Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo

phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo

phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp…” Câu hỏi ở đây là Nghị định 139/2007 có xóa bỏ hạn chế của Quyết định 36/2003 hay không? Hay, nhà đầu tư có được mua trên 30% ở các công ty nằm ngoài 36 ngành nghề kia không? Để trả lời, luật sư sẽ phải giải thích theo hai cách. Một, theo nghĩa hẹp là không được vì Quyết định 36/2003 quy định rõ 36 ngành nghề (36 ngành nghề này không được ghi trong Quyết định này mà trong Quyết định của Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư). Hai, giải thích rộng, thì Nghị định 139/2007 có giá trị cao hơn Quyết định 36/2003 và lại ra sau nên nó hủy bỏ Quyết định 36/2003. Đó gọi là giải thích luật pháp. Và dù việc giải thích ấy chưa được lập thành một định chế ở ta thì trong thực tế làm việc luật sư vẫn bị buộc phải giải thích luật pháp. Tôi xin đưa một thí dụ khác lấy của người khác để bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này. • Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 (BLTTDS) quy định đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Như vậy, các điều luật sau đó trong BLTTDS nếu có đề cập đến “đương sự” thì đương nhiên khi phân tích ra chắc chắn sẽ bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Và đây đơn thuần chỉ là hoạt động phân tích pháp luật.

98 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Nhưng cũng với khái niệm đương sự nêu trên mà phải giải thích pháp luật để xác định có khái niệm “đương sự trong việc dân sự” hay không theo quy định của BLTTDS? Điều 312 BLTTDS chỉ đề cập người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự và người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu; trong khi đó các quy định của BLTTDS (bao gồm cả các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự) cũng được áp dụng cho thủ tục giải quyết việc dân sự. Do đó, vấn đề đặt ra là người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu của họ là ai? Họ có phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự hay không để quyết định việc áp dụng các hành vi tố tụng của họ trong quá trình tòa án giải quyết việc dân sự; thí dụ người liên quan đến giải quyết đơn yêu cầu có quyền kháng cáo hay không?1 Dù việc này chưa phổ biến tại Việt Nam, nhưng các bạn cần biết để áp dụng vì sẽ phải đương đầu với nó trong thực tế, khi ấy bạn biết mình phải làm gì. Khi phải giải thích luật, bạn áp dụng một trong các nguyên tắc và phương châm nêu dưới đây mà các tòa án và luật gia2 ở các nước theo hệ thống dân luật áp dụng3 . II. Các phương pháp có tính lý thuyết Có ba phương pháp: 1. Phương pháp chú giải Theo cách này, khi gặp một điều luật tối nghĩa, người ta nghiên cứu các điều luật có liên quan đến văn bản luật lúc còn đang ở giai đoạn dự thảo, các tờ trình lý do và sự cần thiết phải ban hành văn bản đó, các biên bản 1 Hà Đăng Quảng và Đặng Thanh Hoa, “Giải thích pháp luật trong đào tạo luật tại Việt Nam – Thực tiễn và những vướng mắc” đăng trong sách nêu trên, t.398. 2 Luật gia ở các nước khác là những người viết nhiều bài nghiên cứu về luật, không như ở mình có Hội Luật gia nên ai cũng là luật gia cả. 3 Mục này trích từ Triệu Quốc Mạnh, sđd, t.198 – 204, và Phạm Quốc Toản, sđd, t.66. Xin bạn lưu ý, trừ nguyên tắc diễn dịch và quy nạp là phổ biến, các nguyên tắc và phương châm còn lại chưa thấy được ghi trong sách khác ở ta. Như vậy là chúng không phổ biến ở ta một cách chính thức. Nếu có chỉ là tập tục của một số nhỏ nào đó. Tuy nhiên những nguyên tắc và phương châm trên phổ biến trên thế giới, và chúng tồn tại đã từ lâu, ta cần biết để giao dịch với luật sư nước ngoài, hay ít ra lúc họ nói ta hiểu.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 99 của quốc hội về các cuộc thảo luận dự luật đó tại đây cốt yếu là để xác định rõ ý chí của nhà làm luật lúc bấy giờ. Người ta cũng có thể phải nghiên cứu hoàn cảnh chính trị và xã hội lúc bấy giờ khi dự án luật được lập để suy đoán thêm ý chí của nhà làm luật khi đó. Về phương pháp này thì ở ta, các biên bản của các phiên họp Quốc hội không được phổ biến; thỉnh thoảng bạn có thể tìm được các tờ trình Chính phủ đi kèm với bản thảo dự luật được đưa ra hỏi ý kiến cho nên làm được việc chú giải cũng không dễ. Tuy nhiên ta có thể tìm thấy – trong một mức độ nào đó – ý chí của nhà làm luật qua các bản nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được công bố trên báo chí. 2. Phương pháp sưu tầm tự do và khoa học Tòa án và luật gia áp dụng phương pháp này để giải thích luật một cách tự do chứ không phải tìm ý chí nguyên thủy của nhà lập pháp, chẳng hạn họ căn cứ vào luật đối chiếu xem tại các nước có cùng chung một nền văn minh (các nước Bắc Âu, Đông Âu…), đã giải quyết vấn đề tranh tụng cùng loại ra sao, và căn cứ vào tình trạng xã hội, vào chiều hướng tiến hóa để giải thích luật một cách khách quan và công bằng. 3. Phương pháp sưu tầm ý chí của nhà lập pháp hiện tại Khi gặp một điều luật tối nghĩa người ta căn cứ vào các luật mới, vào các lý thuyết xã hội và tập tục mới đã đánh dấu khuynh hướng phát triển hiện thời, để từ đó suy ra thái độ, ý chí của nhà làm luật hiện tại. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp tiến hóa. Nó giúp nhận thức rõ đường lối chung của chính sách rồi căn cứ vào nhu cầu xã hội hiện tại để giải thích luật pháp. Để áp dụng phương pháp này ở ta, bạn cần nắm vững nội dung của các nghị quyết do Đảng ban hành, báo cáo của Quốc hội về các dự thảo luật, các nghị quyết của Quốc hội.

