phần vốn góp của Hải vào Công ty phải là 1 tỷ 500 triệu đồng.
Một số vụ khác để mở rộng 213 Vì Hải đã cam kết góp vốn 1,5 tỷ đồng nên trách nhiệm của Hải đã xác lập đối với các chủ nợ của Công ty sẽ là số tiền ấy, chứ không phải 500 triệu. Do vậy, nếu Công ty bị vỡ nợ, phá sản thì Hải phải góp thêm cho đủ dù biết là sẽ mất vì bị trả nợ. Dù Hải mới góp 500 triệu đồng nhưng các thành viên khác đã thỏa thuận là khi nào Công ty cần vốn thì Hải mới phải góp đủ. Sự kiện cho thấy Công ty cũng chưa có yêu cầu bằng văn bản buộc Hải phải góp đầy đủ số vốn này. Do vậy, chưa có cơ sở để cho rằng Hải không thực hiện đúng trách nhiệm góp vốn của mình. Việc đã góp bao nhiêu vốn trên thực tế không phải là cơ sở để ấn định tỷ lệ góp vốn; chính Điều lệ Công ty mới ấn định điều đó. Hải được nhận theo tỷ lệ của số vốn là 1,5 tỷ đồng. Để giải quyết các bên định lại số vốn đã góp trên thực tế theo các quy định của pháp luật nêu trong các câu trả lời. Số tiền không là 5 tỷ đồng mà là 4,3 tỷ. Thành góp 1,3 tỷ, được chia 30,2%; Dương góp 800 triệu, được chia 18,8%; Trung 700 triệu được 16,2% và Hải góp 1,5 tỷ, được chia 34,8%. Vụ 18 Thuế của chủ tịch hội đồng quản trị Vụ này là một vụ tư vấn. Ở đây bạn không phải đi tìm một câu hỏi pháp lý nào mà chỉ phân tích một số vấn đề để trả lời cho thân chủ. Bài này chỉ bạn cách phân tích. A. Trình bày Bạn làm luật sư cho một công ty trách nhiệm hữu hạn và làm việc trực tiếp với ông giám đốc. Một hôm ông này hỏi ý bạn là nên làm gì khi ông ta được ông chủ tịch hội đồng thành viên yêu cầu làm một văn bản cho ông chủ tịch nhận được tiền hằng tháng vì ông ta phải đi gặp cơ quan, đối tác… để cho công ty xin được dự án. B. Cách làm Bạn biết, theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng và các thành viên chỉ được nhận thù lao họp hành; lương trả cho họ chỉ được công nhận khi có liên quan đến kinh doanh. Vậy trong phạm vi các quy định như thế ông giám đốc nên làm gì để không gặp khó khăn cho mình sau này? Khi
214 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ ông ta hỏi bạn là vì muốn như thế. Vậy bạn phải tìm xem vấn đề chính mà ông giám đốc phải đối phó là gì? Ký văn bản, trình hội đồng thành viên; sự chấp nhận hay phản đối của người nọ người kia trong hội đồng, hay sự sốt ruột của ông chủ tịch… Đấy là tài phân tích của bạn. Và bạn sẽ phân tích như thế này. 1. Số tiền mà ông chủ tịch sẽ nhận là tiền thuế. Bạn biết trong kế toán doanh nghiệp, khoản tiền trả cho ông chủ tịch, nếu được thuế chấp nhận là chi phí thì nó trở thành chi phí chung của công ty và được trừ vào doanh thu của công ty khi đóng thuế; nếu không được chấp nhận thì nó sẽ nằm ở ngoài chi phí, trong một khoản tạm ứng nào đó, và cuối cùng sẽ được tính vào lợi tức sau thuế của công ty mà sẽ được chia cho các thành viên, gọi là cổ tức, và cổ tức chia cho các thành viên sẽ bị hụt một chút. Vậy phải chọn cách tính số tiền trả cho ông chủ tịch vào đâu. Chi phí chung của công ty, hay lợi nhuận sau thuế của công ty. 2. Tác động của số tiền đó đối với các thành viên khác trong công ty khi nó được