“Anh từ đâu đến?”
Đó là câu hỏi đầu tiên T đặt ra cho gã. T từng cho gã bao nhiêu là thứ, một cuốn hộ chiếu Đức, một mái nhà mới, cơ hội trốn chạy, và vô số câu hỏi. Ban đầu, T hay hỏi lắm, quê anh trông như thế nào? Nhà có mấy anh chị em? Mùa hè trên đảo[1] nóng cỡ nào? Đảo có ve không? Có rắn không? Cây cối trông ra sao? Cây tên gì? Có sông ngòi hay kênh đào không? Khi nào là mùa mưa? Có lũ lụt không? Đất đai màu mỡ chứ? Trồng gì? Vì sao không thể cùng anh về dự đám tang? Vì sao anh về nhà? Vì sao không về nhà?
Những câu hỏi khiến người ta vò đầu bứt tóc, rất khó trả lời, thành ra không muốn trả lời. Né tránh, dựng chuyện nói dối, thân thế thêu dệt có nhiều sơ hở, câu trước đá câu sau, quá khứ là một cuốn tiểu thuyết viết hỏng. Viết tiểu thuyết, chương đầu tiên tập trung vào một chiếc bàn, trên bàn đặt một khẩu súng hai con dao ba quyển nhật ký, súng dù sao cũng phải bóp cò ở những chương đoạn sau, dao cũng phải róc phải gọt, mở nhật ký ra là đã giải đáp bí ẩn của câu chuyện, nhưng cuốn tiểu thuyết cuộc đời gã lộn xộn không có trật tự, viết một hồi liền quên khuấy súng dao nhật ký, mà lại cứ nhớ đến những thứ linh tinh rác rến khác trên mặt bàn bừa bộn, không ngừng viết về những manh mối chẳng quan trọng, nào áp phích dán trên tường, nào quần đùi đỏ, nào khuôn mặt trùm túi bóng. Con người hỏng rồi, tiểu thuyết cũng thối nát theo, thủng lỗ chỗ.
Gã là một kẻ từ đầu đến chân thủng lỗ chỗ, những chuyện xưa không muốn nói ra miệng, những chuyện hỗn loạn trong trí nhớ chối rằng đã quên đều nhét trong lỗ thủng trên người. Cái lỗ sẽ nứt toác bất cứ lúc nào, nhiều câu chuyện sẽ rơi ra.
Phải nói thế nào đây? Phải viết thế nào đây?
Không nói ra miệng được, đành cứ viết mãi: Tôi đến từ một vùng đất nhỏ.
Quê hương là một vùng đất nhỏ, tên Vĩnh Tĩnh, nằm ở miền Trung của đảo, đầu thế kỷ 19 người Quảng Đông đến đây khai khẩn, xây dựng xóm làng trên mảnh đất hoang bằng phẳng. Quê hương quả thực có con sông nhỏ, sông đào bằng sức người, hẳn là từa tựa kênh đào màT nói. Con kênh trăm năm tuổi nơi đây có từ thế kỷ 18, dẫn nước sông Trạc Thủy cho nông dân tưới ruộng. Dần vỡ hoang thời kỳ đầu thường xảy ra xung đột giữa các sắc tộc, hỏa hoạn lũ lụt liên miên, nên đặt tên đất là “Tĩnh”, mong vĩnh viễn được yên tĩnh thái bình.
Địa thế bằng phẳng, không có núi đồi, phóng mắt về phía đông sẽ thấy dãy núi xanh ngắt của đảo, nhìn về phía tây không thấy cũng không nghe tiếng sông Trạc Thủy, nhưng các bậc cha chú bảo rằng cứ đi mãi về phía tây thì cuối cùng sẽ gặp eo biển Đài Loan. Cư dân làm nghề nông, năm thì mười họa mới rời khỏi mảnh đất này, chưa bao giờ leo núi hay ngắm biển. Đất đai ẩm ướt, cũng gọi là màu mỡ, trồng hoa, trầu, lúa. Trải qua công cuộc khai khẩn hàng mấy thế kỷ, đến nay vẫn giữ được cảnh quan nông thôn, toàn nhà thấp tầng, mấy gian tam hợp viện được công nhận là di tích cổ cấp quốc gia, song hiếm có khách du lịch tới thăm, phồn hoa vẫn chưa đến với nơi này.
