phần 1). Bây giờ tôi xin đề cập yêu cầu (iii). Luật sư khi nói ra hay viết lên điều gì thì phải rõ ràng và khúc chiết. Lý do là để tránh không bị người khác bắt bẻ, gây ra cãi cọ. Muốn vậy khi nghĩ phải phải ĐÚNG – GỌN – RÕ. Để được như vậy, bạn phải suy nghĩ theo một trình tự hợp lý. Và đầu tiên là phải biết phân biệt. Phân biệt rõ thì mới sắp xếp theo sự hợp lý được. Phân biệt sẽ giúp bạn phân tích. Hai cái khác nhau, nhưng liên kết với nhau. Bạn phân biệt “người nam và người nữ”. Bạn phân tích “tâm lý người nam” “tâm lý người nữ”. Cái sau là phân tích và nó bao gồm cái trước là phân biệt. Vậy nếu không phân biệt thì bạn sẽ không phân tích được. Ở trường luật, khi thảo luận về các điều luật, thứ tự và ý nghĩa của chúng bạn thường phân biệt giỏi. Thí dụ điều khoản đó nằm trong thông tư, hay ở nghị định và cái nào có hiệu lực hơn cái nào; ý nghĩa ra sao… Đó là sự phân biệt văn bản rồi phân tích một nội dung, mà mục đích cuối cùng là giải thích luật pháp. Thế nhưng ít khi các bạn có dịp phân biệt các sự kiện
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 133 vốn là thực tại của cuộc sống. Thí dụ: Việc nhai thức ăn. Đầu tiên răng nhai – nước bọt tiết ra – lưỡi trộn nước bọt với thức ăn – họng kết hợp với lưỡi để đưa thức ăn xuống dưới. Tách riêng từng động tác ra ấy là phân tích. Khi hành nghề, luật sư tiếp xúc với thực tại, với các sự kiện. Khách hàng kể cho bạn các sự kiện chứ không đưa cho bạn luật! Vì thế bạn phải hiểu biết về cuộc sống và biết phân biệt những vấn đề trong đó. TDPL đòi phải phân tích các sự kiện; tức là bạn phải xem sự kiện nào quan trọng nhất và có tính quyết định nhất trong một vụ tranh chấp để tìm ra SKMC. Vì vậy, bạn phải biết phân biệt các sự kiện, tức là tách riêng ra từng cái; tách được rồi thì sắp xếp chúng lại theo sự hợp lý; sự hợp lý tạo thành sự phân tích. Đã hợp lý rồi thì khi nói ra không ai bác bỏ được. Làm như thế ở Mỹ người ta nói là “thinking like a lawyer”. TDPL mà bạn sẽ học là một chuỗi gồm các yếu tố sau: TƯ DUY PHÁP LÝ = (i) HIỂU BIẾT (có kiến thức rộng) + (ii) BIẾT PHÂN BIỆT + (iii) ĐI THEO MỘT TUẦN TỰ HỢP LÝ + (iv) THU HÚT => NÓI RA ĐÚNG, GỌN, RÕ. Yếu tố “thu hút” được thêm vào ở đây vì hai lý do. Một là, lời nói, lập luận của luật sư phải thuyết phục được tòa án và những người tham dự; phải thuyết phục được người nghe. Hai là phải thắng các lập luận chỉ trích mình của đối phương. II. Các yêu cầu của sự phân tích Để phân tích bạn cần làm ba việc: • Phân biệt giữa “suy nghĩ và trình bày” hay giữa “nghĩ trong đầu” với “viết hay nói ra ngoài”. Cái trước là TDPL, cái sau là trình bày kết quả; • Các chi tiết đưa vào óc mình để suy nghĩ phải “đúng – gọn – rõ”; và • Biết phân biệt các tiểu tiết khác nhau nằm trong một sự kiện. Tôi xin đi vào từng yêu cầu một: A. TDPL: nghĩ thì ngắn gọn – nói ra thì theo cách thông thường TDPL là suy nghĩ, nói ra là phát biểu. Đó là hai giai đoạn khác nhau về thời điểm (cái trước, cái sau). Cái trước là làm cho mình và với mình không thôi;
134 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ cái sau là nói cho người khác nghe. Khi nghĩ, TDPL đòi hỏi bạn phải dùng chữ ngắn, gọn, rõ; vì khả năng của trí óc có giới hạn, nhận nhiều thông tin quá khi xử lý nó sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Ngày xưa, trong thời kỳ đầu của máy điện toán, muốn đưa các dữ kiện vào máy người ta phải đánh máy vào những tấm thẻ đục lỗ (gọi là punched card) theo một ngôn ngữ gọi là PASCAL, hay COBOL tức là ngôn ngữ riêng cho của máy. Làm cho mình bạn phải dùng từ ngắn gọn; nhưng đến khi phát biểu bạn phải dùng các câu nói thông thường, các từ ngữ quen thuộc để cho người hiểu. Đây là sự mâu thuẫn