tính và lợi nhuận sau thuế. Các thành viên khác chọn cách nào; vì nếu là lợi nhuận sau thuế thì họ sẽ bị thiệt. Sau khi phân tích như vậy bạn sẽ bàn với ông giám đốc: (i) cách tính số tiền kia trong sổ sách kế toán; (ii) khi đã có sự chọn lựa rồi thì yêu cầu hội đồng thành viên ra quyết nghị giao việc cho ông chủ tịch làm với tư cách cá nhân và ấn định số tiền trả cho ông ta; (iii) ông ấy (giám đốc) ký lệnh công tác cho ông chủ tịch. Có lệnh công tác, công ty sẽ xuất tiền cho ông chủ tịch; có quyết nghị của hội đồng thành viên sau này cổ tức của họ bị thấp thì không thể đổ tội cho giám đốc. Thân chủ của bạn an toàn. Bạn thấy đấy. Bạn phải nhìn khác với ông giám đốc; ông ta hỏi về thủ tục, bạn phải nhìn ra tiền và các hệ lụy của nó. Như đã đề cập, đây là một vụ tư vấn. Vụ 19 Trả tiền đặt cọc Vụ này không phải là một vụ tranh chấp; mục đích của nó cũng là chỉ bạn cách phân tích.
Một số vụ khác để mở rộng 215 Trình bày và cách làm Một khách hàng đến nói chuyện với bạn, rằng họ là người thuê nhà bị chủ nhà giật tiền đặt cọc. Thoạt nghe vậy bạn phải nghĩ đến sự kiện (thực tại) là việc thuê nhà nói chung, chưa cần nhớ đến một luật nhất định ngay. Vì nhớ luật, mà lại thuộc làu làu nữa, bạn có thể hỏi hợp đồng thuê có công chứng không là… xệ lắm! Bạn biết khách của mình là người thuê nhà. Vậy là đã xác định được tư cách của họ và họ có các nghĩa vụ của người thuê nhà. Xác định xong, bạn phải biết (kiến thức chung) tiền đặt cọc có hai mục đích chính, một là sợ người thuê không chịu trả tiền nhà, hay sợ họ làm hư hỏng nhà mà không chịu sửa. LDS về hợp đồng thuê tài sản không quy định khoản đặt cọc này mà xếp nó vào biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bạn thấy luật và thực tế cách xa nhau đến thế đấy! Khi đã biết mục đích của đặt cọc thì lúc nghe thân chủ, bạn tập trung vào hai điểm vừa kể, coi đó là các yếu tố chính và đặt chúng trong toàn bộ của việc thuê nhà. Nếu thân chủ không đề cập đến việc sửa chữa, thiếu tiền nhà thì bạn hỏi họ về các điều ấy và nối kết chúng với các tình tiết khác để xem chủ nhà không trả lại tiền là đúng hay sai, theo lẽ thông thường. Đó là sự am tường của bạn về vấn đề. Suy nghĩ như thế bạn đã tách lý do của việc đặt cọc ra khỏi các tình tiết khác. Vậy là đã phân biệt trong đầu mình những tình tiết chính và phụ của việc thuê nhà. Từ đó bạn có những điểm rõ – chưa rõ, sáng – tối v.v… Bây giờ bạn hỏi thân chủ về những điểm nào chưa rõ. Thân chủ sẽ kể cho bạn nghe nội vụ. Nhưng bạn phải nhớ rằng khi kể, thân chủ không tập trung vào những điều bạn đang thắc mắc; vì không phải ai cũng có khả năng trình bày được suy nghĩ của mình. Khi đã mường tượng ra nội vụ theo thân chủ kể và sắp xếp nó lại theo các việc chính hay phụ trong đầu mình, bạn có thể kết luận bước đầu là thân chủ của bạn đòi tiền lại được hay không. Tuy nhiên, để xác định, bạn bảo thân chủ đưa cho xem tờ hợp đồng. Bạn không cần đọc nó từ đầu đến cuối mà đi tìm các điểm có ảnh hưởng, có liên quan đến việc trả tiền, đòi tiền cọc (thí dụ, trả tiền thuê nhà chậm, sửa chữa nhà, chấm dứt hợp đồng).