Những năm 1970, có công ty xây dựng từ nơi khác đến Vĩnh Tĩnh, lấy được một miếng đất, động thổ xây dãy nhà phố liền kề đầu tiên tại đây. Dãy nhà gồm mười căn sát nhau, mỗi căn ba tầng, là khúc dạo đầu cho sự phồn hoa của vùng đất nhỏ. Cất nhà cao tầng rồi, nơi đây sắp phát triển rồi. Hồi đó, phần nhiều dân địa phương đều chưa từng thấy tòa nhà cao quá ba tầng, xi măng cốt thép, sàn đá mài, bồn cầu bệt giật nước, toàn là lối kiến trúc lần đầu xuất hiện ở vùng này. Một căn trong dãy nhà phố đầu tiên này chính là nơi gã lớn khôn. Đối diện với dãy nhà, căn thứ năm từ bên trái sang là nhà cũ của gã. Căn thứ sáu từ bên trái sang vốn là nhà chị cả, hiện bỏ hoang. Căn thứ bảy từ bên trái sang, trước là tiệm cho thuê băng video, giờ cháy đen thui, ban công treo biển “Bán nhà”. Tấm biển “Bán nhà” treo mấy năm trời, chữ bong tróc thành “Lối ra”[2], số điện thoại bên dưới đã lem nhem khó tài nào đọc được.
Gã nhìn tấm biển “Lối ra”, ngẩn tò te. Gã bị giam cầm nhiều năm rồi, thật sự cần lối ra, hôm nay, không ngờ gã lại quay về chốn này. Gã biết rõ hơn bất cứ ai, nơi đây không thể nào là lối ra của gã. Theo tấm biển “Lối ra” loang lổ ấy, đi hoài đi mãi, liệu có thể về bên Quần Đùi đỏ không?
Chị cả là người duy nhất ở lại, sống trong căn nhà thứ năm từ trái đếm sang, nhà cũ của gã, trước giờ không dọn đi.
Vùng đất nhỏ, chính là vùng đất quỷ tha ma bắt của gã.
Gọi là “quỷ tha ma bắt”, ý muốn nói hoang vắng, so với đại đô thị quốc tế văn minh, quê hương gã xa xôi hẻo lánh, chưa ai nghe tên. Thời kỳ kinh tế[3] cả đảo vươn lên mạnh mẽ, vùng đất nhỏ không bắt kịp tiến độ kiến thiết, hàng loạt nhân khẩu nông thôn chuyển ra bên ngoài, lớp trẻ rời quê rồi không trở về nữa, quên luôn địa danh này, bỏ lại thế hệ già yếu không rời đi được. Tên đất vốn là lời cầu chúc, giờ lại thành lời nguyền, tên sao đất vậy, tĩnh, quá tĩnh lặng.
Mùa hè năm nay miền Trung đảo khô hạn, mặt đường buổi chiều giống như bếp lò, không cần bật gas cũng có thể rán trứng rang cơm nấu cháo trên đó. Biền biệt ngần ấy năm, mọi thứ trước mắt ăn khớp với ký ức của gã, nóng ghê gớm, cái nóng buổi chiều khiến thời gian trôi chậm lại, cây ngủ trưa gió lặng lờ, nín thở lắng tại sẽ nghe thấy đất đang ngáy. Tiếng ngáy ấy là âm thanh nồng đượm khi đã ngủ say, cho đến trước khi trời đổ mưa lần sau, đất tam thời không muốn tỉnh lại. Hồi nhỏ gặp thời tiết kiểu này, gã có thể nằm dưới gốc cây đi vào giấc ngủ rất sâu, gà gáy ve ngân lợn tru rắn rít cừu kêu đều không thể đánh thức gã. Sau khi lớn lên, gã lại không ngủ được nữa. Trong tù thứ dư dả nhất là yên tĩnh, không nghe thấy mưa rơi, không nghe thấy gió thổi, không nghe thấy lá rụng. Gã nói với bác sĩ nhà tù, yên tĩnh quá, sao mà ngủ nổi chứ? Uống thuốc có tác dụng không? Gã muốn hỏi bác sĩ nhưng không nói ra miệng, uống thuốc thì sẽ nghe thấy tiếng mưa chứ? Ở quê gã, mưa gõ trên mái tôn, như thể gióng trống khua chiêng vang rền, hễ nghe thấy tiếng mưa ấy, gã chắc chắn sẽ có cách dỗ giấc.
Thật tình muốn nghe tiếng mưa, thế nên đã trở về.
Không nghe tiếng mưa, gã nghe thấy tiếng máy may lạch xạch lạch xạch.
Đó là chị cả.