có lẽ chỉ có ở ta mà bây giờ bạn phải gánh chịu. Lúc đầu luật pháp là để cho chính quyền sử dụng nhằm quản lý xã hội; các thuật ngữ pháp lý thường là trang trọng nên dài để phục vụ yêu cầu này. Và bạn đã quen! Nay có tranh chấp, bạn tham gia, thì phải suy nghĩ ngắn gọn nên các thuật ngữ kia, trong chừng mực nào đó, không thích hợp. B. Các chi tiết đưa vào suy nghĩ phải thật gọn Do trời định, đầu óc của ta không thể giữ trong nó nhiều thứ khi xử lý. Óc ta khác với một ổ cứng của computer. Đây là sự hạn chế của đầu óc ta. Bạn có thể kiểm tra điều này: khi nhớ về mẹ của mình thì ta chỉ nhớ được một số nét nào đó của bà; chứ không thể nhớ hết về bà, giống như khi nhìn bà trong một bức ảnh. Vì vậy khi nghĩ thì chi tiết đưa vào đầu (nhập lượng – input) phải thật gọn và rõ. Có như thế thì khi óc làm việc nó mới cho ta kết quả mong muốn (output). Về yêu cầu này khi TDPL, bạn sẽ gặp một vấn đề lớn! Như đã đề cập, những thuật ngữ pháp lý mà các bạn học và quen dùng thì chúng thường trang trọng và dài dòng nên chúng không đáp ứng yêu cầu gọn và rõ khi TDPL. Tôi xin nêu vài thí dụ. “Hoàn tất nghĩa vụ tài chính” thì thực ra đó chỉ là “đã trả hết thuế và phí”. Thuật ngữ đó nghe trang trọng (và bạn cũng thấy thế là đúng); nhưng khi suy nghĩ, thì nó thành mơ hồ; vì nó không giúp bạn liên tưởng đến một nơi thu tiền, hay khi trả tiền thuế thì nó cao, phí thì thấp. “Tham gia vào quan hệ hợp đồng” thực sự là “ký hợp đồng”. “Thực hiện việc thanh toán”, ấy là trả tiền. “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là bán đất. Các thuật ngữ pháp lý mà bạn đã quen sẽ làm bạn nghĩ chậm!
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 135 Để khắc phục dần, tôi đề nghi bạn áp dụng những điều dưới đây (chỉ là một số ít điều nêu lên như những ví dụ) khi suy nghĩ: 1 • Đi vào bản chất sự vật/vụ việc/vấn đề. Đây là một thí dụ: “Công chứng một thửa đất bán cho hai người” Năm 2013, bà A ủy quyền cho ông B bán cho bà X một thửa đất số 423 ở Hóc Môn giá 400 triệu đồng. Vụ mua bán được đưa ra văn phòng công chứng Z. Trong khi làm thủ tục đăng bộ thì Bà X được thông báo là ông Y đã mua miếng đất đó năm 2011, với một người được ủy quyền khác, cũng công chứng tại văn phòng Z. Vậy văn phòng Z đã công chứng một thửa đất cho hai người. Bà X đã trả hết tiền. Sở Tư pháp bảo văn phòng công chứng phải có trách nhiệm. Một luật sư nói văn phòng công chứng phải liên đới bồi thường. Bản chất của vụ này là việc bà A lấy tiền từ hai người cho một thửa đất, hay bán một thửa đất cho hai người; chứ không phải công chứng xác nhận. Cái trước là bản chất; cái sau là hành vi bên ngoài; không có cái trước thì chẳng có cái sau. Vậy trách nhiệm đối với bà X, người mua sau, nằm ở bà A, chứ không phải ở công chứng. Đó là cách nhìn theo bản chất vụ việc. Nếu làm luật sư của bà X, thì bạn nên đến đòi bà A, chứ không nên quy trách công chứng. Công chứng Z có cầm tiền đâu? Một khi bạn nhìn vấn đề theo bản chất thì sẽ đi đến ngọn nguồn của nó và đặt vấn đề đúng, giải quyết vụ việc nhanh. Tất nhiên công chứng có lỗi không cẩn thận khi xác nhận; nhưng đòi tiền thì phải lấy từ bà A. Cả Sở Tư pháp lẫn luật sư đều nhìn vào hành vi công chứng để quy trách nhiệm. Đó là hình thức mua bán thửa đất. 1 Trong phiên họp ngày 22/9/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ông Chủ tịch Quốc hội có nhận xét về sự phân tích của các luật gia “thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ bỏ hình thức thể hiện” rằng khái niệm như vậy “rất là mơ hồ, luật pháp phải để mọi người nghe hiểu được ngay chứ không phải viễn tưởng, trừu tượng như khoa học”. Theo Ông có thể bỏ từ quy phạm và chỉ để thống nhất là văn bản pháp luật.
