phần của quyết định ấy là xuất phát từ vợ chồng ông A. Chính họ khai với tòa về tài sản đó. Họ bảo là của chung thì tòa bảo phải chia đôi. Bà B lấy nhà và trả tiền cho ông A. Chi cục THA không dính dáng gì vào đây. Khi đã có bản án thì họ thi hành và là bên bán trong hợp đồng. Nay căn nhà có khuyết tật thì họ thấy không bán được và trả lại tiền mua cho ông A. Trong hợp đồng mua bán đấu giá, Chi cục THA không phải là chủ căn nhà. Ông A đã từng là chủ. Căn nhà có khuyết tật, Chi cục không thể bán được. Ông A phải chấp nhận khuyết tật của căn nhà mà ông đã ở. Ông không thể chối bỏ sự thật ấy. Ông phải chịu chứ không thể đi thưa Chi cục THA. Tòa án trả lại đơn khởi tố vì lý do này; nhưng lại nói trớ đi là không có thẩm quyền. Ở đây, luật sư chỉ cần phân biệt các sự việc ra và khuyên ông A đừng đi thưa tốn kém thời gian và tiền bạc, trong đó có thù lao cho… luật sư!
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 143 Vụ 6 Xin tòa dẹp sân chơi (phân biệt sự kiện có thật và sự suy đoán) Đây là một vụ án ở bên Anh. Vào mùa hè chơi khúc côn cầu (cricket) là một thú vui của mọi người. Hầu hết mọi làng trong vùng đều có sân riêng của họ, ở đó người trẻ chơi, còn người già thì xem. Làng Lintz, cũng có một sân mà dân làng đã từng chơi hơn 70 năm nay. Đoàn khúc côn cầu của làng chơi vào thứ bảy và chủ nhật để đua tài với làng bên. Những ngày thường thì họ tập luyện đến khi trời tối. Dầu vậy, sau 70 năm tòa sơ thẩm ra lệnh cấm chơi tại đó. Tòa đã ra một án lệnh cấm chỉ có tính tạm thời (injunction), dựa trên yêu cầu của một người mới đến ở nhưng không thích môn này. Ông ta mới xây, hay nhờ xây, một căn nhà ngay bìa sân chơi mà 4 năm trước chỗ đó là một đồng cỏ cho bò. Mấy con bò thì không quan tâm gì đến môn khúc côn cầu, và khu đất cạnh sân đã biến thành khu dân cư. Người mới đến ở mua căn nhà ngay ngoài bìa. Chắc chắn chỗ đó bán được giá lắm. Bây giờ ông ta phàn nàn là mấy tay chơi kia khi đánh mạnh thì quả banh thường rơi sang nhà mình hay vào vườn. Vợ ông ta bực lắm và phải bỏ nhà đi nơi khác vào cuối tuần. Họ không ra sân khi người ta chơi khúc côn cầu vì không thể chịu đựng nổi… Và thẩm phán, dù trái ý mình, đã cảm thấy cần phải ra lệnh đình chỉ hoạt động của sân chơi kia với suy đoán Câu lạc bộ khúc côn cầu của làng Lintz sẽ biến mất. Sân chơi sẽ bị biến thành một nơi làm gì đó. Có thể là xây thêm nhà để làm xưởng. Thanh niên trong làng sẽ quay sang một trò chơi nào khác thay vì khúc côn cầu. Đời sống văn hóa của cả làng sẽ trở nên nghèo nàn hơn. Tất cả những điều ấy chỉ do bởi một người mới đến xây nhà gần sân chơi. Từ những gì nêu ra ở trên, ta phân biệt những sự kiện (fact) và sự suy đoán (supposition) trong vụ trên (cách lập luận của thẩm phán). Không đi vào TDPL mà chỉ phân biệt những sự kiện (cái xảy ra thật) và sự suy đoán (điều có thể xảy ra) ta có các sự kiện là: - Khúc côn cầu (cricket) là một thú vui của mọi người. - Làng Lintz, cũng có một sân mà dân làng đã từng chơi hơn 70 năm nay. Đoàn khúc côn cầu của làng chơi vào thứ bảy và chủ nhật để đua tài với làng bên. Những ngày thường thì họ tập luyện đến khi trời tối.