Chị cả đạp máy may miệt mài, ti vi bên cạnh đang chiếu phim nhiều tập giờ trưa, bà mẹ chồng nanh ác mới táng cho cô con dâu khốn khổ một bạt tai, có tiếng gà chiều eo óc, quạt máy quay vù vù, làng bên vọng tới tiếng pháo đì đùng. Mấy ngày liền mất ngủ, chuyển máy bay tận mấy lần, ý thức của gã rã rời, không xác định được mình đang ở đâu. Nhưng tiếng máy may rất rõ ràng, gã quả thực đã về đến vùng đất quỷ tha ma bắt này.
Vùng đất quỷ tha ma bắt, vậy thì, có ma không? Có rất nhiều ma quỷ nơi thôn dã, chúng sống trong lời kể của mọi người. Phía trước dãy nhà này có vạt rừng tre rậm rạp, người ta nói có ma nữ phất phưởng, đừng bao giờ đến gần. Ma nữ trong rừng tre là người đàn bà bị cưỡng hiếp thời kỳ Nhật thuộc, trinh tiết bị vấy bẩn còn bị nhà chồng đuổi ra khỏi cửa, bèn vào rừng tre treo cổ tự tử, từ đó thành ma, chuyên dụ dỗ đàn ông trẻ. Đêm đến chó sủa nhặng lên, hay còn gọi “chó cắn ma”, theo lời mẹ gã, chính là gia súc gặp ma, ngủ cho mau, không được mở mắt, bằng không sẽ nhìn thấy ma, thứ không nên nhìn thì chớ nhìn, cho dù nhìn thấy cũng không được nói ra, nhìn thấy thì chạy ngay, chạy mãi chạy mãi, chạy đến khi ma không đuổi kịp mới thôi. Bọn trẻ con nói, nơi nhiều ma nhất là kênh nước trăm năm cạnh ruộng, trên cây liễu hai bờ kênh có mụ ma cây, đừng bao giờ sờ lá liễu rủ, sờ một cái là sẽ bị ma ám, thi cử xơi trứng ngỗng chắc luôn, cách giải quyết duy nhất là kết hôn với ma nữ. Người ta bảo ma nữ cây liễu đều là gái ế già, chết rồi còn muốn lấy chồng, bèn ở lại trên cây liễu, chờ gã xui xẻo nào đó đến cưới. Dưới kênh có ma da, người phụ nữ đẹp bị lính Nhật làm nhục thời Nhật thuộc, nhảy giếng được cứu lên, đưa đến bệnh viện lại bị bác sĩ chà đạp, cuối cùng gieo mình xuống sông Trạc Thủy tự tận, hồn ma không the nước sông đổ ra biển mà chảy vào kênh tưới, trôi thẳng đến vùng đất nhỏ này, liền định cư không đi nữa. Lũ trẻ còn nói, rêu trong kênh là máu tươi màu xanh lục của ma chảy ra, tanh rình nhức mũi chính là mùi hôi của ma. Còn những cây nấm mọc thả dàn đôi bờ kênh, nhất thiết không được sờ, càng không được ăn, vì đó đều là núm vú của ma nữ, hễ sờ sẽ bị vận rủi đeo bám, nếu ăn vào bụng thì ruột và dạ dày trở thành nhà của ma, trong vòng bảy ngày con ngươi rỉ máu mà chết. Thấy phong bao đỏ trên đường đừng nhặt, trong đó đựng sinh thần bát tự[4] của ma nữ, nhặt rồi phải cưới cô dâu ma.
Nhà gã sau này cũng nảy nòi ra một ma nữ, xõa tóc gào thét điên cuồng, chết đuối ngay trong con kênh tưới ruộng này.
Hồi nhỏ, con chó già trong nhà chết, “mèo chết treo ngọn cây, chó chết ném dòng nước”, mẹ chạy xe máy, gã ngồi sau ôm con chó, ra kênh nước để vứt. Gã sợ ma trong kênh, cứ khóc mãi, mẹ giục gã mau ném chó xuống nước. Nước kênh tù đọng không chảy, ngập ngụa xác chó lợn chết, dưa hấu rữa, xe máy cũ, còn có nguyên một sạp trầu cau bỏ đi, thảy đều bốc mùi thối hoắc dưới nắng gắt, cả triệu con ruồi vờn bay chúc mừng, được bữa chén đẫy rồi đây. Gã nhận ra cái xác thối rữa của con chó Vàng nhà hàng xóm, khóc nức nở, không chịu ném con chó già xuống nước, nói phải chôn chó, lập bia mộ. Mẹ giật lấy con chó, quẳng đánh tõm xuống dòng nước tù, bầy ruồi tản ra, rồi lập tức bay tụ về, vo ve vo ve váng tai nói cảm ơn, còn chưa ăn xong thịt ôi mà đã dọn thịt chó tươi lên rồi.