216 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Bạn đối chiếu những điều thân chủ kể với các điểm ấy để biết thân chủ mình làm đúng hay sai. Sau đó mới kết luận theo hợp đồng họ đòi được hay không. Bạn nói cho thân chủ biết. Sau khi họ đã có vẻ nghe bạn rồi thì bạn mới xem đến các điều kiện về hình thức của tờ hợp đồng, thân chủ của bạn, bên kia, công chứng cùng các điều kiện về hình thức khác. Vụ 20 Trả lãi theo loại tiền nào? Đây cũng là một vụ giúp bạn phân biệt: tiền lãi và lãi suất và cách tiếp cận vấn đề. Bạn không ở bên nào. A. Trình bày A bán nhà cho B, hẹn sẽ giao trong ba tháng, quá hạn sẽ bị phạt kể từ ngày đáng lẽ phải giao cho đến ngày giao thực sự. Hai bên đã đồng ý ghi giá bán căn nhà bằng USD, nhưng khi trả tiền bán thì quy đổi sang VND theo hối suất ngày thanh toán do Ngân hàng Nhà nước công bố. A giao nhà trễ và bị phạt trả tiền lãi vì giao trễ dựa trên số tiền Bên B đã trả (đã trả hết 95% giá bán). Bây giờ, để trả tiền lãi, A muốn trả theo lãi suất tiền USD; B đòi trả theo tiền VND. Lãi suất của USD là 4% một năm, VND là 11,5%. Do mức chênh lệch này mà hai bên tranh chấp về lãi suất. B. Cách làm Vụ này đơn giản chỉ có một câu hỏi pháp lý. (B6) CHMC: Lãi suất nào được áp dụng cho việc trả tiền phạt? Khi được hỏi ý kiến về việc này thì nhiều bạn hay nghĩ đến quy định về ngoại hối, về USD. Ấy là áp luật vào sự kiện. Làm vậy không được. Bạn phải làm ngược lại và phân tích theo ngọn nguồn. Câu hỏi mấu chốt là lãi suất nào (USD hay VND) sẽ được áp dụng; chứ không phải “ngoại tệ phải chuyển trả để nghĩ đến quy định về ngoại hối”. Sự phân tích sẽ như sau và nó tạo nên CHPT. (B7) CHPT: Ở đây phải phân biệt ba vấn đề: 1. Tiền gốc, hay gốc của đồng tiền mà hai bên đã chọn là gì? Thưa, ghi giá bán nhà bằng USD nhưng trả bằng VND. Ta phân biệt giá bán
Một số vụ khác để mở rộng 217 là USD, tiền thanh toán là VND. Hai bên dùng USD là để tránh biến động lớn về giá cả. Và khi trả tiền như thế thì số tiền VND được giao trả sẽ thay đổi mỗi lần do hối suất thay đổi. Ta biết – theo kiến thức chung – lãi phát sinh từ tiền gốc; không có gốc thì không thể nói đến lãi; 2. Tiền lãi, tức là một số tiền phát sinh từ tiền gốc; và 3. Lãi suất phải trả, tức là 4% hay 11,5%. Bạn phải nhận ra cho rõ: lãi suất (3) không định được nếu không có (2); rồi (2) không thể có nếu không có (1). Cho nên khi nghe hai người kia cãi nhau về (3) thì luật sư phải nghĩ tới (2) và (1). Như thế mới giúp họ được (bất kể đứng ở phía người bán hay mua). Ở đây, tiền gốc tính ra để trả là USD. Vậy tiền lãi phải trả sẽ theo USD là 4%. Rõ ràng quy định về ngoại hối không liên quan gì đến vụ này. Nó chỉ quy