100 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Mục 5: Cách dẫn chứng Cách dẫn chứng là việc đưa ra chứng cứ nào để chứng minh cho quyền lợi của thân chủ mình đang bị tranh chấp. Cả hai bên tranh chấp đều có quyền nêu. Bạn đã học về chứng cứ theo cách phân loại dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ và vào hình thức tạo lập cùng mối liên hệ giữa chứng cứ với những sự kiện cần chứng minh. Đấy là lý thuyết, còn khi làm luật sư bạn cần phải biết là chứng cứ nào có giá trị hơn chứng cứ nào, tức là cái nào được tòa tin nhiều hay tin ít, gọi là tín lực của chứng cứ. Bộ LTTHS năm 2003 và LTTDS 2004 đều không quy định mức độ tin cậy của các loại chứng cứ. Điều 96 LTTDS nói rằng: “Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Và tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của các chứng cứ”. Xin lưu ý bạn, khi TDPL ta nghĩ đến sự kiện trước, nhìn các sự kiện trong sự liên kết với nhau để tìm ra SKMC. Khi đã có CHMC và CHPT rồi, trả lời được cho CHKL rồi, ta mới xem đến chứng cứ và chọn lựa chúng để minh chứng các sự kiện đã nêu. Luật của ta cho tòa ấn định giá trị của các chứng cứ. Và do vậy đặt chứng cứ vào sự chủ quan của thẩm phán. Ở các nước khác, Pháp chẳng hạn, họ xếp thứ tự về độ tin tưởng của chứng cứ. Chứng cứ có tính khách quan. Ta xem qua cho biết vì dẫu sao đây là kinh nghiệm của loài người và nhân thể bạn có thể nhận xét về các chứng cứ do thân chủ đưa ra, theo một nhận định phổ quát1 . Ở Pháp, chứng cứ được nêu ra trước và trong phiên tòa sơ thẩm. I. Bằng chứng lập trước khi mở phiên tòa Đó là các thứ sau: a. Công chứng thư Công chứng thư do viên chức nhà nước lập nên và được soạn thảo theo điều kiện luật định. 1 Phạm Quốc Toản, sđd, t.102 – 103.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 101 Các viên chức nhà nước gồm: công chứng viên (chưởng khế), chấp hành viên (thừa phát lại), thư ký tòa án hoặc viên chức hộ tịch. Công chứng thư có tín lực cho đến khi bị chứng minh giả mạo. Ở ta, văn bản có chữ ký của công chứng chưa được tôn trọng nhiều, vì theo lý thuyết, việc đánh giá bằng chứng là quyền của tòa; không bị luật hạn chế. Do vậy, có công chứng (vốn là một nhân chứng theo quyền năng của họ) lại đòi phải có nhân chứng khi lập di chúc! b. Chứng thư thị thực Chứng thư khi ký tên thì ký trước mặt nhà chức trách địa phương để xác nhận chữ ký và năng lực ký kết. Chứng thư thị thực cũng có tín lực như công chứng thư. c. Tư chứng thư Gồm: - Các giấy tờ do các đương sự tự làm và ký tên không có chứng thực của chính quyền. Ví dụ: giấy tay vay nợ. - Hình thức nào cũng được nhưng phải có chữ ký, thiếu chữ ký sẽ không giá trị. - Tư chứng thư do người thứ ba thảo giùm thì phải viết họ tên và có chữ ký của người viết giùm này. - Chúc thư hay cam kết trả tiền phải do chính tay đương sự viết, ký và ghi rõ số tiền bằng nguyên chữ. d. Tín lực của tư chứng thư: Tín lực tức là mức độ tin tưởng hay giá trị cao hay thấp của các văn bản khi so sánh chúng với nhau. Ở tòa, luật sư bên nguyên đơn, bạn đưa ra văn bản A, luật sư bên bị đơn cũng đưa ra một văn bản B. Vậy đối với tòa bản A đáng tin hơn B hay ngược lại? Câu trả lời là: i. Tín lực đối với các bên đương sự: Khi đối phương công nhận, tư chứng thư có tín lực như công chứng thư. ii. Không có tín lực đối với những người thứ ba (đệ tam nhân) để tránh lừa đảo. Hai bên ký một văn bản với nhau để chứng minh họ đã thỏa thuận với nhau về điều gì đó. Văn bản của họ không có giá trị đối