Gã phải nói vớiT thế nào, rằng gã đến từ một vùng đất quỷ tha ma bắt như vậy chăng?
Gã phải nói thế nào về thân thế hoang đường của mình? Năm người chị, một người anh, ông bố chưa bao giờ nói chuyện, bà mẹ thao thao bất tuyệt, hàng xóm giết rắn, anh Cây Cau mặc quần đùi đỏ, kênh nước, đám cưới, cây nhội, Bạch Cung, hà mã, hồ bơi Vĩnh Hưng, tầng hầm, vườn khế, miếu Thành Cước Ma, Minh Nhật thư cục, tháp nước màu bạc.
Thời gian ở tù, gã thường mơ thấy Cây Cau, và cả khu mộ chó ở sân sau nhà cũ củaT. Thuở béT từng nuôi ba con chó, sau khi chúng qua đời đều chôn ở sân sau, trên bia mộ gỗ có ảnh chụp con chó lúc sinh thời, đó là cách chôn chó mà gã tưởng tượng hồi nhỏ, cuối cùng đã bắt gặp ở nước Đức. Gã cũng thường mơ thấy kênh nước vứt chó kia, song không có bóng ma, sau khi trưởng thành gã không tin cũng không sợ ma nữa. Ma không đáng sợ, con người mới tàn nhẫn nhất. Trong mơ kênh nước không hội thối, hoa sen nở rộ, nấm mọc um tùm, cây liễu với cỏ chè vè, màu sắc và nhiệt độ đều là giữa hè. Trong mơ cha đang dẫn nước cày cấy bên con kênh, dáng vẻ thiếu niên da ngăm răng trắng, là người con trai trưởng danh giá nhất xứ này. Nụ cười rạng rỡ tựa hướng dương của thiếu niên, hoa sen trông thấy cũng phải hổ thẹn.
Tiếc rằng gã đã giết T.
NếuT vẫn hỏi bên tai, gã sẽ chỉ về phía dãy nhà, trả lời thế này: “Tôi đến từ vùng đất quỷ tha ma bắt này, đây là nhà cũ của tôi. Hôm nay là rằm tháng Bảy, ma tới rồi, tôi cũng về rồi đây.”
Em tư gọi điện gào lên: “Làm sao đây làm sao đây làm sao đây? Mẹ đâu mất rồi!”
Thục Mỹ cúp máy, rồi nằm rã rượi dưới đất. Chị có cúp máy hay không thật ra đều chẳng khác biệt gì, chị biết em tư không hề để ý thấy chị đã cúp máy, chỉ tiếp tục hét vào ống nghe: “Mẹ đâu mất rồi! Mẹ đâu mất rồi!” Mùa hè oi bức kinh khủng, không mưa không mây, mặt trời mỗi ngày hào phóng chiếu xuống vùng đất nhỏ này, thực sự sắp chết vì nóng rồi, song chị cố chịu đựng không bật điều hòa, tháng này chẳng nhận mấy việc, buộc phải tiết kiệm điện thôi. Sàn nhà đá mài có chút hơi lạnh, man mát, chị áp sát vào gạch men hòng xoa dịu cơ thể mướt mải nóng giãy. Mấy năm trước miền Trung đảo động đất mạnh, làm toác ra một khe nứt to trên sàn nhà, chị quyết định không trám lại, dù sao nhà cũ cái gì cũng hỏng cả, tường bị muối hóa nghiêm trọng, lũ chuột hoành hành, ống nước tắc nghẽn, mái tôn tầng ba bị bão thổi bay mấy lần. Chị còn nhớ dáng vẻ mới tinh tươm của căn nhà này, gạch men ốp ngoài màu kem, vách tường bên trong mới sơn trắng như tuyết, sàn đá mài đã đánh sáp, bóng loáng lấp lánh. Sàn nhà trông có vẻ toàn là đá vụn cộm chân, nhưng giẫm lên lại trơn láng, sàn nhà chính là cầu trượt.