144 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ - Ông ta mới xây, hay nhờ xây, một căn nhà ngay bìa sân chơi mà 4 năm trước chỗ đó là một đồng cỏ cho bò. Mấy con bò thì không quan tâm gì đến môn khúc côn cầu và khu đất cạnh sân đã biến thành khu dân cư. Người mới đến ở mua căn nhà ngay ngoài bìa. - Banh thường rơi sang nhà mình hay vào vườn. - Vợ ông ta bực lắm và phải bỏ nhà đi nơi khác vào cuối tuần. Các sự suy đoán là: - Câu lạc bộ khúc côn cầu của làng Lintz sẽ biến mất. Sân chơi sẽ bị biến thành một nơi làm gì đó. Có thể là thêm nhà được xây để làm xưởng. Thanh niên trong làng sẽ quay sang một trò chơi nào khác thay vì khúc côn cầu. Đời sống văn hóa của cả làng sẽ trở nên nghèo nàn hơn. Đi xa hơn một tí, ta thấy qua điều trình bày của ông chánh án thì CHMC là: Lợi ích của nguyên đơn và của dân làng, cái nào có ưu thế? Vụ 7 Một vụ mua bán đất A muốn mua đất của B, giá bán là 400 triệu đồng. Hai bên giao hẹn với nhau như thế; nhưng để làm tin, A đưa B 90 triệu đồng B có làm biên nhận; B giao cho A sổ đỏ. Một năm sau A muốn hủy việc mua bán vì đất của B không có ao. B bảo đấy không phải là điều kiện của việc mua bán. A bèn thưa ra tòa xin lấy lại biên nhận và hủy hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất. Luật sư của B lúng túng không biết vụ tranh chấp có phải là về việc chuyển quyền sử dụng đất không vì giấy triệu tập của tòa ghi như thế. Phân biệt ra ta thấy, đây thực sự là việc mua bán đất; nhưng ngôn từ chính thức ở ta phải nói là chuyển quyền sử dụng đất. Vì từ ngữ dùng như thế nên luật sư của B hình dung ra việc chuyển quyền mà không nhìn ra việc giao đất! Nếu suy nghĩ là bán đất thì ta sẽ thấy ngay hai bên mới giao hẹn, và đưa tiền cùng sổ đỏ làm tin. Hai bên chưa ký hợp đồng việc tòa gọi là hợp đồng chuyển nhượng thì đó là gượng gạo. Nếu luật sư của B phân
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 145 biệt sâu hơn là: (i) đây là vụ mua bán đất, chưa ký hợp đồng; (ii) để cho việc mua bán thành hình thì bên mua phải trả đủ tiền; (iii) hai bên phải ra công chứng và (iv) bên mua đăng ký quyền sở hữu. Trong các việc trên thì hai bên mới làm bước đầu, coi như đặt cọc; như thế việc mua bán chưa thành. A có quyền hủy việc mua bán và đòi lại tiền. Thế nhưng A lại xin tòa tiêu hủy tờ biên nhận! Tờ biên nhận chẳng có giá trị gì so với 400 triệu đồng. Đáng lẽ A, xin hủy ý định mua bán, đòi lại tiền chứ không phải tờ biên nhận. Tờ này chỉ là bằng chứng cho việc hứa mua hứa bán. Thành ra bên A đã không phân biệt rõ ràng được giá trị của tiền bạc và tờ biên nhận. Trước khi tòa xử sẽ có hai lần hòa giải, chắc là hai bên sẽ bảo nhau: “Tôi trả anh tiền, anh trả tôi sổ đỏ.” Thí dụ này cho thấy tùy cách sử dụng từ ngữ khi TDPL (chuyển quyền sử dụng đất với mua bán đất) mình sẽ dễ dàng tìm ra vấn đề. Một điểm nữa là phân biệt giá trị giữa tờ biên nhận và đồng tiền. Cầm tiền trong tay thì hay hơn là cầm tờ biên nhận. Tiền thì mua kem được; biên nhận mua được cái gì? Khả năng phân biệt sự kiện của các bạn sẽ tăng dần khi làm nhiều vì