102 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ với người thứ ba. Vì hai bên có thể thỏa thuận làm giấy tay không đúng sự thật. Tương tự, những bản sao chụp, đánh máy lót giấy than không có giá trị vì có thể bị làm giả (trừ trường hợp kinh doanh, mà luật có quy định rõ ràng). II. Bằng chứng tại phiên tòa 1. Nhân chứng Người đứng ra làm nhân chứng thuật lại những gì đã trực tiếp nghe hay nhìn thấy về một sự kiện hay một hành vi pháp lý. Người làm chứng phải có đủ năng lực và ở phương Tây phải tuyên thệ trước khi khai. Tín lực lời khai nhân chứng tương đối. Không thể lấy lời khai nhân chứng thay thế chống lại bằng chứng bằng văn tự được (nguyên tắc dân luật). 2. Sự thú nhận Sự xác nhận lời khai của đối phương là đúng: - Sự thú nhận trước tòa (ở tòa mà một người nhìn nhận): có tín lực tuyệt đối; tức là không phải bàn cãi về nội dung được thú nhận (có thật). - Sự thú nhận ngoài tòa: có tín lực tương đối như gửi thư; tức là nội dung thú nhận có thể bị tranh cãi (có chắc là thật không.) 3. Sự suy đoán Lý luận trên cơ sở của một sự việc đã biết để kết luận về sự kiện chưa biết. Ví dụ: chủ một con voi phải bồi thường thiệt hại về đám mía bị voi ăn, giẫm nát. Dù không ai thấy nhưng căn cứ vào dấu chân voi và sự kiện trong vùng chỉ bị đơn có voi mà thôi. 4. Vật chứng Xem xét thực tế hiện trường, xem xét các tang vật xuất trình, phải xem tận mắt các vết thương v.v… để thẩm định chính xác. 5. Thề độc – Sự phát thệ quyết định Ở phương Tây, khi vụ án quá phức tạp không còn dẫn chứng được nữa,

Việc áp sự kiện vào luật pháp 103 người ta dùng biện pháp tâm lý là bắt buộc phải thề độc (đôi khi được tổ chức trong một nơi thờ phụng tôn nghiêm) coi đó như một bằng chứng quyết định. Nhiều tội nhân cứng đầu đã sợ không dám thề và nhận tội. Theo Bộ luật tố tụng dân sự của ta, điều 82 LDS nguồn chứng cứ gồm các loại sau: - Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; - Các vật chứng; - Lời khai của đương sự; - Lời khai của người làm chứng; - Kết luận giám định; - Biên bản kết quả thẩm định tại chỗ; - Tập quán; - Kết quả định giá tài sản; thẩm định giá tài sản; - Các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Bạn biết những cái trên nhưng làm những cái dưới. Mục 6: Khả năng lập luận Phân tích là mổ xẻ vấn đề, tức là bổ và cắt quả dưa ra; lập luận là trình bày vấn đề, sắp xếp những miếng dưa lại cho một mục đích nào đó. Ta định nghĩa như thế cho dễ hiểu. Lập luận là nói, là trình bày theo một trật tự hợp lý cho người khác nghe và đồng ý. Muốn cho họ nghe thì lập luận phải mạch lạc, không trái ngược nhau, và rõ ràng dứt khoát giúp họ dễ hiểu. Hơn nữa bạn lại phải dùng từ ngữ mà mọi người quen thuộc để không bị bắt lỗi. Điều bạn hiểu theo cách của bạn thì người khác có thể không hiểu. Bạn phải trình bày theo cách hiểu của họ, và đặt mình vào vị trí của họ để thuyết phục. Muốn vậy bạn phải (i) lập luận theo các quy tắc căn bản và (ii) phù hợp với quy luật của tư duy, hay là nói theo lô–gích (logic).