Chị trở mình nằm sấp trên sàn nhà mát lạnh, mắt dán sát khe nứt trên sàn, dòm vào trong, hôm nay rằm tháng Bảy mở cửa âm phủ, chị nghĩ không chừng có thể nhìn thấy địa ngục. Khe nứt này ở ngay bên cạnh máy may của chị, có sức sống, mỗi lần chị quay đầu nhìn xuống đất, miệng khe nứt hình như lại lớn hơn một chút, chị cố ý nhìn thêm mấy lần, mong khe nứt càng lúc càng rộng, biết đầu một ngày kia chị có thể len mình vào khe nứt, chẳng ai tìm thấy chị. Chị nhớ động đất lần đó, ban ngày ban mặt đột nhiên trời rung đất chuyển, chồng chị hoàn toàn không ngó ngàng đến chị, cuống cuồng xông ra sân sau, vơ lấy mấy chậu hoa lan chạy ra ngoài. Chị không hề đứng dậy, tiếp tục làm việc trên máy may, lô quần áo đó hôm sau phải giao, động đất không sao cả, tường nghiêng nhà sập chị đều chẳng để tâm, chỉ cần làm ơn đừng cúp điện là được, hễ cúp điện máy may sẽ ngừng hoạt động, không thể giao hàng thì không có lương, hóa đơn tháng này còn chưa đóng kia kìa. Bấy giờ chị chỉ mong chồng ôm mớ hoa lan dông thẳng, rời khỏi làng quê nhỏ bé này, từ đó biến mất, đừng quay về nữa.
Thời son trẻ, chị hy vọng mình là hoa lan. Trong trận động đất đó, chị cảm thấy buồn thay cho hoa lan.
Căn nhà này cũ kỹ cỡ nào? Cái năm em trai út chào đời, cả nhà họ cuối cùng cũng rời tam hợp viện, dọn vào một căn trong dãy nhà mới này, bấm ngón tay đếm, là căn nhà thứ năm từ trái sang. Mười căn nhà mới là dự án xây dựng đón chào tương lai của vùng này năm đó, đằng sau là ao cá, đằng trước là ruộng lúa, công ty xây dựng quảng cáo rằng phong thủy rất tốt, xây nhà ngay trên long mạch, vượng đất vượng nhà vượng thần vượng tài, các hộ sống ở đây sau này sẽ cùng cất cánh theo địa phương, xã nhỏ biến thành thị trấn lớn, thị trấn lớn nâng cấp lên thành phố vệ tinh, ruộng lúa xây cao ốc, cao ốc nhấp nháy đèn neon. Lúc đó cha chị chạy chiếc xe tải cà tàng chở hàng chẳng quản ngày đêm, dưa hấu cây giống chậu cảnh quần áo may sẵn thứ gì cũng chở tất, có một dạo thường xuyên nhận được công việc giao hàng trầu cau, ông phát hiện trên thị trường có nhu cầu về cau rất lớn, cơ hội kinh doanh cau nhan nhản, cánh đàn ông ở thị trấn gần đó đều đỏ choét cả mồm, ông cũng nhai theo, lá trầu bọc cau, miệng đỏ như máu, nhai nhóc nhách tòi ra kế hoạch làm ăn. Vùng đất nhỏ này trồng nhiều trầu, chất lượng và hương vị không sánh bằng trầu ở miền Đông đảo[5], lá mỏng hơn, vị nhạt hơn, nhưng được cái sản lượng ổn định, giá rẻ, sạp trầu cau khắp miền Trung đảo đều trông vào trầu đất này. Cha bàn chuyện hợp tác với nông dân trồng cau trong xã, bắt đầu làm trung gian bán sỉ cau, nhà nông lần cận thu hoạch trầu bán cho cha, ông đánh xe tải đến chào hàng các sạp trầu cau ở thị trấn xung quanh, mặc cả ăn chênh lệch giá. Chưa đầy một năm, toàn bộ học phí của năm cô con gái trong nhà đều đóng đúng hạn, bữa tối có cơm trắng, thịt lợn, đầu năm rốt cuộc sinh được cậu con trai đầu tiên, cuối năm lại phấn đấu được thêm cậu thứ hai. Bảy đứa con không thể tiếp tục chen chúc trong căn phòng chật hẹp của tam hợp viện nữa, cha gom đủ khoản thanh toán đợt đầu, mua một căn trong dãy nhà này, tạm lượt là nội, rời tam hợp viện.