nó là một chức năng tự nhiên của trí óc. III. Quá trình phân tích khi TDPL giống hình thù của một chiếc đồng hồ cát Bạn biết yêu cầu đòi hỏi khi nghiên cứu một vụ việc là phải làm toàn diện và đầy đủ. TDPL giúp bạn làm được việc này. Nhưng nó đi xa hơn yêu cầu đó vì TDPL bắt bạn phải tìm được câu hỏi pháp lý của vụ việc. Cách làm của nó như thế này, mô tả bằng hình ảnh. Bạn nhìn cái đồng hồ cát chụp hình ở bên: hai đầu to, ở giữa thót lại. Chỗ thót lại là CHMC. Một cách hình dung khác là hai hình tam giác cân đối đỉnh nhau, giống như chữ X. Chỗ hai đỉnh đối đầu nhau, điểm nằm ở giữa của chữ X, là CHMC. Đầu tiên, bạn sẽ thu thập mọi tình tiết của nội vụ (thế là toàn diện và đầy đủ), thí dụ 10 sự kiện. Cái phần trên của đồng hồ cát tiêu biểu cho việc này. Sau đó bạn phải loại bỏ dần các sự kiện đi để tìm ra các sự kiện quan trọng hay đáng lưu ý. Bạn sẽ có một vài cái. Bạn suy xét và chọn ra cái nào quan trọng nhất trong số kia. Nó sẽ là sự kiện mấu chốt (“SKMC”). Làm đến đó là
146 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ bạn đến chỗ giữa của chiếc đồng hồ. SKMC chỉ có một hay hai cái và nó sẽ tạo ra các CHMC. Xin gọi quá trình này là “đi từ 10 đến 1”. CHMC muốn được người nghe chấp nhận thì nó phải chắc chắn, không bị bác bỏ. Muốn vậy phải vặn vẹo nó. Bị vặn vẹo, CHMC sẽ làm nảy sinh các câu hỏi khác, gọi là các câu hỏi phụ thuộc (“CHPT”). Các câu hỏi này sẽ củng cố hay phá hủy CHMC. Khi vặn vẹo là bạn đi từ ở giữa đến đáy của chiếc đồng hồ cát. Từ 1 đến 10. Diễn giải theo hình tam giác giao đỉnh nhau thì nó cũng thế. Khi bạn đi từ 10 đến 1 rồi từ 1 đến 10 là bạn đã xem xét nội vụ một cách toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên TDPL không ngừng ở đó. Nó đi xa hơn. Nó đòi bạn phải tìm ra SKMC rồi CHMC để xác định vấn đề pháp lý (legal issue) của vụ tranh chấp. Trong những điều mà hai bên tranh chấp với nhau, cái gì là chính? Giải quyết được nó là sẽ giải quyết được các vấn đề khác. Việc bạn làm giống người ta đưa cho bạn một cuộn dây bị rối, bạn phải tìm nút nào rối nhất để gỡ cuộn dây. Gỡ từng nút một, nhưng nút đầu tiên là khó nhất. Phương pháp TDPL là như thế. Vì có vài sự thay đổi trong suy nghĩ bạn phải làm để có thể TDPL, nên tôi nói về các điều đó trong các mục kế tiếp. Mọi tình tiết nội vụ Các câu hỏi phụC H M C
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 147 IV. Bỏ cái cũ làm quen với cái mới A. Lối ta quen thuộc Bạn đã quen bắt đầu xem xét một vụ tranh chấp bằng cách: (i) nhìn vào quan hệ pháp luật, rồi (ii) địa vị pháp lý rồi (iii) chăm chú vào ngành luật điều chỉnh để giải quyết vấn đề. Bạn nặng về luật nhiều hơn là đi vào sự kiện, dẫu cho thân chủ đến trình bày cho bạn các tình tiết đã xảy ra. Chúng là các sự kiện, chứ không phải các điều luật. Vậy bạn phải phân tích sự kiện để áp nó vào luật. Tôi xin lấy một thí dụ. Bà A có con trai riêng là B. Bà lấy ông C. Hai người làm hôn thú và ông C nhận B là con. Bà A và con ở nhà của ông C, nhưng nhà này đã được ông C thế chấp để vay nợ cho công ty của mình. Sống chung