phần vào đó. Bạn đã biết cách suy nghĩ 10 – 1 – 10 khi nói về cái đồng hồ cát. Vậy khi đi từ bước 2 đến bước 6 là bạn đi từ đầu đến chỗ thắt nằm ở giữa của chiếc đồng hồ. Khi đi từ bước 6 đến 7, bạn đi từ điểm giữa xuống đáy đồng hồ. Các CHPT nằm ở phần này. Đối với các CHPT bạn tha hồ đặt câu hỏi, nhưng đừng đặt “câu hỏi ngoài rìa” để củng cố hay thay thế CHMC. Nếu một CHPT nào đó làm cho CHMC bị thay thế thì nó trở thành CHMC. Khi TDPL trong các vụ dân sự và hình sự thì các yếu tố để xem xét trong
160 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ mỗi loại vụ khác nhau, nhưng để đi đến kết luận rằng tội phạm có xảy ra không, có phạm tội không (vụ hình), hay ai phải, ai trái (vụ hộ) thì các bước đi của tư duy, sự chọn lựa các câu hỏi về sự kiện và về pháp lý không khác nhau lắm. Cả hai đều đi theo quá trình 10– 1– 10. Trong một vụ hình sự, đi tìm câu hỏi mấu chốt là tìm xem một hành vi hay một sự kiện nào đó – ghi trong luật – có hiện diện trong nội vụ hay không. Còn trong một vụ dân sự là tìm ra một sự kiện mấu chốt sẽ gỡ các nút bị rối trong vụ tranh chấp. Có điều sự kiện ấy không ghi trong luật mà phải phân tích sự kiện để áp nó vào luật. B. Giai đoạn 2: Củng cố lập luận bằng chứng cứ và điều luật nhất định Trong Giai đoạn 1, bạn đã đặt CHPL các loại. Khi đã trả lời được chúng, bạn có giải pháp cho vụ việc. Giải pháp là điều mà bạn sẽ trình bày cho các bên có liên quan, mà trước hết là thân chủ của mình. Muốn giải pháp được chấp nhận, bạn phải chứng minh. Và chính lúc này đây bạn cần đến: (i) các chứng cứ và (ii) xác định điều luật nhất định điều chỉnh CHMC vì điều luật đó cho ta giải pháp. Về chứng cứ, tôi xin lưu ý bạn. Đối với thẩm phán, khi nghiên cứu một vụ án, bước đầu tiên là thu thập chứng cứ. Họ phải làm việc ấy ngay; vì hai bên tranh chấp đã nộp chứng cứ cho họ rồi. Và họ phải đi tìm tiếp cho đến khi họ thấy đủ. Khi nghiên cứu một vụ án, bạn cũng đã được dạy ở trường là “thu thập chứng cứ” ngay! Làm như thế không đúng vì luật sư không phải là thẩm phán! Luật sư – là bạn – nghe thân chủ kể lể trước. Bằng chứng họ có nhiều lắm là một vài tờ giấy (biên nhận, hợp đồng …). Bạn không thể bảo họ đưa ngay cho bạn đọc để tìm… chứng cứ! Trái lại, bạn phải TDPL đã, qua bảy bước bạn mới tìm ra giải pháp cho vấn đề, tức là tìm ra các CHPL cho CHKL. Vậy bạn phải TDPL vụ việc trước. Khi đã có câu trả lời thì mới nhìn đến các chứng cứ và đi thu thập. Thí dụ sau cho thấy thứ tự đó: A dựng xe ngoài cửa, đi tìm B, chửi bới, hai bên cãi nhau rồi đánh nhau, B cầm cây, A lấy dao đâm B năm nhát. Mẹ của A đến tìm bạn và kể như thế. Vậy bạn phải xem xét toàn vụ để tìm CHKL (A có phạm tội hay không); sau đó đi tìm CHMC (A có cầm dao đâm B hay không?) rồi tìm CHPT (dao loại gì, sắc, cùn…). Bạn thấy mình xem xét “việc đâm người” trước; tức là A có đâm B không.