Hôm dọn sang nhà mới, chị cả Thục Mỹ bế cu bảy vào nhà, đó là ngày vui cười đầu tiên trong ký ức, mẹ cuối cùng cũng đẻ hai đứa con trai rồi, không cần ngày ngày chạm mặt bà nội nữa. Thục Mỹ lần đầu tiên bước vào căn nhà cao hơn một tầng, không ngờ lại có cầu thang dẫn lớn trên, có những ba tầng chứ, trời ơi, chị thế mà có hẳn phòng riêng. Đêm đầu tiên, em trai lớn ngủ với cha mẹ, chị cả Thục Mỹ và chị hai Thục Lệ phụ trách trông em trai nhỏ, hưng phấn đến nỗi tỉnh như sáo, lén xuống giường, bế em cùng ngửi mùi sơn mới trên tường, lên xuống cầu thang, lăn lộn trên sàn đá mài, không ngừng vuốt ve chiếc điện thoại đầu tiên trong nhà, cầm ống nghe lên, có tiếng tút, đặt bên tai cu út, thằng bé nghe thấy tiếng tút liền cười toe. Phòng vệ sinh của nhà mới có bồn cầu bệt, ngồi tiểu rất thoải mái. Cầu tiêu của tam hợp viện trước khi xây ở bên ngoài sân, chỉ là cái hố xí thối inh, nửa đêm đau bụng lao ra đi nặng, thường trông thấy rắn bò ngoằn ngoèo trên cửa nhà xí dưới ánh trăng. Thật ra rắn không đáng sợ, đáng sợ nhất là ma nữ hầm cầu mọi người hay kể. Phòng vệ sinh ở nhà mới có thể khóa cửa, ấn một cái là xả nước, những vật ô uế biến mất trong nháy mắt, mọi thứ thơm tho, không có ma, không có rắn. Nửa đêm cu út khóc quấy, hai chị em vội pha sữa bột, nhưng năm đó họ hoàn toàn không biết cách pha sữa, chỉ biết đây là sữa bột Nhật Bản cao cấp mà nhà thuốc giới thiệu. Hai chị em nghĩ, đặc một chút mới tốt, nhiều dinh dưỡng hơn, nên cho bớt nước, thêm mấy thìa sữa, kết quả cu út bú chùn chụt xong lại trớ ra hết. Thục Mỹ và Thục Lệ cảm thấy bộ dạng trớ sữa của thằng bé rất buồn cười, hai chị em đều chưa bao giờ rời khỏi vùng đất này, chưa bao giờ thấy thác nước, nhưng màn trớ sữa của cu út chính là thác nước hoành tráng nhất họ từng thấy hồi nhỏ.
Chị bỗng nhiên nhớ đến em trai út. Em có khỏe không? Mỗi lần nhớ đến em, chị đều rất muốn rất muốn hút cần sa.
Bữa nay Quỷ Môn Quan rộng mở, chị không thấy dã quỷ vui tới bến, chỉ nghe em tư gọi điện kêu thét như quỷ khóc ma gào, cũng xem như hợp cảnh. Chị nhìn bàn đồ cúng phong phú bày trước cửa, cả ngày chưa có gì bỏ bụng, bữa tiệc thịnh soạn thết đãi những vong hồn xa lạ, còn mình lại thành con ma đói. Cây hương cháy hết, cô hồn dã quỷ ngang qua hẳn đều ăn no rồi, chị từ dưới đất bò dậy, mở một gói bánh bích quy bắt đầu nhai nhồm nhoàm. Bánh dở tệ, thật không hiểu nổi, mấy cái bánh này ăn vào cứ như đất hoang khô cằn dưới nắng chang chang, vị ngọt ăn một miếng gây tiểu đường, gói vị mặn kia thì ăn hai miếng chắc phải rửa thận, sao lại được yêu thích đến thế. Bánh quy dĩ nhiên không phải chị mua, là chồng chị đi siêu thị lớn ở thị trấn kế bên mua về. Chị đã dặn mua gì cúng cũng được, nhưng đừng mua bánh quy hiệu này, kết quả lão mua luôn mấy gói. Chị biết lão cố tình. Bánh quy ăn khô như ngói, sao mọi người thích gặm gạch ngói thế nhỉ? Gạch bánh quy xếp chồng từng viên, tầng tầng lớp lớp, đắp nên Bạch Cung to lớn lộng lẫy ở vùng đất quê mùa này.