một thời gian, bà A và ông C ra tòa xin ly hôn. Bà A xác nhận B là con riêng và xin giữ con. Đùng một cái, ông C chết. Bà A đi khai nhận căn nhà của ông C là di sản thừa kế để lại cho đứa con B. Công chứng từ chối dựa trên bản án ly hôn. Công ty đã vay tiền nhờ ông C thế chấp căn nhà của mình không trả được nợ và ngân hàng muốn phát mãi căn nhà của ông C mà bà A và B đang ở. Khi định làm như thế thì ngân hàng kẹt vì mẹ của B muốn nhận căn nhà cho con. Vậy ngân hàng phải làm gì? Theo cách bạn đã quen làm thì ở đây có hai mối quan hệ pháp luật: tín dụng và thừa kế. Và bạn tìm luật để đưa ra cách giải quyết. Bạn bị bối rối giữa hai quan hệ kia. Thực ra, nếu ta tưởng tượng hai quan hệ pháp luật kia giống như hai vòng tròn đặt cạnh nhau thì trong cái “vòng thừa kế” có bà A, ông C, và đứa con B. “Vòng tín dụng” có ngân hàng, công ty vay nợ, và mẹ con bà A. Bạn ơi! Hai cái vòng kia, tức là các quan hệ pháp luật, không có đụng chạm nhau; mà là những người trong mỗi vòng đó. Vậy là phải quên cái vòng đi sau khi nhờ nó mà xác định được tư cách của mỗi người. Cho nó đơn giản khi TDPL, ta gọi “quan hệ pháp luật” là một vụ việc. Một vụ vay nợ thì có chủ nợ và con nợ. Nghĩ như thế ta định ra được tư cách các bên liên quan trong vụ vay tiền. Ngân hàng là chủ nợ, mẹ con bà A đang ở trong căn nhà đã được thế chấp của một con nợ. Nói vắn tắt, theo hợp đồng vay nợ và thế chấp, ngân hàng có thể đuổi hai mẹ con bà A ra mà không cần xem xét người con B có được hưởng căn nhà củaC hay không. Lý lẽ là ông bố đã mất nhà thì con đâu có
148 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ quyền gì để giữ nữa. Rõ ràng, nhìn theo tư cách bạn thấy vấn đề ngay mà không bị lúng túng vì thừa kế với tín dụng. Xin kể một vụ khác. Báo chí có lần đăng vụ hai cô người mẫu bị loại kể chuyện của mình trên facebook; họ bị nhà tổ chức tố cáo là tiết lộ bí mật vì hợp đồng họ ký đã cấm. Họ sẽ bị thưa và phải đền 5 tỷ đồng. Trong một nhóm sinh viên luật năm thứ tư “chit chat” qua facebook, có một câu hỏi được đưa ra là “có đòi được 5 tỷ không?” để anh em trả lời. Có hai câu trả lời, mỗi câu đưa ra một cách. Cách thứ nhất được làm như sau: (i) xác định quan hệ dân sự hay thương mại; (ii) nhìn đến hợp đồng; (iii) các chi tiết của hợp đồng (chủ thể, nội dung, hình thức hợp đồng…) để xác định có tiết lộ bí mật hay không; (iv) nếu có thì phạt hay bồi thường. Cách thứ hai, bắt đầu bằng việc (i) xem xét có sự thiệt hại hay không; (ii) nếu có thì xác định vi phạm vào cái gì; (iii) xem hợp đồng và hiệu lực để xác định. Cả hai cách đều sẽ đưa ra câu trả lời. Khi TDPL bạn sẽ làm như sau: “Có đòi được 5 tỷ không?”