Cách tư duy pháp lý 161 Sau khi xác định được A đã đâm, tức là có tội; rồi củng cố nó bằng các CHPT. Bạn đã chắc chắn và bạn sẽ tìm con dao. Đó là chứng cứ. Con dao là một vật dụng chứng minh tội của A. Phải có con dao thì mới kết tội A được. Nếu không có thì chịu, vì làm sao chứng minh được A đã đâm B để thưa ra tòa. Tuy nhiên bạn thấy: luật sư xét sự kiện trước (TDPL), tìm bằng chứng sau. Nhận định có thể không đúng lắm trong các vụ hình sự; nhưng trong các vụ dân sự hay thương mại thì nên làm như thế để khỏi uổng công. Thực ra trong Bước 3 của Giai đoạn 1 (xem xét toàn bộ sự việc) thì ít nhiều bạn đã nghĩ đến các chứng cứ rồi. Thí dụ khi nói “hai bên ký hợp đồng mua bán nhà” thì miệng nói nhưng đầu óc bạn có nghĩ đến bản hợp đồng. Vậy là bạn có “nghĩ đến” chứng cứ, nhưng không xem xét nó một cách tỉ mỉ. Việc làm này giống như khi doanh nhân tính toán. Sau khi nghĩ nên nhập một loại hàng hóa nào đó; họ tính mão, tức là ước tính số chi, số thu, để ước đoán xem có lời hay không; họ không đi vào chi tiết, chi món gì, thu từ đâu. Chỉ sau khi tính ra thấy lời họ mới quyết định nhập. Tương tự, chỉ sau khi có câu trả lời cho CHMC, CHPT thì bạn đi tìm rồi xác định chứng cứ. Khi đã có chứng cứ, bạn tra cứu luật điều chỉnh CHMC hoặc CHPT (tùy trường hợp). Trong Bước 1 của Giai đoạn 1 bạn đã nghĩ đến luật điều chỉnh, nhưng chỉ mang máng; thí dụ, bạn nghĩ đến luật hình sự, gây thương tích. Khi phân tích các CHKL, CHMC và CHPT, bạn chỉ tìm xem nghi can (là thân chủ của mình) có phạm tội không đã. Nếu câu trả lời là có và đã có chứng cứ thì bây giờ mới phải xác định đó là tội gì, theo điều mấy, khoản mấy. Chỉ ở Giai đoạn II này ta mới chú ý một cách tỉ mỉ tới luật. Để ý vào các điều khoản tỉ mỉ của luật ngay, bạn sẽ bị lôi kéo vào tiểu tiết trong khi cần phải nhìn đại cuộc (SKMC, CHMC) để thấy chiều hướng giải quyết. C. Giai đoạn 3: Trả lời cho khách hàng Khi đã trả lời được CHKL và đã củng cố các lập luận cùng giải pháp bằng các chứng cứ, và điều luật nhất định, bạn đưa ra đề nghị cho thân chủ. Sở dĩ chỉ là đề nghị thôi vì khách hàng có thể bác bỏ nó. Trình bày cho khách (hay cho những người khác) thì phải nói sao cho họ hiểu. Vì thế, bạn sẽ dùng các từ ngữ, câu cú thường dùng hằng ngày. Không nói”gọn, rõ” như lúc nghĩ nữa, vì khách hàng sẽ khó hiểu. Khi ấy, bạn chỉ nói kết luận của mình và cơ sở hay lý lẽ đã dựa vào để đưa ra kết luận ấy.
162 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Không nêu cách mình phân tích trong quá trình TDPL. Nhớ phân biệt khi nghĩ trong đầu mình để tìm cho ra vấn đề và lúc nói cho khách hàng hiểu. Giải đáp được CHKL chỉ là giải quyết về