Khó ăn chết đi được, song chị vẫn ép mình ăn hết, tuyệt đối không thể lãng phí thức ăn. Nhai đối với chị trước giờ không phải hưởng thụ, mà là cấp bách nôn nóng, khó ăn cách mấy khó nuốt cách mấy đều phải ngốn hết, đồ ăn quá hạn rất lâu vẫn ăn được, bánh tổ hư rồi cắt bỏ chỗ lên mốc vẫn ăn được, chị nhớ rõ nỗi khổ bụng đói, đó là sự túng thiếu khôn cùng, cả đời chị hãi sợ.
Hồi nhỏ sống ở tam hợp viện, mẹ là nàng dâu trưởng, phụ trách nấu ba bữa cho bà nội, thường bị bà chê dở. Có lần bà hắt canh nóng lên người mẹ, bắt mẹ đem cả bàn thức ăn đi cho lợn ăn, xem lợn có chịu ăn không. Mẹ bưng canh về, nghe mấy đứa con gái kêu đói, bèn tạt nguyên nồi canh về phía chúng. Lúc đó chị không thấy bỏng mà chỉ thấy tiếc, cả ngày chẳng có gì lót dạ, nồi canh đó đủ cho mấy chị em ăn no, chị liếm láp canh nóng trên người, còn muốn nằm bò xuống đất uống canh đang chảy lênh láng. Chị nhớ bấy giờ em tư vừa ra đời, lại là con gái, mấy chú đều sinh con trai đầu lòng, trong khi nhà chị liên tiếp đẻ bốn đứa con gái vô dụng. Cha quả thực không có tiền, mấy vụ làm ăn đều không thành, bàn ăn đạm bạc, vắng bóng gạo thịt. Bà nội nuôi một con chó mực to, em hai phụ trách chăm, có lúc bà nội chủ động thêm thức ăn cho chó, bát cơm chó còn thịnh soạn hơn bữa tối nhà họ. Sau này bà nội làm thịt chó mực, đem xào một nồi to với tỏi, đám anh em con chú đều được gọi đến ăn vài miếng, chỉ có mấy đứa con gái nhà họ bị buộc phải ở trong phòng. Mấy chị em ngồi bên trong ngửi mùi thịt thơm phưng phức mà khóc thầm, nhưng không biết là vì đói hay vì mục kích cảnh chó mực bị bà nội cầm cục gạch đập ngất, ném vào nước sôi sùng sục. Cục gạch vấy máu chó vứt ngay trước sảnh thờ, sau đó hễ nhìn thấy cục gạch là chị lại nghe văng vẳng tiếng chó sủa thảm thiết.
Rằm tháng Bảy phổ độ, chị là cô con gái duy nhất trong nhà kế thừa trọn vẹn nghi thức cúng bái của mẹ. Chị từ bé theo mẹ cúng kiếng, rất rành về đủ thứ cấm kỵ và nghi thức trong các ngày lễ tết lớn nhỏ. Mở cái bàn tròn gấp ra, gà lợn vịt mì ăn liền hoa quả khô đều phải bày lên bàn, bàn tròn kê ở trước nhà hướng ra ngoài, trước bàn đặt một chậu nước sạch, trong nước ngâm chiếc khăn mặt nhỏ, để hồn ma qua đường rửa sạch tay chân, tận hưởng bữa tiệc bàn tròn. Trên mỗi đĩa đồ ăn cắm ba cây hương, càng là năm thiếu thốn, bàn cúng ngược lại càng thịnh soạn. Hóa vàng mã, cầu hồn ma qua đường đừng quấy nhiễu, trong suốt tháng Bảy âm lịch không được động thổ, chuyển nhà, đi xa. Có lần chị muốn đổi việc vào tháng Bảy âm lịch, từ nhà máy dệt may này chuyển sang nhà máy dệt may kia, tiền lương và đãi ngộ đều hậu hĩ hơn nhiều, song mẹ cấm chị đổi, nói tháng cô hồn đổi việc cả đời sẽ vô dụng, nhất định sẽ lấy nhầm chồng. Chị nghe lời ở lại, thì gặp được Tiểu Cao.