104 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯI. Các quy tắc căn bản khi lập luận Lập luận là biết cách làm sao để giữ cho sự vật đồng nhất và tồn tại khi trình bày. Bạn phải làm theo bốn quy tắc sau (có người gọi là bốn định lệ căn bản):1 - đồng nhất; - theo một hướng nhất định; - phải có liên lạc; và - cơ sở phải vững. A. Đồng nhất Là trước nói sao, sau phải giữ vậy. “A là A”. Bạn đã bảo màu hồng đẹp, màu tím xấu hôm qua, thì hôm nay bạn vẫn phải nhìn nhận như thế. Bạn có thể thay đổi sự nhìn nhận đó theo tình cảm, nhưng về lý trí thì phải giữ; nếu không, người ta không hiểu được bạn. B. Theo một hướng nhất định Ví dụ bạn bảo “loài mèo bắt chuột” thì là bạn đã khởi đầu bằng “loài mèo”; bạn biết mèo là gia súc nhưng không thể nói rằng “các gia súc đều bắt chuột” vì gia súc còn có ngựa, bò, dê, trâu. Để đi theo một đường nhất định trong suy nghĩ, bạn phải sử dụng chủ động cách và thụ động cách (active – passive voice). Thí dụ, bạn kể: “Cô A vay tiền của cô B, cô ấy chưa trả tiền cho cô B đồng nào, vậy là cô A còn mắc nợ”. Bạn không thể nói: “Cô A vay tiền của cô B, cô B chưa được trả đồng nào, vậy cô A còn nợ cô B”, vì như vậy đang từ cô A bạn nhảy sang cô B, bạn đã không theo một hướng nhất định. Nếu chuyển sang cô B, bạn phải nói như thế này: “Cô B cho cô A vay tiền, cô ấy chưa nhận được đồng nào từ cô A, vậy cô B vẫn là chủ nợ của cô A”. Ở ngoài đời bạn không nói như thế, nhưng khi nghĩ thì phải làm như vậy. Bạn biết luật quy định quyền lợi và nghĩa vụ của người cho vay và người đi vay. Nếu bạn không đi theo một hướng nhất định thì bạn sẽ bị lẫn lộn giữa quyền lợi và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong suy nghĩ của mình. 1 Nguyễn Hiến Lê “Luyện lý trí”, Nhà xuất bản Đà Nẵng 1993.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 105 C. Phải liền lạc trong lý luận Liền lạc trong lý luận là ý tưởng trước phải ăn khớp hay móc vào ý tưởng sau và chúng kết lại với nhau như thế để thành một lập luận hầu chủ trương, cổ vũ hay nhắm vào một mục đích nào đó. Để các ý tưởng móc nối vào với nhau, bạn phải trình bày đề tài theo một trật tự hợp lý. Thí dụ, bạn nghĩ trong đầu về việc lập ra một hội đoàn; khi suy luận phải đi theo thứ tự sau: một sự kiện nào đó khiến ta phải suy nghĩ (thí dụ nhiều em bé bỏ học) – bạn xem mình có thể làm gì cho các em (cho tiền để em đi học, đến nói chuyện với bố mẹ…) – các điều kiện vật chất mình phải có để làm việc đã chọn – cách làm thế nào (ở đây mới là lập một hội đoàn). Khi trình bày, bạn có thể đảo ngược thứ tự kia để nhấn mạnh điểm nào đó tùy theo hoàn cảnh trình bày, nhưng khi nghĩ phải đi từ cái gốc để có sự liền lạc. Để bạn nắm rõ hơn, tôi xin trích lại bài dưới đây trong một quyển sách để các bạn biết thế nào là không liền lạc trong lý luận1 . Bài như sau: 1. “Đến vấn đề di truyền. Không ai có thể cãi được rằng thuyết di truyền vô cùng quan trọng. Hiện nay, các nhà tiểu thuyết vẫn còn đem ra áp dụng thuyết đó, nhưng áp dụng một cách kín đáo, chứ không kềnh càng như thời Emile Zola nữa. Đem thuyết di truyền ra mà làm kềnh càng quá độ, người ta nhận xét thấy một điều này: các nhà viết tiểu thuyết coi ảnh hưởng sự di truyền đối với nhân vật trong truyện quá to, họ nói đến quá nhiều, gớm ghiếc quá, đến nỗi người xem phải tự nghĩ không biết mình có biết rõ ràng ảnh hưởng di truyền về vợ mình, con mình, bè bạn mình như thế không, và quả thực người ta có cần biết ảnh hưởng sự di truyền đến thế không?” 2. “Phàm gọi là văn, muốn kể là một tác phẩm nghệ thuật thì điều cần trước nhất là luật bình quân. Những nhà tiểu thuyết bây giờ, phần nhiều đã chú ý về luật bình quân đó trong việc xếp đặt yếu tố xây dựng truyện. Thật là một điều tốt đẹp”. 3. “Đứng trước sự tốt đẹp, chúng ta không thể đứng vững, không học đòi bắt chước, bởi vậy mười năm trở lại đây, làng văn tiểu thuyết Việt Nam cũng đã bắt đầu nhóm lên cái phong trào viết truyện “gần đời, thiết 1 Nguyễn Hiến Lê, sđd, t.22.