. Đó là câu hỏi nêu vấn đề, hay Câu hỏi 1. Muốn đòi thì nhà tổ chức phải chứng minh hai cô kia đã vi phạm hợp đồng. Có thì mới đòi được, không thì thôi! Đó là sự hợp lý bình thường. TDPL không xem xét có sự thiệt hại hay không ngay, như cách thứ hai ở trên. Vì thiệt hại là một thực tế, phải có luật quy định về nó đã. Để trả lời Câu hỏi 1, trong TDPL bạn sẽ hỏi một câu khác là “Hai cô kia có vi phạm không?” (Câu hỏi 2). TDPL gọi Câu hỏi 1 là “câu hỏi pháp lý có tính kết luận” (legal issue). Cho gọn, sau này ta gọi nó là “câu hỏi kết luận” (CHKL); vì trả lời được nó là xong nội vụ. Câu hỏi 2 là “câu hỏi pháp lý tìm tòi mấu chốt” (key issue), hay sau này sẽ gọi là “câu hỏi mấu chốt” (CHMC). Nó là tìm tòi vì sẽ bắt bạn phải đặt các câu hỏi khác (Câu hỏi 3). Các Câu hỏi 3 sẽ là: vi phạm cái gì – vi phạm thế nào – hợp đồng có cấm không… Hỏi xong ta có câu trả lời. Các Câu hỏi 3 được gọi là “câu hỏi phụ thuộc” (CHPT). Tên của các loại câu hỏi do tôi đặt ra để dễ phân biệt Trong TDPL, người ta đi tìm giải pháp bằng cách nêu các câu hỏi và để trả lời người ta sẽ nêu các câu hỏi khác! Hỏi là để đi tìm một cái gì đó chung nhất (một câu trả lời được chấp nhận, một sự việc đã xảy ra được nhìn nhận…) để đưa ra giải pháp. Trong một vụ án mà tòa dưới đã xử, tòa trên xử khác, nhưng sơ thẩm xử lại cũng lại khác thì có nghĩa các cấp đó không
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 149 tìm ra vấn đề pháp lý (legal issue) của nội vụ để thuyết phục nhau. Mà không tìm ra được vấn đề pháp lý, là vì không đi tìm CHMC và để nó đứng vững trước các sự bắt bẻ khác nhau. Để đặt các câu hỏi pháp lý, bạn phải có kiến thức các loại chứ không phải chỉ có luật, phải có óc lôgích và biết phân tích sự việc. Nêu các câu hỏi mới khó, vì nó gây tranh cãi. Còn quyết định biện pháp thì dễ hơn vì nó dựa trên luật để buộc thực hiện, hoặc trên tình cảm, nhờ đó được tha thứ. Bạn đã biết luật dạy cho luật sư lấy quyền lợi của mỗi cá nhân làm gốc (ai có quyền, lúc nào phát sinh…) và bạn sẽ áp dụng luật như thế để TDPL. Tôi xin giải thích sâu về việc này. B. Lối đi mới Hình vẽ ở dưới mô tả chiều hướng suy nghĩ mà sinh viên luật quen dùng so với cách của TDPL. Trong vụ người mẫu đã nêu ở trên, trong cả hai cách, họ đã suy nghĩ theo hướng A, lên B, lên C và dễ bị lúng túng trong B vàC. Lối đã quen! TDPL buộc bạn đi lối mới. Bạn sẽ đi từ A, lên B nhưng xuống D ngay (bỏC). Nghĩa là sau khi nghe/đọc, bạn cũng nghĩ tới quan hệ pháp luật; từ đó bạn xác định được tư cách thì suy nghĩ về tư cách của các bên chứ không “đắm mình” trong quan hệ pháp luật nữa. Trong vụ căn nhà thế chấp bị ngân hàng đòi mà nhìn theo lối bạn đã quen thì có hai quan hệ là thừa kế và tín dụng. Tuy nhiên bạn thấy hai quan hệ đó không tranh chấp với nhau (và chẳng bao giờ cả); hay hai cái vòng tròn kia chẳng đụng độ nhau; mà là những nhân vật ở trong mỗi quan hệ đó. Nhận ra như vậy, thì đó là sự thay đổi lớn nhất và quan trọng trong sự suy nghĩ khi bạn làm luật sư bây giờ. Ngày xưa, khi viết luật cho người mua và người bán áp dụng, bạn phải tôn trọng quan hệ pháp luật liên quan; nếu không thì hai người kia mất căn tính (identity). Làm luật sư thì nó khác bạn phải chăm chú vào tư cách!1 1 Là luật sư bạn cũng “viết luật cho người khác áp dụng” tức là làm hợp đồng. Nhưng khi ấy bạn đứng về một bên, viết sao có lợi cho họ, dựa vào luật về hợp đồng đã có sẵn và không được vi phạm. Nó khác với việc viết văn bản quy phạm pháp luật.