định, việc thanh toán phải qua ngân hàng, và người nhận phải được phép nhận USD. Vụ 21 Truy thu thuế Vụ này cũng để phân tích. Bạn là luật sư của công ty Mỹ. A. Trình bày KIH là một công ty đầu tư của Mỹ mua chứng khoán ở Việt Nam; do vậy họ chuyển tiền vào Việt Nam. Đầu năm 2007, KIH gửi tiền ở ngân hàng A trong một năm. Đầu năm 2008 họ được trả lãi là 11.600 USD. Theo luật thuế thu nhập, KIH phải trả 10% thuế trên số tiền lãi kia là 1.160 USD. Vì ngân hàng trả lãi, nên họ phải khấu lưu số tiền ấy để nộp cho cơ quan thuế. Tuy nhiên ngân hàng quên làm! Tháng 6 năm 2009, cơ quan thuế quyết toán sổ sách ngân hàng và phát hiện ra việc kia. Ngân hàng bị phạt và bị buộc phải trả số tiền thuế thu nhập; họ gửi thư đòi KIH. Người sau trả lời rằng là số tiền kia đã được nhập sổ sách kế toán của công ty họ ở Mỹ năm 2008 và đã kiểm toán xong; nay lấy số tiền ấy ra phải sửa sổ sách và kiểm toán lại. Phí kiểm toán là 2.000 USD; nếu ngân hàng chịu trả phí đó thì KIH sẽ trả số tiền 1.160 USD kia. Là luật sư của KIH, bạn khuyên họ cái gì? Trả hay không trả. Lập luận như thế nào?
218 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ B. Cách làm Ta tách hai phần: tiền thuế đánh trên lãi và tiền phạt. Cái sau ngân hàng phải trả vì lỗi của họ. Còn ngân hàng không hưởng tiền lãi thì không phải đóng thuế. Vậy KIH phải trả thuế thu nhập 1.160 USD. Vấn đề bây giờ là họ lấy tiền kia ở đâu? Họ bảo nếu lấy vào tiền của năm 2008 thì phải sửa lại sổ sách và kiểm toán lại. Thế thì lấy tiền của năm 2009 để trả được không? Ở đây có câu hỏi pháp lý là: lấy tiền (doanh thu) của năm 2009 để trả tiền thuế của lãi năm 2007 được không? Ta lập luận, năm 2008 KIH nhận dư một số tiền là 1.160 USD. Đó là tiền thuế đáng lẽ phải trả cho năm 2007, nhưng họ đã không trả do lỗi làm của ngân hàng. Vậy năm nay là 2009, KIH có thể lấy tiền của năm nay trả cho số tiền nhận dư năm 2008 được không? Câu hỏi này liên quan đến: (i) sự hợp lý hay cái lý của cuộc đời và (ii) việc ghi sổ sách kế toán của một công ty. Lý lẽ cuộc đời (dựa trên kiến thức của bạn) là không có gì cấm một người lấy tiền năm 2009 để trả lại cho một số tiền đã nhận (hay vay) năm 2008. Lý lẽ rằng sổ sách năm 2008 đã khóa rồi nên không thể lấy tiền của năm đó để trả cho năm 2007 được nữa. Điều ấy không thuyết phục vì như thế là anh ăn quỵt số tiền kia ư. Đấy là cái lý của cuộc đời. Ta xong vế (i). Còn về sổ sách kế toán. Theo nguyên tắc kế toán, mỗi một khoản chi hay thu phải có chứng từ (giải thích tại sao chi; để người chủ biết có chi đúng tiền không; nếu không thì người ra lệnh xuất tiền phải đền). Kế toán sẽ xuất một phiếu chi 1.160 USD năm 2009, với lý