền lợi của người kia nên khi nhìn tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên (có thể là hai, ba hay bốn bên) trong vụ việc, bạn sẽ thấy ra ngay ai vi phạm vào quyền lợi của thân chủ bạn và thân chủ bạn chịu trách nhiệm với ai. Để dễ nhớ tư cách, bạn tưởng tượng một khối đá vuông có cây dù ở trên. Khối đá là tư cách; cây dù là nghĩa vụ khi nó xòe ra, là quyền lợi khi nó cụp vào. Một người phải đứng trên khối đá thì mới có cái dù. Tôi không biết các bạn có bí quyết gì; nhưng tôi chỉ cho bạn một bí quyết là đầu tiên phải xác định tư cách của thân chủ bạn và của các người khác trong nội vụ. Bạn phải nhìn ra các khối đá khác nhau trong sân vườn (vụ tranh chấp). Nói cách khác, bạn phải tìm ra khối đá vuông họ đang đứng ở trên là gì. Khi biết khối đá bạn thấy cây dù. Nhưng muốn ấn định được tư cách, bạn phải xác định được giao dịch, mà các bạn gọi là mối tương quan pháp lý. Trong LDS của ta, tư cách nằm trong khái niệm “năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân” mà nội dung của nó được ghi trong điều 15 rằng: “Cá nhân có các quyền: quyền nhân thân gắn với tài sản và không gắn với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản và

Luật pháp dạy cho luật sư 53 quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó”. Vậy LDS của chúng ta không dùng “tư cách”, nhưng dùng từ “năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự”, và khi được triển khai thành bài học thì thành “địa vị pháp lý”; nhưng khi dịch sang tiếng Anh trong bản chính thức (Công báo) thì người ta lại dịch là “capacity”, tức là tư cách. Chìa khóa của TDPL là luôn luôn đi tìm và nắm lấy tư cách của những người có liên quan trong vụ việc được trình bày với mình. (Tìm khối đá vuông trên đó sẽ thấy cây dù). Muốn tìm ra tư cách thì phải xác lập mối tương quan pháp lý của các bên trong mỗi giao dịch. Từ mối tương quan, bạn xác định tư cách, rồi từ tư cách mà định ra quyền lợi và nghĩa vụ bị tranh chấp. Ở đây, tôi nêu lên “tư cách” cho hai mục đích: (i) để bạn nhớ và nắm rõ điểm căn bản và (ii) để dẫn bạn vào Mục 2 của Phần này mà ở đó ta sẽ tập trung vào các quyền lợi của một người, dựa trên tư cách của họ. Dưới đây tôi nêu một vụ có thật, đã đăng báo để bạn thấy sự quan trọng của việc xác định tư cách. Nó giúp bạn tìm ra cách giải quyết. NV

54 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ III. Một thí dụ về xác định tư cách: Ai là chủ năm tờ vé số độc đắc A. Nội vụ Sáu giờ ngày 10/9/1996, chị Phượng (con một chủ đại lý vé số cấp II ở Đồng Tháp tên là Phát) đưa một cọc vé số 100 tờ bán không hết của Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Minh Hải (sẽ xổ chiều cùng ngày) và 5.000 đồng cho chị Ý để chị này đến bến xe nhờ người nào đó theo xe đò về Cao Lãnh đem trả cho ông thầu Thi – chủ đại lý vé số cấp I. Sĩ Phúc là lơ xe 66S–0289 đang ngồi uống nước gần đó nên được nhờ làm việc này. Khoảng 12 giờ, xe về đến Cao Lãnh. Vì lo phụ tài xế sửa thắng xe nên Phúc quên mang cọc vé số trả thầu Thi. Đến 14 giờ 30 phút, Phúc tiếp tục theo xe chở khách về Hồng Ngự. Khoảng 16 giờ 30 phút, xe Phúc gặp xe khách 66T–0114 đang trên đường về Cao Lãnh nên Phúc đưa cọc vé cùng 5.000 đồng cho lơ xe Nguyễn Hữu Nghị nhờ giao trả cho thầu Thi. 17 giờ 30 phút, xe 66T–0114 đến Cao Lãnh. Do xe phải hợp đồng đưa đám tang nên Hữu Nghị nhờ Hồ Văn Minh (lơ xe 66T–0765) đem trả cọc vé cho thầu Thi. Minh nhận cọc vé và mượn xe đạp chạy đến thầu Thi. Vì quá giờ xổ số nên thầu Thi không nhận mà lấy băng keo niêm phong và nhờ Minh chuyển trả lại cho chủ (Phát). Đường đi của 100 tờ vé số tóm lược như sau: Phát (đại lý cấp II) ––– Ý ––– Phúc ––– Nghị ––– Minh ––– Thi (đại lý cấp I) ––– trả lại cho Minh vì trễ giờ. Sau khi bỏ cọc vé vào túi quần, Minh đạp xe về bến xe Cao Lãnh. Minh rủ hai người bạn là Nhân và Hoàng đi uống rượu. Uống hết một xị, Nhân về trước. Còn Minh và Hoàng tiếp tục ngồi uống. Được vài ly, Hoàng đi tiểu. Lúc này, có một bé gái đến mời Minh mua vé số. Minh không mua nhưng mượn sổ ghi kết quả và xé niêm phong cọc vé số để dò. Khi phát hiện trúng độc đắc số 87963, Minh cất ngay cọc vé vào túi quần. Khi Hoàng trở lại, hai người uống hết chai rượu rồi về nghỉ. Về tới bến xe, dò lại thấy trúng năm tờ độc đắc, Minh cất riêng, số vé còn lại Minh dán niêm phong như cũ.