106 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ thực” mà người thứ nhất đem tải vào đây đã tạm gọi nó là “thứ truyện không có truyện”. Đương quen với những truyện “Tây Du”, “Phong Kiếm”, rồi đến những truyện “phóng ôtô bắt cướp” …” Và tác giả nhận xét: “Tôi tìm hoài không thấy một liên lạc gì giữa đoạn 1 với đoạn 2, và giữa đoạn 2 với đoạn 3. Tác giả có dùng tiếng tốt đẹp để móc đoạn 3 vào đoạn 2; nhưng đoạn 2 nói về luật bình quân mà đoạn 3 nói về thứ truyện không có truyện, như vậy đã móc cái tuột rồi.” D. Cơ sở lý luận phải vững Ba quy tắc đầu là hình thức, tức là cách trình bày như thế nào, nhưng trình bày thì phải có nội dung, tức là trình bày cái gì. Khi nói như thế là đề cập đến cơ sở của lý luận. Lý luận bề ngoài chặt chẽ nhưng có thể sai nếu cơ sở nền tảng không vững. Chẳng hạn, người ta hỏi một người điên: “Chú bao nhiêu tuổi”. “54 tuổi”, chú trả lời. “Chú còn mẹ không? Bà bao nhiêu tuổi?”. “Còn – 32 tuổi”. “Vậy ra mẹ chú nhỏ tuổi hơn chú sao?”. “Chắc chắn vậy, vì bà chỉ có 32 tuổi, mà tôi tới 54 tuổi kia mà!”. Người điên đã lý luận một cách liên tục đấy chứ, nhưng sai vì đã dựa vào một nền tảng sai: anh ta quên tuổi mình, hay tuổi của mẹ mình, hay quên cả hai.1 Bạn có thể xem một cách trình bày khác về đề tài này cho… rộng đường tham khảo.2 II. Các quy luật của tư duy Các quy luật của tư duy giúp bạn lập luận một cách hợp lý. Bạn đã học về Logic học (môn luận lý – Logique). Khi hành nghề, bạn phải luyện cho mình sử dụng phép này nhuần nhuyễn bởi vì TDPL đòi bạn phải lập luận dựa trên các sự kiện, chứ không phải theo một điều luật trên giấy. Sự kiện là thực tế đã xảy ra, nếu muốn cho người ta nghe thì bạn phải thuyết phục 1 Nguyễn Hiến Lê, sđd, t.24. 2 Những gì được trình bày ở đây được trích từ Lê Tử Thành “Tìm hiểu lôgic học” (TPHCM: NXB Trẻ, 1993), t.28 – 38; Nguyễn Văn Trân “Lôgic vui” (Hà Nội: NXB Sự thật, 1992) t.140 – 160.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 107 được họ về mặt lý trí. Về mặt học thuật, người ta nói các lập luận của bạn là những phán đoán và người ta căn cứ vào những phán đoán đã có để rút ra những phán đoán mới. Phán đoán cũ được gọi là tiền đề, phán đoán mới gọi là kết luận. Suy luận là quá trình tư duy để đi từ tiền đề đến kết luận. Điều kiện cần và đủ để suy luận đạt tới kết luận chân thực là phải xuất phát từ những tiền đề chân thực; và quá trình suy luận phải tuân theo các quy luật và quy tắc logic hình thức1 đã có từ xưa. Logic là những quy luật (nhận thức và suy luận) của tư duy. Đó là những điều cơ bản vì khởi đầu bất cứ một nhận thức hoặc suy luận nào, tư duy con người cũng bắt buộc phải dùng đến những quy luật này. Do đó chúng còn được gọi là “Những quy luật đầu tiên”. Quy luật là sự phản ánh mối liên hệ được lặp đi lặp lại một cách ổn định giữa các vật, sự vật và hiện tượng. Mối liên hệ này có tính chất phổ biến, khách quan, tất yếu. Ví dụ: Anh B nói: “Sáng nay lớp chúng ta sẽ học ở đây”, rồi lại nói “Sáng nay lớp chúng ta không học ở đây”. Nói như thế là mâu thuẫn. Để tránh không bị mâu thuẫn, phải nói: “Sáng nay lớp chúng ta sẽ học ở đây” hoặc “Sáng nay lớp chúng ta không học ở đây”. Thế thôi, chứ không thể cùng một lúc vừa có lại vừa không. Hay nếu anh B nói: “Sáng nay lớp chúng ta có học ở đây” là đúng, thì “Sáng nay lớp chúng ta không học ở đây” là sai. Ngược lại, nếu “Sáng nay lớp chúng ta có học ở đây” là sai, thì “Sáng nay lớp chúng ta không học ở đây” là đúng. Chỉ có một trong hai trường hợp ấy thôi. Không có trường hợp thứ ba. Các quy luật của tư duy được chia ra làm hai loại: - Các quy luật liên quan đến sự đồng nhất của sự vật; - Các quy luật liên quan đến sự tồn tại của sự vật. 1 Lê Doãn Tá, Tô Duy Hợp và Vũ Trọng Dung “Giáo trình Lôgic Học” (Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, 2004) t.115.