136 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ • Không dùng từ rườm rà, dài dòng. Nói ngắn gọn. Dưới đây là một số thí dụ. KHI NÓI RẰNG: THÌ LÚC NGHĨ LÀ: Tham gia vào quan hệ hợp đồng Ký hợp đồng Hỗ trợ tiền bạc Góp vốn – hay cho vay – hay cho không Thực hiện việc góp vốn Góp vốn. Bên bán có nghĩa vụ hoàn tất việc trả nợ ngân hàng để lấy giấy tờ sở hữu tài sản và tiến hành sang tên cho bên mua Bên bán phải trả nợ xong cho ngân hàng và đi sang tên nhà/xe cho bên mua Ông A có nghĩa vụ thanh toán nợ Ông A phải trả nợ. Tiến hành thủ tục khởi kiện Nộp đơn kiện Công tác chuẩn bị xây dựng cơ sở vật chất để sản xuất gạch vẫn đang thực hiện chưa hoàn tất Việc xây dựng xưởng sản xuất gạch chưa làm xong Tiến hành bàn giao Bàn giao …. (cái gì đó) Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Không trả tiền Không có thiện chí trả tiền tiếp cho A, dùC đã nhiều lần đòi Không chịu trả tiền hết cho A dù đã bịC đòi nhiều lần Tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sư dụng đất Đi xin sổ đỏ Giao trách nhiệm lên xe chen lấn để che mắt Giao nhiệm vụ lên xe chen lấn để che mắt. Trước khi HĐMB được ký kết, bên mua đã tiến hành thanh toán cho bên bán 800 triệu đồng mà không có phiếu thu hay biên nhận Trước khi ký HĐMB, bên mua đã trả 800 triệu đồng mà không lấy biên nhận. Bà A có trách nhiệm giao căn nhà thì Bà A phải giao căn nhà. Giấy tờ thể hiện việc sử dụng tiền vào mục đích gì Chứng từ về việc Thanh toán tiền qua ngân hàng Trả tiền qua ngân hàng Vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền thuê theo HĐ Không chịu trả tiền thuê theo hợp đồng Hai bên đồng ý thỏa thuận cùng hợp tác góp vốn cùng tự nguyện đồng ý ký Hợp đồng kinh tế hợp tác góp vốn đầu tư xây dựng và kinh doanh công trình “…”với các nội dung sau Hai bên đồng ý ký hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng và kinh doanh công trình … với các nội dung sau Một “tương quan pháp lý” Một vụ
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 137 • Phải gắn sự việc hay vấn đề với một người nhất định nào đó. Có thể nói rõ người ấy ra hay để họ được hiểu ngầm; làm thế để tuân thủ nguyên lý đồng nhất trong lý luận. Thí dụ, cành cây nhà ông A rơi xuống đầu ông B; ông B bắt ông A đền, nhưng ông A chối. Nếu chỉ nhấn mạnh đến ông B thì sẽ nói thế này:” Bị cành cây rơi xuống đầu, ông B đi bắt đền mà không được.” • Không đổi chủ thể. Giữ vững chân trụ. Không nói “A nói xong; B nhảy lên đánh nó”. Nên nó “A nói xong thì nó bị B đánh”. Nói kiểu trước là đổi chân trụ (A sang B). Nói kiểu sau là giữ chân trụ (A, nó). Một thí dụ khác. Nếu bạn hỏi “Ông Năm có bị mất đất đã thế chấp không?”, tức là lấy “ông Năm” là chân trụ, thì câu hỏi tiếp là “Ông Năm đã có thế chấp đất không?” Bạn phân biệt “mất đất” và “thế chấp đất”. Hai cái này khác nhau. Bây giờ nếu bạn lấy “đất” là chân trụ thì hai câu hỏi trên sẽ phải đổi như sau: “Đất của ông Năm có bị mất không?” Rồi “Đất ấy có bị thế chấp không?”