Luật pháp dạy cho luật sư 55 Khoảng 21 giờ cùng ngày, Minh đến đại lý vé số của ông Thanh ở thị xã Cao Lãnh đổi vé trúng. Do không có CMND, Minh nhờ anh Thủy, cán bộ điều hành bến xe bảo lãnh cho mình đổi số trúng. Sau một lúc bàn bạc, Minh đồng ý nhận 220 triệu đồng (tương đương 42 lượng vàng 24K) và 1.940.000 đồng. Ông Thanh chở Minh đến tiệm vàng gần đó lấy 20 lượng và một chỉ vàng nhẫn 24K. Số còn lại, ông Thanh làm giấy hẹn 8 giờ sáng 11/9/1996 sẽ chung đủ. Đúng hẹn, ông Thanh tiếp tục giao cho Minh số vàng còn thiếu. Sau khi trừ một ít tiền bồi dưỡng cho ông Thanh, anh Thủy…, tổng số vàng Minh nhận được và đem cất giấu chỗ kẹt bình đựng dầu (dưới gầm xe 66T–0765) là 41,9 lượng vàng 24K. Thầu Phát, sau khi đài Minh Hải mở số, biết trong cọc vé đem trả có năm tờ mang số 87963 trúng độc đắc, ông nhờ chị Phượng đến hỏi thầu Thi. Thầu Thi cho biết có người đến trả cọc vé nhưng vì quá giờ xổ nên không nhận và yêu cầu mang trả lại cho chủ. 24 giờ ngày 10/9/1996, Phượng tìm gặp Minh (đang ngủ trên xe 66T– 0765) và lấy lại cọc vé. Về nhà kiểm tra, Phượng phát hiện mất năm tờ số 87963. Sáng hôm sau, thầu Phát đi báo công an là Minh đã ăn cắp năm tấm vé số. Ngày 15/9/1996, theo lời khai của Minh, cơ quan điều tra khám xe 66T– 0765 để thu hồi tiền trúng số nhưng không tìm thấy. Qua điều tra, Minh khai lại: giao 41,9 lượng vàng cho dì ruột tên Hoa cất giữ. Thế nhưng khi đối chất với chị Hoa, Minh khai giấu dưới gầm xe và đã bị mất. Còn chị Hoa khẳng định không biết gì về việc này. B. Dựa trên tư cách để giải quyết Như sau này bạn sẽ học, khi TDPL ta đặt ra nhiều câu hỏi pháp lý. Các câu hỏi trong vụ này là: Minh có phải là chủ của năm tờ vé số hay không? Năm tờ vé số đã rơi vào tay anh ta như thế nào? Và cách thức mà năm tờ vé đó rơi vào tay anh ta có cho anh ta quyền sở hữu đối với chúng không? Khi hỏi liên tiếp như thế, nhìn theo diễn tiến vụ việc và kết hợp chúng với luật pháp có liên quan; ta thấy ông Phát là chủ 100 tờ vé số, ông giao cho con gái là Phượng để trả lại cho ông Thi, và có đưa 5.000 đồng. Phượng