108 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ A. Các quy luật liên quan đến sự đồng nhất của sự vật Gồm có: 1. Luật đồng nhất 1 Khi ta quan sát sự vật, hiện tượng thì thường thấy mấy tình hình là: sự vật liên hệ ràng buộc thành một thể hợp nhất; nó phát triển biến hóa luôn luôn và đều có mâu thuẫn. Luật đồng nhất yêu cầu khi suy nghĩ về một đối tượng nào thì tư tưởng phải luôn luôn xác định trong phạm vi tư tưởng của đối tượng ấy. Không được lẫn lộn, thay đổi, đánh tráo đối tượng này sang đối tượng khác. Thường trong nói chuyện, bạn dễ thay đổi đối tượng mà không biết. Thí dụ tôi hỏi: “Tối hôm qua anh có đến nhà cô ấy không?”. Và bạn trả lời: “Cô ấy bảo tôi đừng đến mà”. Bạn phạm vào luật đồng nhất. Bạn phải nói: “Tôi không đến, cô ấy bảo tôi đừng đến”. Trả lời như thế là đúng. Tôi cần biết về bạn chứ không phải về cô ấy. Câu sau là bạn giải thích. Trong thảo luận, biện luận, tranh luận… mỗi khái niệm luôn luôn phải được dùng theo một nghĩa nhất định (tức là đồng nhất); nếu không là phạm sai lầm logic, gọi là “đánh tráo khái niệm”. Các nhà ngụy biện cổ Hy Lạp (sophistes) là những người hay đánh tráo khái niệm, tức là dùng một khái niệm trước và sau không cùng một nghĩa. Ví dụ: - Cái mà anh mất, tức là cái anh không có. Anh không mất sừng. Cho nên anh có sừng. Câu kết luận thật là kỳ dị. Rõ ràng họ đã cố ý nhập nhằng, mơ hồ khi dùng chữ “mất”. Ở câu thứ nhất, “mất” có nghĩa là một cái đã có không còn nữa. Ở câu thứ hai, chữ “không mất” có nghĩa là những cái mà từ trước đến nay chưa hề có. Vậy cái mà ta có, nếu mất thì mới có lý; chứ không có thì sao mà bảo là mất được. Từ quy luật đồng nhất, có hai quy luật khác nảy sinh: 1 Principe d’identité.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 109 2. Luật mâu thuẫn1 Đúng ra phải gọi là luật không được mâu thuẫn2 . Đấy là hình thức phủ định của luật đồng nhất và được phát biểu: “Một vật vừa không thể là, vừa không phải là A”. Aristote đã diễn tả luật mâu thuẫn như sau: “Một vật không thể đồng thời vừa là nó vừa là cái trái với nó. Cùng một thuộc tính không thể vừa có vừa không có trong một chủ thể, đồng thời trong cùng một tương quan”. Như trên đã thấy, luật đồng nhất phản ánh thuộc tính tương đối xác định và ổn định của đối tượng. Cho nên trong cùng một thời gian, cùng một điều kiện và trong một mối quan hệ nhất định nào đó, sự vật không thể vừa có thuộc tính đó, lại vừa không có thuộc tính đó. Bởi vậy phạm luật mâu thuẫn rất dễ nhận ra. Ví dụ: Bà dỗ cháu ngủ. Bà hỏi: “Ngủ chưa?” Cháu đáp: “Ngủ rồi”. Ngủ rồi mà còn đáp được, rõ thật là mâu thuẫn. Phải tôn trọng luật mâu thuẫn thì mới có thể tránh được sự mâu thuẫn trong tư tưởng của ta. Cho nên Lênin đã nói “Bất luận là phân tích về kinh tế hay về chính trị cũng đều không được có mâu thuẫn logic”. Lênin đã chỉ rõ: Không nên lẫn lộn “mâu thuẫn trong thực tế sinh hoạt và mâu thuẫn trong nghị luận không chính xác” (tức mâu thuẫn logic). Mâu thuẫn trong thực tế sinh hoạt là mâu thuẫn tồn tại trong bản thân sự vật của thế giới vật chất. Trong sự vật có mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, cái đang phát triển và cái đang suy tàn. Đó là hai mặt mâu thuẫn với nhau theo hai xu hướng phát triển khác nhau. Còn mâu thuẫn logic hay mâu thuẫn tư tưởng là mâu thuẫn xảy ra trong quá trình suy nghĩ, là sự vi phạm quy luật mâu thuẫn. 3. Luật triệt tam3 Còn gọi là luật bài trung hay luật gạt bỏ cái thứ ba. 1 Principe de contradiction. 2 Principe de noncontradition. 3 Principe du tiers exclu.