. Báo chí thuật lại trong vụ xử ông Nguyễn Đức Kiên, luật sư Vũ Xuân Nam, bào chữa cho ông Kiên đã truy vấn trách nhiệm Vietinbank bằng những câu hỏi sau: “Người dân đi gửi tiền cho Ngân hàng có phải là lĩnh vực liên quan đến ngân hàng không? Người dân đi gửi có phải được Ngân hàng cho phép không, cấp giấy phép cho người dân đi gửi tiền không? Khi người dân đem tiền đi gửi, ngân hàng có xác định là nguồn tiền của ai không? Người dân đi gửi tiền, nộp tiền vào tài khoản, đối với người dân có phải là hoạt động của ngân hàng không? Bạn thấy luật sư Nam giữ chân trụ “người dân gửi ngân hàng”1 . • Nói phải có túc từ, không bỏ lửng, không nói chung chung “vi phạm hợp đồng” mà phải nói “vi phạm về giao hàng sai, trễ hạn …” • Đi theo một thứ tự hợp lý khi trình bày. • Đổi câu hỏi từ thể xác định sang nghi vấn thì sẽ có một câu hỏi. Thí dụ: “Xe hơi cán chết một người” thành “Có một người bị xe cán chết không?” Phải chuyển như thế thì mới đặt câu hỏi pháp lý được. 1 Báo Pháp luật thành phố 24/5/2014.
138 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ • Không nói chung chung là giấy tờ pháp lý của công ty mà nói rành mạch: chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; chứng nhận đầu tư; chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu… Phải nói rõ để có thể hình dung trong đầu mình nội dung chính của các văn bản đó. Từ đó mới liên tưởng đến các thứ có liên quan. C. Biết phân biệt Ta đã biết muốn phân tích sự kiện thì phải biết phân biệt chúng ra từng cái một. Phân biệt là làm gì? Tôi xin nêu một số điểm gợi ý trước; sau đó kể một số vụ việc để bạn nắm rõ hơn. 1. Một số điểm về phân biệt - Phân biệt các sự kiện theo bản chất và theo tên gọi của chúng; nói đơn giản là phân biệt “cái ruột” với “cái vỏ”, khi suy luận chú tâm vào cái ruột. Triết học Mác xít nói là bản chất và hiện tượng. Khi đã định rõ được bản chất thì đặt cho nó tên gì cũng được. - Khi phân biệt sự kiện theo bản chất và tên gọi thì bạn chỉ nhìn vào chính sự kiện và chỉ một mình nó rồi tìm xem cái nào là bản chất, cái nào là tên gọi. Thí dụ đất đai, đất là bản chất, quyền sử dụng đất là tên gọi. Về tên gọi, người ta có thể đổi nó thành quyền sở hữu đất. Đất giữ nguyên, quyền thay đổi. Giống như để gọi con chó có nơi gọi nó là chó, có nơi gọi nó là con cầy. Ta phải biết phân biệt, nắm thực chất của vấn đề, phân loại sự kiện để khi xếp chúng vào với nhau, chúng có cùng tính chất. Vỏ đi với vỏ, ruột đi với ruột. - Một người có thể có tên thật, tên gọi ở nhà, bút hiệu… Đó là thí dụ về bản chất và tên gọi. Chim có nhiều loại, nhưng tất cả đều phải có cánh. Loài chim thì có cánh. Đó là bản chất. Chim có thể có nhiều loại: chim sẻ, chim sơn ca, chim bồ câu... Khi phân tích ta chỉ giữ trong đầu bản chất. Thí dụ khi nghe nói một người bán năm loại chim ta chỉ cần nhớ một người bán chim; ông ta và con chim. Đó là sự phân biệt bản chất và tên gọi. - Tôi xin kể một thí dụ khác. Cô Lan có ba vòng đo lần lượt 90 – 80 – 88 (cô ấy – cái ruột). Ở nhà tên cô là Ba, ở trường tên là Hồng, nay đi làm tên cô ấy là Lan (cái vỏ). Bạn thấy bản chất hay cái ruột là một (nó tĩnh); tên gọi thì có nhiều (nó động).