56 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ giao các thứ đó cho Ý. Ý giao cho người khác… Nhìn theo khía cạnh luật pháp ông Phát nắm số vé, ông ủy quyền cho Phượng lập một hợp đồng dịch vụ bằng lời nói với Ý. Vậy Ý là người thực hiện hợp đồng dịch vụ. Ý chuyển giao công việc thực hiện cho Phúc, rồi Phúc giao cho Nghị. Nội vụ không cho biết là họ có nhận 5.000 đồng tiền công từ Ý hay không. Nếu họ không nhận thì tư cách của họ là được Ý ủy quyền; còn nếu nhận tiền thì là người thực hiện dịch vụ. Ta thấy Phúc là người có một trong hai tư cách ấy và Nghị cũng vậy. Trong cả hai tư cách đó, họ không trở thành người chủ của năm tờ vé số được. Chuyện họ thân thiện với nhau, chia tiền hay không… không làm thay đổi tư cách của họ đối với ông Phát là người giao 100 tờ vé số. Khi Minh nhận số vé kia thì tư cách của anh ta cũng không khác gì với Nghị và Phúc. Vậy ở đây ta xác định tư cách của những người liên quan từ Ý đến Minh để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người đối với ông Phát. Ta xác định được rằng đối với ông Phát, Minh là người thực hiện hợp đồng dịch vụ mà người đại diện của ông Phát là Phượng đã giao kết bằng miệng với Ý, hay anh ta là người được Ý ủy quyền để thực hiện công việc. Là người thực hiện dịch vụ hay được ủy quyền, Minh không thể trở thành chủ nhân của các tờ vé số để mà đi đổi lấy tiền. Ta kết luận được như vậy vì ta dựa trên tư cách của các người liên quan trong nội vụ. Để giúp luật sư dễ vận dụng luật vào thực tế, luật pháp dạy cho luật sư được sắp xếp theo hướng lấy từng người một làm gốc khởi điểm để giúp người học dễ nhận ra tư cách. Luật ấy “móc neo” vào con người. Tôi xin làm sáng tỏ điều này. Bạn đã học về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đó là: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, bảo lãnh, tín chấp. Khi học những biện pháp này ở trường, bạn biết chúng là gì, tại sao, thế nào… Mỗi cái đứng một mình, hay tồn tại độc lập, không dính vào ai. Thí dụ bạn học “Cầm cố tài sản là việc một bên… giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia… để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” (Điều 326 LDS). Nay – là luật sư – bạn phải kết nối nội dung đó với con người hay với một người. Khi kết nối như thế thì mỗi biện pháp sẽ trở thành nghĩa vụ hay quyền lợi của những người có liên quan với nhau. Thí dụ, A không chỉ cầm cố chiếc đồng hồ; mà phải cầm cố nó cho B. Vậy A và B có quyền lợi và nghĩa vụ với nhau: B phải giao tiền cho A; B có quyền giữ đồng hồ cho đến khi A trả tiền. Và nếu B không làm thì hai bên sẽ tranh chấp.

Luật pháp dạy cho luật sư 57 Rồi A đến nhờ luật sư. Ấy là bạn! Luật trong điều 326 LDS ở thế tĩnh. Nó là một định nghĩa. Dạy cho luật sư điều ấy thì phải chuyển nó sang thể động. Vì lẽ này, các nội dung cơ bản trong LDS mà bạn đã học sẽ được sắp xếp lại khi trình bày ở đây, theo ý nghĩa nêu ở trên. Cách sắp xếp này mô phỏng theo cách dạy luật của Pháp, nơi áp dụng dân luật. Thứ tự trình bày sẽ như sau. Trước hết chúng ta sẽ nói chung về các quyền mà một người có theo luật ấn định; sau đó tìm xem điều kiện để sử dụng chúng và cuối cùng khi nào thì sử dụng được. Cách tìm hiểu thì đi theo như vậy, nhưng đề tựa sẽ ghi khác. Mục 2: Một người có những quyền lợi gì? Chắc bạn đồng ý là người ta cãi nhau là vì quyền lợi của họ bị người khác vi phạm. Làm luật sư, bạn sẽ “về phe” với người bị vi phạm hoặc người vi phạm. Vậy bạn phải biết họ có các quyền gì, từ đâu ra… để biết phải đòi (nếu bảo vệ nguyên đơn) hay nhất định không trả (bị đơn) thay cho họ. I. Quyền là gì? Quyền là một cái gì vô hình mà mỗi người có và nó cho phép người ấy được đòi một người khác phải làm hay không làm một việc gì đó cho mình. Quyền xuất phát từ hai nguồn. Một là quyền tự nhiên (hay nhân quyền), sinh ra là có, như quyền thở, ăn uống, ngủ nghỉ. Ai cũng có quyền này để mà sống. Và người ta công nhận cho nhau: anh có, tôi cũng có, chúng ta cùng có. Có để mà tồn tại như một con người sống trong một xóm làng. Hai là, quyền do xã hội ban cho, gọi là dân quyền, và chúng được luật pháp ban bố. Thí dụ người bán hàng có quyền đòi tiền khi bán. Gốc rễ của quyền là như thế. Vậy thì – theo LDS điều 15 – người ta sinh ra, lớn lên và hoạt động thì có các quyền sau: - Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; - Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;