110 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Đây là hình thức phân tích của luật mâu thuẫn và được phát biểu: “Một sự vật hoặc có hoặc không có, chứ không có trường hợp thứ ba”. Ví dụ: Khi ta tung đồng xu lên thì nó hoặc là xấp, hoặc ngửa, không thể có trường hợp thứ ba. Giữa hai mệnh đề mâu thuẫn nhau, nếu có một mệnh đề đúng, thì mệnh đề kia phải sai, và ngược lại. Đối với luật triệt tam: trong hai phán đoán mâu thuẫn nhất định có một cái là đúng, một cái là sai: không có cái thứ ba. Ai vi phạm luật triệt tam, bị gọi là người “ba phải”. Ba phải là “cũng phải và cũng không phải”. Người ba phải là người không có lập trường rõ ràng, dứt khoát. B. Các quy luật liên quan đến sự tồn tại của sự vật Gồm có ba quy luật. 1. Luật lý do đầy đủ1 Luật này được phát biểu là: “Tất cả những gì tồn tại đều có lý do để tồn tại”. Ví dụ: Lý do tồn tại của nước là có lực liên kết đơn giữa 2 nguyên tử hydro và 1 nguyên tử oxy – H2O. Không có sự vật hiện tượng nào xảy ra mà lại không có lý do. Vì thế bất cứ một sự suy nghĩ nào hợp với chân lý cũng đều phải có căn cứ. Mọi sự tồn tại đều có lý do tồn tại. Vì có lý do nên mới có thể hiểu được và giải thích được. Vậy để hiểu hơn nữa lý do tồn tại của các sự vật và hiện tượng cần đi thêm vào các quy luật sau đây: 2. Luật nhân quả2 Được phát biểu: “Mọi sự đều có nguyên nhân. Trong cùng một hoàn cảnh, cùng một nguyên nhân, sẽ sinh ra cùng một kết quả”. 1 Principe de raison suffisante. 2 Principe de causalité.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 111 3. Luật hướng đích1 Được phát biểu: “Mọi sự vật đều có hoặc đều hướng đến một mục đích”. Ví dụ: Mục đích của ăn là để sống, của viên phấn là để viết, của cái ghế là để ngồi, chim có cánh để bay, vịt có chân màng để bơi lội… Trong thực tế nếu bạn làm theo đúng các quy tắc căn bản khi lập luận là… ăn tiền rồi. Nó là sự cô đọng hay là sự trộn lẫn các quy luật của tư duy. Trong thực tế khi lập luận, các bạn thường nhảy từ bên này sang bên kia, nguyên đơn sang bị đơn. Cách để đứng chắc với một bên là bạn đảo câu từ chủ động cách (active voice – con mèo ăn con chuột) sang thụ động cách (pasive voice – con chuột bị con mèo ăn). Khi viết văn người ta khuyến khích không nên dùng thụ động cách; nhưng khi suy nghĩ thì phải dùng cách đó để giữ quy luật đồng nhất nếu không thì người nghe không theo dõi kịp. III. Các phương pháp có tính thực tiễn Trong thực tế, các tòa án và luật gia thường áp dụng bốn nguyên tắc và hai phương châm sau. A. Bốn nguyên tắc suy luận 1. Nguyên tắc suy luận quy nạp và diễn dịch2 Theo nguyên tắc này phải căn cứ vào nhiều trường hợp tương tự được quy định trong luật để quy thành một nguyên tắc chung (quy nạp) rồi đem nguyên tắc chung này áp dụng cho trường hợp đang tranh chấp (diễn dịch). Ví dụ: Luật có định rằng về hợp đồng nếu bị cưỡng bách ký kết thì sẽ không có giá trị. Về giá thú nếu bị cưỡng bách ký thì cũng không có giá trị. Vì hợp đồng và giá thú đều là chứng thư nên đi đến một nguyên tắc chung là mọi chứng thư nếu bị cưỡng bách sẽ không có giá trị (quy nạp). Từ nguyên tắc chung đó đem áp dụng giải thích trường hợp khước từ quyền thừa kế; nếu do sự cưỡng bách mà ký tên khước từ quyền thừa kế thì sự khước từ đó cũng sẽ không có giá trị. 1 Principe de finalité. 2 Raisonnement par induction et deduction.

112 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 2. Nguyên tắc suy luận loại tỷ (hay tương tự)1 Theo cách này, nếu luật đã giải quyết một trường hợp tương tự thì có thể căn cứ vào trường hợp đó để giải quyết trường hợp đang tranh chấp. Ví dụ: Dân luật Pháp có quy định rằng trong trường hợp ly hôn, người phối ngẫu có lỗi sẽ mất hết quyền lợi mà người kia dành cho từ ngày lập giá thú. Trường hợp ly thân (séparation de corps), tương tự như ly hôn, tuy luật không quy định rõ về sự truất quyền như trên, nhưng tòa án có quyền suy luận để đi đến phán quyết truất quyền đó. 3. Nguyên tắc suy luận đối nghịch2 Theo nguyên tắc này, người ta có thể áp dụng giải pháp ngược lại với giải pháp mà luật đã dự liệu cho những trường hợp trái ngược. Ví dụ: luật quy định tuổi vị thành niên thoát quyền không thể tự mình hành xử tố quyền bất động sản (về trường hợp áp dụng điều 428 BDL Pháp). Bằng suy luận đối nghịch người ta đi đến kết luận: Vậy vị thành niên thoát quyền có quyền tự do hành xử tố quyền động sản như một người thành niên3 . Hành xử tố quyền là dựa vào một quyền minh có để thưa ra tòa; thí dụ bị giật đồng hồ thì có thể đi thưa. 4. Nguyên tắc suy luận tất nhiên4 Đây là cách suy luận theo phương châm “Ai làm được việc lớn, thì làm được việc nhỏ”. Ví dụ luật quy định về trường hợp giảm nhẹ hình phạt cho tội giết người trong trường hợp bắt quả tang người phối ngẫu đang thông gian. Suy luận tất nhiên cho phép nói như sau: Vậy nếu gây thương tích cho người phối ngẫu bị bắt quả tang trong trường hợp giống như trên cũng được giảm nhẹ hình phạt. 1 Raisonnement par analogie. 2 Raisonnement a contrario. 3 Vị thành niên thoát quyền là người không còn bị giám hộ theo luật nữa. Theo DLP, người nào dưới 21 tuổi thì chưa bị trách nhiệm trước pháp luật, bị cha, mẹ hay người giám hộ trông coi và phải nghe lời họ. Tuy nhiên một người mới 18 tuổi nhưng đã lấy vợ thì không còn bị giám hộ nữa, tức là được “thoát quyền”. 4 Raisonnement a fortiori.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 113 C. Ba phương châm Trong việc giải thích pháp luật, người ta theo ba phương châm sau đây: 1. Các biệt lệ phải được giải thích chặt chẽ1 Biệt lệ tức là trường hợp khác hơn nguyên tắc cơ bản. Nếu nới rộng biệt lệ đó để áp dụng cho mọi trường hợp thì biệt lệ đó lại trở thành một nguyên tắc căn bản nữa. Cho nên không được giải thích rộng rãi các biệt lệ. Các biệt lệ trong luật thường đi sau các chữ “Tuy nhiên”, “Nhưng”, “Song”, “Tuy thế”, “Tuy vậy” hoặc có thể theo nội dung điều luật mà hiểu được đó là biệt lệ. Tìm hiểu nội dung trong trường hợp này là tìm hiểu mục tiêu xã hội của đạo luật mà hệ thống luật của Anh gọi là phương pháp tiếp cận có mục đích (purposive approach). Ngày nay, luật hình các nước đều bó buộc phải được giải thích chặt chẽ. 2. Khi luật không phân biệt thì cấm phân biệt2 Nếu luật quy định một cách tổng quát thì thẩm phán hay luật gia không thể tùy tiện phân biệt (chia nhỏ ra) để thu hẹp phạm vi áp dụng của luật đó được. Ví dụ: Luật quy định thời gian kháng cáo một bản án là 15 ngày. Thẩm phán hay luật gia không thể tùy tiện phân biệt như cho rằng đối với người trẻ thì nên gia hạn mấy ngày, người già nên gia hạn mấy ngày hoặc tùy theo đàn bà hay đàn ông phải có thời hạn chống án khác nhau. 3. Đã chọn một đường lối này thì không sử dụng đường lối khác. Khi một người đã khởi kiện ở tòa dân sự thì không được khởi kiện ở tòa kinh tế nữa. Để thêm thông tin cho các bạn, trong cuộc hội thảo về giải thích pháp luật đã nêu, TS. Nguyễn Văn Điệp có nói: “Hiện nay, trong lý luận về pháp luật, thường phân biệt các phương pháp giải thích pháp luật như: Phương pháp giải thích theo ngữ nghĩa: là phương pháp làm sáng tỏ nội 1 Exceptio est strictissimae interpretationis. 2 Ubilex distinguit nec nos distinguere debemus.