do là trả tiền lãi ngân hàng nhận dư năm 2008, tài khoản… Giám đốc ký, thủ quỹ xuất tiền. Khoản chi kia hợp lệ theo nguyên tắc kế toán. Ông chủ công ty – đã có nhận 1.160 USD dư năm 2008 – có thể phản đối khi phải trả lại số tiền đó vào năm 2009 không? Thưa không. Tại sao ông lại bảo phải lấy số tiền đó từ năm 2008 khi mà đã khóa sổ? Không cần. Ông có thể lấy tiền của 2009 để trả, mà sổ sách thì chưa đóng. Việc đòi ngân hàng bồi hoàn chi phí kiểm toán chỉ là… bắt nạt. Suy nghĩ như thế là đúng, lập luận vững chắc, đủ sức thuyết phục thân chủ. Bạn chỉ ôn tồn trình bày cho thân chủ nghe hay viết thư cho họ, nói đại ý rằng:”Số tiền 1.160 USD là tiền thuế đánh trên tiền lãi ông đã nhận và ông phải trả theo luật Việt Nam. Nếu lấy tiền của năm 2008 khó vì đã khóa
Một số vụ khác để mở rộng 219 sổ, thì ông lấy tiền của năm 2009 vì có chứng từ là ngân hàng yêu cầu ông trả“. Trong vụ này bạn cần có kiến thức chung và kiến thức về kế toán. Vụ 22 Sở hữu chung hay riêng? Bài này chỉ cách cho bạn phân tích vấn đề. Bạn là luật sư của chủ đầu tư. A. Trình bày Công ty ABC xây chung cư cao cấp và bán cho người mua nhà. Dưới hầm chung cư có chỗ để xe hơi, xe đạp; tại mỗi tầng có một khu vực rộng để các gia đình hội họp khi cần (cả hai được gọi là khu vực chung). Hợp đồng bán nhà ghi diện tích căn nhà, sơ đồ, giá bán và nói rằng chủ nhà có quyền sử dụng khu vực chung; điều kiện sử dụng không được đề cập. Khi ở, các chủ nhà để xe thì bị công ty đòi tiền. Hai bên cãi nhau và đặt câu hỏi khu để xe là sở hữu chung hay riêng; hiểu theo nghĩa khu đó thuộc về các chủ nhà ở trong chung cư hay thuộc về công ty. Bạn là luật sư của công ty. B. Cách làm Khi nêu quyền sở hữu như thế thì hai bên cãi nhau dựa trên ngôn từ, về một vấn đề thấy ngay trước mắt. Đúng, quyền sở hữu là vấn đề pháp lý. Nhưng khi phân tích ra, ta thấy bàn về quyền đó ngay là bàn về một cái gì vô hình, giống như hỏi “thiên đàng là của ai?” Luật sư không nên nhảy bổ vào đó mà phải đi vào bản chất vấn đề. Vậy là phải phân tích. Tôi đề nghị ta lần lượt đặt các câu hỏi (B6 và B7): • Quyền sở hữu đối với cái gì? Khi hỏi, ta bỏ đi tĩnh từ “chung” hay “riêng” vì chưa cần đến và cũng để cho vấn đề chính được nổi bật lên. “Chung” hay “riêng” chỉ là một tĩnh từ của “quyền sở hữu” và người ta có thể thay thế nó bằng các tĩnh từ khác, thí dụ của “bố tôi” để thành “quyền sở hữu của bố tôi”. Vậy ta hỏi “quyền sở hữu đối với cái gì?” và câu trả lời là “khu nhà để xe”. • Khu đó từ đâu mà có? Câu hỏi này xuất phát theo một tuần tự hợp lý giống như khi bạn nghe nói về một ai đó thì tự nhiên sẽ hỏi “ai nhỉ, tên gì?”. Vậy câu trả lời là “người ta đã xây nó.”