58 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ - Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó. Đấy là cách mô tả của luật pháp, trên thực tế, bạn nhớ cách phân loại: - Nhân thân: gồm có quyền dân sự và quyền gia đình, được quy định trong LDS và Luật Hôn nhân – gia đình; - Tài sản: gồm có quyền đối nhân, quyền đối vật và quyền về sở hữu trí tuệ.1 Các quyền mà một người có do luật pháp ban cho, do người khác nhìn nhận, hay do một hợp đồng quy định được luật của các nước khác gọi là “quyền thủ đắc’’ (acquired rights/droits acquis) – tức là một quyền đã nắm giữ – một khi có quyền đó rồi. Phải nắm giữ trước đã thì nó mới phát sinh. Tôi nêu từ ngữ này để các bạn biết khi tiếp xúc với luật sư nước ngoài và nếu có dùng ở đây. II. Sự phân loại các quyền Các quyền được phân loại như sau: A. Quyền nhân thân Quyền nhân thân là những quyền mỗi người có vì họ là người. Ngoài những quyền tự nhiên, gọi là nhân quyền, thì quyền nhân thân được quy định trong LDS từ điều 24 – 73; chẳng hạn: quyền về tên tuổi, bí mật đời tư, ly hôn, kết hôn, quốc tịch, quyền về an toàn thân thể… Khi vận dụng những quyền này, bạn nhớ phân biệt những quyền đó được quy định ở đâu và được bảo vệ theo luật nào (ngành luật), cái đó sẽ là cơ sở pháp lý để… ta “ăn nói hộ”. B. Quyền tài sản Trong LDS, các quyền về tài sản được phân ra thành các chủ đề: tài sản và quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đấy là cách quy định trong văn bản. 1 Quyền tài sản còn được gọi là quyền sản nghiệp. Về những đề tài này xin xem thêm quyển Triệu Quốc Mạnh Pháp luật và dân luật đại cương (TP.HCM: Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh: 2000).

Luật pháp dạy cho luật sư 59 Trong cách tiếp cận của luật sư, tài sản được quy về một cái gốc là con người hay được buộc vào “cá nhân”1 . Và khi nằm trong tay cá nhân thì tài sản biến thành quyền lợi của họ và nó được định nghĩa là “quyền lợi của một người là những thứ họ có thể buộc người khác làm”. Sở dĩ vậy là vì quyền tài sản là quyền lợi giúp người ta sinh tồn. Sống trong xã hội, người ta phải giao dịch với những người khác; họ cần có những lợi ích vật chất để sống, để giữ gìn, nhằm giao dịch được. Quyền tài sản giúp họ thỏa mãn nhu cầu giao dịch này.2 Quyền thì phải được sử dụng đối với ai; tức là quyền phải có đối tượng. Dựa trên cơ sở này, quyền tài sản được chia thành ba loại: (i) quyền đối nhân, là quyền mà một người có thể buộc người khác làm gì đó cho mình; (ii) quyền đối vật, là quyền mà người ấy có thể làm đối với tài sản của mình; hoặc quyền được hành xử trực tiếp trên tài sản; và (iii) quyền trí tuệ, là quyền được làm đối với những gì do trí tuệ của họ tạo ra. 1. Quyền đối nhân Quyền đối nhân là quyền của một người khiến cho họ có thể buộc một người khác phải làm hay không được làm một cái gì đó cho mình. Thí dụ, bạn thuê nhà thì chủ nhà có bổn phận sửa chữa căn nhà bạn thuê khi nó bị hư hỏng; bạn cho một người vay tiền thì người ấy phải trả lại số tiền đó cho bạn; bạn mướn nhà thì không được sửa đổi cấu trúc căn nhà vốn là một quyền của chủ nhà. Quyền đối nhân cũng còn được gọi là trái quyền. Quyền đối nhân có ba yếu tố là: - Người được làm, còn gọi là chủ nợ, hay chủ thể tích cực của quyền đối nhân; - Người phải làm, tức là con nợ, chủ thể tiêu cực của quyền đối nhân; - Việc phải làm, tức là món nợ, là đối tượng của quyền đối nhân. Sự phân chia này có tính lý thuyết, trên thực tế bạn chỉ cần biết và phân biệt chúng ra để không bị nhầm. 1 Tôi viết “cá nhân” hay “xã hội” trong ngoặc kép để nhấn mạnh đến nền tảng của các cách tiếp cận đã đề cập; đồng thời muốn nói lên rằng khi ta nói “quyền có nhà ở của người dân (tức là xã hội)” thì quyền này mông lung lắm, không biết của ai, làm sao mà bào chữa được; còn nếu nói “quyền có nhà ở của ông A” thì câu đó rất rõ ràng, ông A chứ không phải bà A. Câu trước dùng trong lĩnh vực chính trị, câu sau trong luật pháp. 2 Vũ Văn Mẫu, Pháp luật nhập môn, giảng tại Đại học Luật Saigon năm 1973, t.175 – 196; Triệu Quốc Mạnh, sđd, t.226 – 289.