114 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa từng chữ, từng câu và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữa chúng trong lời văn của quy phạm đó. Phương pháp giải thích theo logic ngữ pháp: Là phương pháp sử dụng những suy đoán logic để làm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật. Phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lời văn của quy phạm không thể hiện rõ ý chí của Nhà nước. Phương pháp giải thích theo lịch sử: Là phương pháp tìm hiểu nội dung tư tưởng quy phạm thông qua việc nghiên cứu các điều kiện hoàn cảnh chính trị, lịch sử đã dẫn đến việc ban hành quy phạm hoặc văn bản quy phạm pháp luật đó và nhiệm vụ chính trị mà nhà nước mong muốn đạt được khi ban hành quy phạm pháp luật đó. Phương pháp giải thích hệ thống: Là làm rõ nội dung, tư tưởng quy phạm pháp luật thông qua việc đối chiếu nó với các quy phạm khác, xác định vị trí của quy phạm đó trong chế định pháp luật, ngành luật cũng như trong toàn bộ hệ thống luật1 . Mục 7: Kiến thức về cuộc sống Về kiến thức cuộc sống, tôi không dám nói nhiều vì cảm thấy mình không có khả năng. Một cây cầu bạn đã đi qua, tôi chưa đi thì sao có thể nói về kiến thức cây cầu ấy với bạn. Tuy nhiên, tôi rút ra kinh nghiệm này để chia sẻ với bạn. Kiến thức mà bạn nắm giữ giống như một cái nón úp xuống hay ngửa lên. Tương quan của nó với tâm lý của bạn là khi có ít kiến thức bạn cảm thấy mình giống như đứng ở trên cái chóp nón úp xuống; khi biết nhiều, bạn sẽ thấy mình ở đáy cái nón ngửa lên! Khiêm tốn là một sự nhận thức, chứ không phải một câu nói “đắc nhân tâm”. Kiến thức luật pháp mà bạn đã được trang bị thì nó chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm. Chúng thể hiện một giao dịch nào đó, ở mức tổng quát 1 Nguyễn Văn Điệp “Nhu cầu về giải thích pháp luật phát sinh trong quá trình xét xử và hoạt động của tòa án” bài ghi trong sách nêu trên, t.436.

Việc áp sự kiện vào luật pháp 115 nhất với các hành vi quan trọng nhất. Tổng quát nhất có nghĩa là những nguyên tắc chi phối chúng ít khi được nói ra. Hành vi quan trọng nhất, tức là chỉ có các hành vi chính mà thôi. Tuy nhiên, và thật đau khổ cho chúng ta, một giao dịch không phải chỉ có các hành vi chính mà còn có nhiều hành vi phụ; mà trong thực tế các vấn đề tranh chấp lại thường là những hành vi phụ. Bạn đã xem cái mái nhà và việc nghiệm thu ở

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 30

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!