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 139 - Trong quận có hai khách sạn 5 sao, ba khách sạn 4 sao, mười khách sạn 3 sao và 2 sao, 26 khách sạn thường, chưa kể khách sạn mini và nhiều nhà trọ khác. Chủ tịch Ủy ban quận hỏi bạn là: muốn quản lý số khách sạn và phòng ngủ đó nên lập mấy bộ phận quản lý? Tất cả các khách sạn, có sao, không sao, mini và nhà trọ đều giống nhau ở một điểm là: nó là nơi trú ngụ ngắn hạn cho khách đến ở. Đó là bản chất hay tính chất chung của chúng. Gọi là nhà trọ, hay mini, hay sao là do chúng được trang bị tiện nghi khác nhau, cái nhiều cái ít. Tệ nạn nếu có diễn ra ở đó hay không là tùy người chủ và khách đến ở, nó không ảnh hưởng đến tính chất cốt yếu của chúng. Do vậy chỉ cần một cơ quan là quản lý được rồi. Nếu lập vài cơ quan, cái để quản lý khách sạn, cái để coi khách sạn mini… thì ở bến xe cũng có nhà trọ nhưng chỉ là ghế bố thì sẽ không có cơ quan quản. Cách quản phân chia nhiều như thế gọi là quản lý theo tên gọi chứ không phải theo tính chất. Thường thường con người bị lôi kéo bởi cái gì dễ dàng, nên sự vật có sao thì gọi như thế. Đến khi trình độ cao hơn mới biết tìm tòi tính chất và do đó so sánh chúng với nhau được. - Phân biệt cái nào là chính là phụ; cái nào trước cái nào sau; tính từ với danh từ, trạng từ với động từ. - Khi phân biệt sự kiện nào là chính hay phụ thì phải gắn nó vào một gốc nào đó. Thí dụ mẹ của bạn là chính yếu đối với bạn, nhưng là phụ đối với tôi. Vẫn là một bà nhưng có lúc bà là chính, có khi là phụ vì cái gốc thay đổi. Trong một vụ việc, gốc của vấn đề là yêu cầu nguyên đơn xin tòa phán quyết, hay vấn đề mà thân chủ nêu ra với bạn. Như bạn thấy trong vụ số 39 về việc xin hủy sổ đỏ, tôi đã lấy đất như là cái gốc của yêu cầu đòi lại giấy đỏ; từ đó tôi phân biệt ra các sự kiện chính và phụ, rồi gạt bỏ những cái phụ đi từ đó thấy CHMC. - Phân biệt nguyên nhân và hậu quả; cái khởi động, cái ăn theo; cái tĩnh, cái động; cái trước cái sau; cái nào là gốc, cái nào là ngọn; hay cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả. Mưa nhiều tạo nên lụt lội; mưa trước, lụt sau; không lẫn lộn. Nhai rồi nuốt chứ không nuốt rồi nhai. - Để phân biệt trước sau, chỉ việc lấy một cái mốc. Muốn so việc nào trước, việc nào sau thì chọn một thời điểm mốc. Còn như muốn so nơi nào trước, nơi
140 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ nào sau thì lấy một địa điểm làm mốc”. Thí dụ đối với Hà Nội thì Huế là trước còn Biên Hòa là sau. Trước sau cũng là cái bạn nhận ra theo kinh nghiệm cuộc sống của mình, nhưng luôn luôn nó phải theo một cái gốc nào đó. - Phân biệt vị trí khi người ta nói, lúc họ đứng ở bên bị đơn, lúc ở bên nguyên đơn; phân biệt kiểu nói chủ động và thụ động. - Luôn luôn chọn yếu tố tĩnh khi suy luận. Bạn suy luận mà dựa trên “cái động” thì dễ mất phương hướng, nói cái này quàng sang cái khác. Người nghe không hiểu! - Phân biệt theo nội dung từ ngữ. Danh từ “đầu tư” trong luật pháp của ta có ba nội dung khác nhau. Trong Luật Đầu tư chung 2005 thì đầu tư là bỏ tiền ra kinh doanh để thu lời lãi về. Muốn kinh doanh thì phải lập cơ sở (doanh nghiệp, góp vốn, cho vay…), đó là bỏ tiền ra. Đây là ý nghĩa về mặt kinh tế. Trong Luật Xây dựng có từ ngữ quản lý đầu tư và xây dựng. Đầu tư ở đây là xin cấp tiền (doanh nghiệp nhà nước), hay bỏ tiền ra (tư nhân) để xây dựng một công trình nào đó và