60 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 2. Quyền đối vật1 a. Định nghĩa Quyền đối vật là quyền mà một người được sử dụng đối với một vật gì đó. Vật là tài sản. Quyền này cho bạn được hành xử trực tiếp trên một tài sản nhất định. Thí dụ bạn đã mua một cái ghế bố; bạn được ngồi trên cái ghế mà bạn đã mua, không ai có thể đuổi bạn đi được. Nói cách khác, tôi có một quyền đối vật với cái ghế bố của tôi; bạn ngồi vào, tôi có quyền đuổi bạn đi. Nó có hai yếu tố là (i) con người, chủ thể của quyền, và (ii) vật, tức là đối tượng bị con người tác động. b. Phân loại Quyền đối vật được chia thành quyền chính yếu và quyền phụ thuộc. i. Quyền đối vật chính yếu gồm có: - Quyền sở hữu, trong đó có ba yếu tố, gọi là ba quyền, có thể tách rời nhau là quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt. Nội dung của quyền này được LDS quy định từ điều 163 – 173. - Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, quy định trong điều 273 – 279 LDS, ngày xưa ở miền Nam gọi là quyền địa dịch (servitude trong tiếng Pháp). Quyền này là quyền mà một người (tên A) có trên một miếng đất của người khác (tên B) vì đất của A liền với đất của B và vì nhu cầu và trật tự của cuộc sống B phải nhượng bộ A, hay phải để cho A được làm gì đối với miếng đất của mình. Nó cho A được hưởng một quyền trên đất của B. Thí dụ, A và B có hai miếng đất nằm kề nhau, A ở phía trong, B ở phía ngoài. B bị buộc phải cho A đi 1 LDS của ta (cho đến 2013) không có quy định về quyền đối vật dẫu trên thực tế nó vẫn tồn tại. Thí dụ A thế chấp căn nhà của mình cho B thìC không vào đó được nếu không có sự chấp thuận của B. Lý do luật của ta không có quyền đối vật có thể là vì nguyên thủy chúng ta không có khái niệm về tài sản (động sản, bất động sản) mà chỉ có tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Cái trước thuộc về nhà nước hay tập thể. Cái sau thì ai cầm nó trong tay thì người ấy là chủ nên khái niệm về vật quyền không cần thiết. Khi thảo luận về việc sửa đổi LDS 2005, các luật gia đã đặt ra vấn đề này và đề nghị đưa khái niệm đó vào dân luật, và đã xuất hiện từ ngữ “thế chấp vật quyền”. Như đã đề cập, dù nó không có trong luật pháp nhưng tồn tại trong thực tế.