220 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ • Ai bỏ tiền xây? Ta không hỏi ai xây; vì người xây có khi chỉ là người được thuê làm, ai bỏ tiền thuê xây mới là chủ. Người bỏ tiền trong vụ này chỉ có thể hoặc là công ty ABC hoặc các gia chủ, một trong hai. Vậy ta phải đi tìm ai đã bỏ tiền xây. Đến đây, bạn có thể yêu cầu công ty chứng minh là họ đã bỏ tiền. Tuy nhiên, là luật sư của họ thì đừng dại như thế. Đòi công ty làm thì rất khó vì làm nhà để xe phải mất gạch, cát, sắt, xi măng; mà khi mua chúng, công ty đã mua hàng tấn để làm chung cả khu nhà, chứ có mua riêng lẻ để làm khu để xe đâu? Trong một bài báo bàn về việc này, tôi thấy có người đề nghị nhờ kiểm toán tìm! Nếu kiểm toán đi tìm, kế toán của công ty sẽ đưa các hóa đơn trả tiền mua cát lên hàng trăm triệu, biết bao nhiêu tiền là của nhà để xe? Do vậy để cho dễ và cũng chính xác, ta sẽ đi tìm ở người mua nhà. Vậy câu hỏi sẽ là trong hợp đồng bán nhà, trong giá tiền bán nhà có gồm khoản tiền “nhà để xe” không? Hay người mua nhà đã có trả tiền xây nhà để xe không? Đây là câu hỏi pháp lý vì nó dựa trên hợp đồng. Và ta đi tìm. Nếu hợp đồng chỉ vẽ căn nhà, ghi số mét vuông, rồi ghi giá tiền từng mét vuông và tổng giá bán, cộng thuế VAT thì rõ ràng chi phí để xây nhà để xe không nằm trong tiền bán nhà; tức là công ty không tính chi phí xây nhà xe vào giá tiền bán nhà. Vậy là công ty đã trả tiền xây. Vậy quyền sở hữu khu nhà để xe là của công ty. Các chủ căn hộ có quyền để xe. Vâng, không ai ngoài họ; nhưng họ phải trả tiền. Đấy là kết luận của bạn mà không ai bác bỏ được vì nó dựa trên một hành vi pháp lý (ký kết hợp đồng). Hành vi này đòi những điều kiện gì ta đã biết. Vụ 23 Luật sư nước ngoài làm việc tại Việt Nam A. Trình bày Một luật sư của hãng luật ABC ở Hong Kong điện thoại hỏi bạn rằng họ muốn gửi một luật sư của họ đến văn phòng bạn ngồi làm chung có được không? Câu hỏi này mang tính giải đáp pháp luật hay một vụ tư vấn.
Một số vụ khác để mở rộng 221 Giải đáp pháp luật thì chỉ cần tìm ra chính văn bản điều chỉnh vụ việc thì trả lời được ngay; nhưng trả lời theo quy định của luật thì lâu, mà trả lời điện thoại đường dài thì phải nhanh. Bạn có nhiều cách phân tích. Tuy nhiên cách nhanh nhất theo tôi là thế này. B. Cách làm Họ nói luật sư kia đến “làm việc” thì mình phải nghĩ ra rằng “Làm việc là đi kiếm tiền” mà người nước ngoài “kiếm tiền” ở Việt Nam hay ở đâu đi nữa thì cũng phải đóng thuế. Muốn đóng thuế thì phải có lý do. Suy luận từ “làm việc” thành “kiếm tiền” là khó nếu chưa nắm thực tế nhiều! Lý lẽ giản dị là đại đa số người ta ai cũng “làm việc” để “kiếm tiền”. Đó là một cái gì tự nhiên. Và ta nắm cái tự nhiên này làm mấu chốt để tìm câu trả lời. Một người nước ngoài (ta không nghĩ đến “luật sư” vì nó chưa cần thiết cho việc suy luận lúc này) đến kiếm tiền tại Việt Nam, thì phải: (i) đóng thuế và muốn vậy phải: (ii) được phép làm việc. Ta bắt đầu quá trình phân tích: từ “làm việc” sang – “kiếm tiền” – rồi sang “đóng thuế” – và “phép tắc”. Nhờ cắt bỏ từ “luật sư” đi, ta mới chú tâm vào “người nước ngoài” để phân tích và có kết quả nhanh. Về thuế, ta nghĩ đến thuế thu nhập cá nhân hoặc thu nhập doanh nghiệp. Vậy người kia phải trả loại thuế nào? Đến đây, ta nhớ đến “luật sư” vì câu hỏi liên quan đến luật sư. Về “phép tắc” để luật sư nước ngoài làm việc tại Việt Nam, ta tìm trong Luật về luật sư. Luật đó chỉ cho phép luật sư nước ngoài làm thuê tại một văn phòng luật sư Việt Nam, có giấy phép, hay một văn phòng luật sư nước ngoài. Họ không được làm tự do! Về luật sư kia, khi đến Việt Nam họ có thể đến với tư cách cá nhân hay với tư cách một nhân viên của một hãng luật. Đến đây ta lại có thêm yếu tố mới. Tổng hợp các yếu tố đã phân tích lại ta có câu trả lời. Một luật sư nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam (theo luật năm 2000) thì họ phải là người lao động của một văn phòng luật sư nước ngoài. Văn phòng kia giải quyết thuế cho họ. Luật ta có quy định về văn phòng luật sư nước ngoài. Luật sư ấy có thể làm theo một hợp đồng dịch vụ – trên căn bản từng vụ – với một văn phòng luật sư Việt Nam. Văn phòng này sẽ khấu trừ thuế thu nhập.