150 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Giả sử bạn có một vụ mua bán hàng hóa và một bên vi phạm hợp đồng. Cách ta suy nghĩ sẽ như thế này: - Nghe tình tiết; - Xác định quan hệ pháp luật: một vụ mua bán; - Xác định tư cách: có hai người là người mua – người bán. - Bạn ở bên nào? Người bán hay người mua? Tư cách mỗi người ấn định quyền lợi của họ; mà quyền lợi của người này là nghĩa vụ của người kia. Vì có quyền lợi nên nó mới bị vi phạm, có người vi phạm và tranh chấp xảy ra. Trong hình vẽ, bạn đi từ A đến B rồi xuống D. Xác định bên bạn đứng thì tự nhiên bạn liên tưởng đến bên đối phương. Biết quyền lợi của thân chủ mình; bạn sẽ thấy nghĩa vụ bên kia. Và bên kia có vi phạm không. Nếu thân chủ của bạn là người bán mà chưa được trả tiền hàng, thì người mua còn nợ họ. Nợ tiền là một sự kiện cụ thể. Nghĩ đến nó, bạn phải liên tưởng đến ngày thanh toán, dương lịch hay âm lịch, cách thanh toán, D/P hay L/C hay T/T. Đó là những thứ về kiến thức. Hợp đồng mua bán – Vi phạm trả tiền hàng Bắt đầu suy nghĩ Đi vào phân tích Ngành luật điều chỉnh (C) Quan hệ pháp luật (B) Tình tiết thân chủ kể (A) Đối phương Tư cách (D) Cách làm bây giờ Cách làm trước kia
Đường dẫn vào tư duy pháp lý 151 Khi xem tư cách, bạn cũng phải nhớ đến luật điều chỉnh nó. Nó có thể nằm trong hợp đồng hai bên đã ký, hay nằm trong luật chung về hợp đồng mua bán của luật thương mại. Xin nhớ, khi tranh chấp, người ta cãi nhau về quyền lợi bị thiệt hại (thí dụ, vay tiền không trả, hàng nhận không đúng chất lượng…) nên ta sẽ phải khởi đi từ tư cách. Bạn không đi vào địa vị pháp lý hay quanh quẩn ở quan hệ pháp luật. Các quan hệ pháp luật không đụng độ nhau, ta đã biết. Địa vị pháp lý là một bản liệt kê quyền lợi và nghĩa vụ mà luật pháp ấn định cho một ai đó. Nó không giúp bạn liên tưởng đến đối phương và do vậy bạn không biết một quyền lợi nhất định nào của thân chủ mình bị vi phạm. Người đến nhờ bạn đòi tiền hộ là chủ nợ. Vậy ai là người vay? Người đến nhờ bạn nói hàng nhận về không đạt chất lượng; họ là người mua hàng. Vậy người bán hàng là ai? Từ người này ta tìm thấy người kia qua quan hệ pháp luật được quy định trong hợp đồng vay tiền hay hợp đồng mua bán. Vay tiền thì có con nợ – chủ nợ; mua bán thì có người bán – người mua. Bạn xoáy vào từng người. Vậy là bạn đã nghĩ theo tư cách. Chỉ qua tư cách ta xác định được quyền lợi và trách nhiệm của một người trong mối tương quan với người bên kia. Một khi đã hình dung trong đầu mình như thế, ta sẽ đi tìm xem trong bản hợp đồng việc trả nợ hay phẩm chất món hàng được quy định thế nào. Tư cách dẫn ta đến quyền lợi, quyền lợi bị vi phạm tạo ra tranh chấp. Đấy là bước khởi đầu của quá trình TDPL sau khi bạn đã “bỏ cái đã quen, làm theo cái mới”. Mục đích cuối cùng của TDPL là tìm ra giải pháp cho một vụ tranh chấp. Muốn tìm ra giải pháp người ta phải đi tìm những vấn đề pháp lý (legal issue) của vụ tranh chấp. Cách tìm là đặt ra các câu hỏi pháp lý. Để phù hợp mục đích của chúng ta và hoàn cảnh tư pháp của nước mình, tôi phân ra ba loại câu hỏi pháp lý khác nhau; dù tất cả chỉ là câu hỏi pháp lý. Ấy là câu hỏi kết luận (CHKL), câu hỏi mấu chốt (CHMC) và các câu hỏi phụ thuộc CHPT).1 Ý nghĩa, mục đích và sự xuất hiện của các câu hỏi sẽ được trình bày trong chương kế tiếp. 1 Ở trường luật ở Mỹ, người ta chỉ nói “legal issue” không phân chia ra các loại CHPL như tôi làm ở đây. Tôi rút kinh nghiệm “bơi đến ngộp thở” nên chia nó ra nhiều loại để dễ áp dụng TDPL.
152 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