Luật pháp dạy cho luật sư 61 qua miếng đất của mình để vào nhà của A. Nói cách khác nó là một quyền của một người đối với một miếng đất của người khác; nó liên quan đến các miếng đất bên cạnh và không thể tách rời khỏi miếng đất đó. Bản thảo LDS mới gọi là quyền địa dịch. - Quyền sử dụng đất là một quyền lợi liên quan đến việc sử dụng đất do Luật đất đai ấn định. Khi sử dụng quyền này, người sử dụng đất có năm quyền chính là: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế. ii. Quyền đối vật phụ thuộc gồm có: - Quyền cầm cố dành cho động sản; - Quyền thế chấp dành cho bất động sản. Các quyền này được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thường là trả nợ. Người nhận cầm cố hay thế chấp không có quyền sở hữu đối với các tài sản của người cầm cố hay thế chấp. Nhưng nếu người đã thế chấp không thực hiện nghĩa vụ thì người nhận thế chấp được quyền đem bán đấu giá tài sản để trừ nợ. Khi nói đến quyền sở hữu, bạn cần nhớ là quyền đó có thể đem ra đối kháng với mọi người, tức là buộc mọi người phải tôn trọng, ai vào nhà bạn là bạn có thể đuổi ra chẳng hạn. Ngoài ra, người chủ được theo dõi đồ vật và được ưu tiên bồi hoàn khi đồ vật bị bán đi. Tuy nhiên nó bị hạn chế khi bị trưng dụng, trưng mua, quốc hữu hóa, tịch thu và bị giới hạn bởi bất động sản liền kề.

62 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ III. Sự khác biệt giữa quyền đối vật và đối nhân Vấn đề Quyền đối nhân Quyền đối vật Phạm vi Chỉ có thể đòi được từ một người nhất định, ai có nợ thì chỉ người ấy trả. Có thể đòi mọi người phải tôn trọng quyền của mình. (Ở bên Mỹ, bạn vào nhà một người khác thì có thể bị chủ nhà bắn) Hiệu lực Người nắm quyền chỉ có thể đòi người thiếu nợ mà thôi, (không được làm bất cứ điều gì đối với đồ vật hay tài sản cùa người đó do người khác cầm giữ – NNB thêm) Người nắm quyền (chủ thể) có quyền đòi bất cứ ai đang nắm cũng phải trả lại; vẫn có quyền thu lợi từ bất động sản dù cho ai có quyền định đoạt nó. Không có quyền ưu tiên như người nắm quyền đối vật. Có quyền ưu tiên, khi có tranh chấp đòi nợ thì được quyền thu nợ trước những chủ nợ khác. Đối tượng Không phải thi hành trên một vật nhất định có cá tính (vật đặc định) mà chỉ bắt người thiếu nợ phải trả món nợ mà thôi. Thi hành trực tiếp trên một đồ vật nhất định có cá tính (cầm xe Honda thì xe phải có số, và chỉ được bán xe đó). Sự phân chia như thế này có tác dụng thực tế là khi khách đến nhờ bạn đòi nợ ai, thì bạn chú trọng ngay vào con nợ, ông A, chứ không ai khác. Nếu cậu em trai nói với bạn “đòi nợ nó không được thì đòi mẹ nó”, vì bạn biết đòi nợ là một quyền đối nhân nên sẽ bảo rằng không được, không cần phải nghĩ ngợi lâu la. Bạn không bị lầm lẫn về đối tượng. Một người khác đến nói với bạn rằng tôi cho A thuê nhà, ông ta cho B thuê lại không báo cho tôi biết. Vậy tôi có thể đuổi ông B kia được không? Bạn sẽ nghĩ ra ngay rằng, cái nhà là quyền đối vật; vậy bạn sẽ bảo đuổi được; chẳng những ông B mà bất cứ ai cũng có thể bị đuổi. Bạn thấy cách thức người ta sắp xếp luật khi dạy sẽ giúp bạn thực thi luật dễ hay khó, nhanh hay chậm. IV. Quyền sở hữu trí tuệ Quyền đối nhân và đối vật đã có từ xưa, thời La Mã gọi là just ad rem (đối nhân), just in re (đối vật). Quyền sở hữu trí tuệ chỉ phát sinh vào cuối thế kỷ 18 khi khoa học kỹ thuật tiến bộ. Nó gồm có những quyền là:

Luật pháp dạy cho luật sư 63 - Quyền tác giả; - Quyền sở hữu công nghiệp: là quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa. - Quyền chuyển giao công nghệ. Để riêng ra thì người ta phân biệt như thế, nhưng chung tất cả lại thì gọi là quyền sở hữu trí tuệ. Có luật riêng cho lĩnh vực này. Ở Việt Nam, lúc đầu chúng là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 19

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!