222 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Luật sư ấy có thể làm nhân viên của văn phòng luật sư Việt Nam trong một thời gian dài theo hợp đồng lao động và phải có giấy phép hành nghề/ lao động do Bộ Tư pháp cấp. Văn phòng khấu trừ thuế. Luật sư ấy có thể là một nhân viên của một hãng luật nước ngoài và hãng này có một hợp đồng dịch vụ với văn phòng luật sư Việt Nam. Đó là một hợp đồng dịch vụ giữa hai tổ chức. Bên Việt Nam nộp thuế nhà thầu thay cho bên nước ngoài. Luật sư kia là người lao động của văn phòng nước ngoài. Văn phòng ấy có thể dàn xếp với luật sư kia để chỉ trả công tác phí; do vậy luật sư kia không phải trả thuế thu nhập cá nhân. Luật sư nước ngoài không thể có khách tại Việt Nam và không thể ký hợp đồng dịch vụ thẳng với khách. Một công ty luật ở nước ngoài có thể ký một hợp đồng dịch vụ với một khách hàng Việt Nam để cung cấp dịch vụ tại nước ngoài. Tóm lại, bạn kết hợp “làm việc” với “trả thuế” để trả lời thì mới đầy đủ. Vụ 24 VCB Nha Trang kiện Seaprodex Nha Trang – Hủy ngang tín dụng thư (letter of credit hay L/C) Đây là một vụ án đã xử, được nêu lên để các bạn biết cách phân tích. Ở đây ngân hàng đi thưa khách hàng. CHMC là cho ngân hàng. A. Trình bày Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 01/8/2005, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có Công văn số 800/VLS–PS ngày 26/7/2005 thông báo cho Tòa án biết Viện Kiểm sát không tham gia phiên xét xử. Do đó, việc đại diện Viện Kiểm sát vắng mặt tại phiên tòa không phải là lý do để hoãn phiên tòa. Quá trình thụ lý vụ án, bị đơn là Công ty Seaprodex Nha Trang (SNT) đã nhiều lần yêu cầu Tòa án tiến hành giám định lô hàng đã nhập. Tòa án Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã trực tiếp đi vào Bình Dương ngày 13/11/2003 để điều tra tại chỗ, đồng thời ủy thác cho Tòa án Nhân dân tỉnh BD tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có kết quả vì chính bị đơn cũng không chỉ được địa điểm lô hàng đang cất giữ. Theo Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004, nghĩa vụ chứng minh là của đương sự. Tòa án Nhân dân tỉnh KH đã làm hết
Một số vụ khác để mở rộng 223 khả năng có thể nhưng không có kết quả nên không thể hoãn phiên tòa theo yêu cầu của bị đơn được. Theo Công văn số 932/CV–KT ngày 16/4//2005 của Chánh Tòa kinh tế Tòa án Nhân dân TP thì Tòa án có thụ lý vụ án “Tranh chấp Hợp đồng ngoại thương số 04/95SPNT–NL”, trong vụ án này Công ty Cổ phần TV và Ngân hàng T – Chi nhánh NT (VCB NT) không tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Hơn nữa, việc tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty Cổ