để xin cấp giấy phép xây dựng. Trong Luật Đất đai, kinh doanh bất động sản có danh từ “quyết định chấp thuận đầu tư”, đầu tư này có nghĩa là chấp nhận cho một doanh nghiệp xây dựng một dự án để Ủy ban Nhân dân cấp đất. Khi dùng từ ngữ “đầu tư” bạn phải xác định nội dung cho rõ; kẻo thân chủ đi xin đất theo Luật Đất đai, bạn lại đi lập thủ tục mở công ty theo Luật Doanh nghiệp là… thua đấy! Cũng vậy, từ “chi nhánh” của một doanh nghiệp ở ta cũng có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là “chi nhánh của một doanh nghiệp trong nước” theo Luật Doanh nghiệp thì chỉ là một cơ sở phụ thuộc của một doanh nghiệp. Nhưng trong Luật Thương mại, chi nhánh của một doanh nghiệp bên ngoài Việt Nam đặt tại Việt Nam thì lại có tư cách pháp nhân. - Một từ ngữ ở ta có nhiều nghĩa, tùy theo khu vực kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, có vốn nước ngoài) và có những từ ngữ mà nội dung của nó khác với ý nghĩa dùng trên thương trường quốc tế. - Phân biệt sự kiện và chứng cứ. Các bạn đã được nghe nhiều về tầm quan trọng của chứng cứ. Tuy nhiên, là luật sư bây giờ bạn cần phân biệt rõ hai cái này. Ta thường nghe thấy tội phạm quả tang thì không cần chứng
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 141 cứ. Vậy ta có tội phạm và chứng cứ. Tội phạm là một việc đã xảy ra. Nó là một sự kiện, một hành động. Chứng cứ là một phương tiện chứng minh sự kiện đó. Hai người nam nữ đã trao nhẫn – việc trao nhẫn được chụp lại trong một tấm hình. Tấm hình là chứng cứ. Do việc trao nhẫn, họ là vợ chồng. Các ràng buộc pháp lý mà họ phải thực hiện xuất phát từ việc họ là vợ chồng; chứ không phải tại vì tấm hình. Luật sư xem xét sự kiện trước. Xác định tính chất của sự kiện xong ta mới xem xét đến chứng cứ. Xem xét bằng cách đánh giá – tức là xem chứng cứ đáng tin đến mức nào. Hai việc đó khác nhau, sự kiện là chính, chứng cứ là phụ. Khi chỉ xem xét chứng cứ thì sẽ kết luận được chứng cứ nào đáng tin hơn chứng cứ nào và cái đáng tin nhất thì làm rõ sự kiện nhất. TDPL là xem xét sự kiện mà sự kiện được thể hiện qua các chứng cứ. Tranh luận về chứng cứ là để bàn bạc về sự rõ ràng và chính xác của hành vi hay của sự kiện. 2. Một số vụ để giúp phân biệt Vụ 5 Mua bán nhà Khi mua bán nhà cửa thì thủ tục thông thường là ký hợp đồng mua bán ở Phòng Công chứng sau đó bên mua ra đăng ký tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất. Bình thường người ta coi hai việc làm này là một, vì là thủ tục mua bán nhà. Tuy nhiên, là luật sư bạn phải phân biệt ra hai việc: mua bán và đăng ký. Việc đầu diễn ra giữa hai bên mua bán và công chứng viên. Ở đây việc mua bán hoàn tất. Nếu có tranh chấp thì việc ấy xảy ra giữa người mua và bán. Còn việc đăng ký chỉ có người mua làm. Làm thế để tên của họ được ghi vào sổ đỏ ở trang cuối. Tranh chấp ở đây nếu có sẽ là tranh chấp về chủ quyền căn nhà, nghĩa là có người nào đó nói rằng nhà đó là của tôi. Ông A và bà B là vợ chồng, có một căn nhà chung và họ ly hôn. Tòa tuyên giao căn nhà cho bà B và bà này phải giao cho ông A 450 triệu đồng. Bà B không thực hiện nên Chi cục Thi hành án huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh phải kê biên và đưa ra bán đấu giá. Lúc này ông A đi mua đấu giá và trúng. Ông đã đóng tiền đầy đủ cho Trung tâm bán đấu giá Tây Ninh. Đến hạn giao nhà thì Chi cục THA huyện lại không giao với lý do là một