Sáng nay mới 4 giờ chị đã tỉnh giấc vì nóng, điều hòa cổ lỗ sĩ, chạy được vài tiếng thì chết máy, phải gõ gõ đập đập, năn nỉ ỉ ôi mãi, hồi lâu sau mới khởi động lại được. Chị bèn dậy đi mổ gà luôn, sân sau nuôi mấy con, hôm qua đã chọn sẵn bữa nay làm thịt con gà trống, cột chân nó lại, báo trước án tử. Ấy là con gà trống có bộ lông bóng mượt, hung hăng ồn ào, thường bay qua tường bao đi đánh nhau với chó hàng xóm, láng giềng xung quanh đều mắng vốn, sáng nào cũng gáy inh ỏi, làm thịt cúng quỷ thần thì cả nhà lẫn xóm giềng đều được yên. Gà trống biết mình bị chọn chắc rồi, ra sức vùng vẫy, mổ cánh tay chị, kêu thảm thiết. Chị dùng dây buộc chặt chân gà trống, mấy con gà khác cố ý giữ khoảng cách với nó, tránh xa hơi hướng chết chóc chẳng lành. Mổ gà cũng là mẹ dạy, nắm cổ gà, rạch một nhát dao, máu tươi nhỏ xuống cái bát đựng gạo, tiện thể làm bánh huyết. Vặt lông, trụng nước sôi, lấy nhíp tỉ mẩn nhổ lông măng. Mấy người bạn luôn bảo chị vụng trí khéo tay, đầu mọc sai chỗ, chạy đến đôi tay hết rồi, nên vá, may, cắt món nào cũng thạo, nhổ lông gà nhanh thoăn thoắt, nguyên con gà nhẵn bóng, còn đẹp hơn gà mua ngoài chợ. Song khéo tay có ích gì đâu, chị biết mình là người phụ nữ xưa cũ bị thời đại vứt bỏ, năm mười lăm tuổi bỏ học đi Sa Lộc Đài Trung làm công nhân dệt may, giờ đã lục tuần, đôi tay chai sạn, nhận hàng gia công về nhà làm, may một trăm chiếc áo xuất khẩu sang châu Âu, tiền lương vẫn không mua nổi một chiếc áo mới. Chị thường tưởng tượng, người châu Âu đóng bộ cánh mình may đang làm gì nhỉ? Uống cà phê vỉa hè? Ngồi thuyền dạo sông? Hút cần sa? Khoác túi xách hàng hiệu bát phố nghỉ mát? Em trai út từng nói, không phải thế đâu, người châu Âu cũng phải vất vả làm việc giống như chị vậy. Nhưng chị chưa đến đó nên thực tình không tin. Ít ra họ mua nổi quần áo chị may, còn bản thân chị không mua nổi.
4 giờ chị dậy rửa mặt, dùng xà phòng từ cách đây ba mươi năm. Dạo trước chị dọn dẹp tầng thượng, phát hiện mấy thùng xà phòng cũ, bao bì hộp giấy đã mủn cả, bánh xà phòng đỏ tía nhúng nước chà xát vẫn ra bọt, hương hoa nhân tạo nồng nặc xộc vào khoang mũi. Năm xưa chồng chị nói muốn đầu tư vào nhà máy xà phòng thơm, dốc toàn bộ tiền dành dụm của cả nhà vào đó, kết quả chưa đầy mấy ngày đã nhận điện thoại báo nhà máy ngừng sản xuất, khoản đầu tư thành ảo ảnh, chỉ đổi lấy mấy thùng xà phòng gắt mùi. Chị ghét cay ghét đắng mớ xà phòng đó nhưng không thể vứt đi, đều là thứ dùng được, đem giặt đồ lau mình tắm chó rửa sàn, cả căn nhà đều tỏa ra thứ mùi gay mũi đó. Mấy năm sau có lần chị vào siêu thị mua thức ăn, nhận ra loại xà phòng này chiếm cả một kệ hàng, vốn dĩ không ngừng sản xuất. Chị gặng hỏi chồng mới ngã ngửa, hóa ra nhà máy xà phòng thơm là một vở kịch, tiền đem đi trả nợ bài bạc, nhà máy với đầu tư gì đó chưa bao giờ tồn tại, mấy thùng xà phòng là mua về đối phó. Chị nhớ vẻ mặt chồng khi bị chất vấn, “Ai biết ngay cả chuyện này mà em cũng tin?” Tối đó chị bỏ xà phòng vào canh, cả nồi canh nhuộm màu kỳ dị, rốt cuộc lão ừng ực uống hết, biểu cảm chẳng có gì khác lạ, không ốm không chết, chỉ ợ một cái rõ to.
Không giết chết được, Thục Mỹ biết rất rõ, làm gì cũng vô ích, chồng mình không tài nào chết được. Đây là động cơ lớn nhất để chị sống tiếp, chị phải sống mòn sống mỏi, tận mắt nhìn chồng chết.
Tôi không nhớ khuôn mặt con bé. Khuôn mặt không có túi bóng. Tôi không nhớ khuôn mặt không có túi bóng của con bé.
Ký ức bồng bềnh, bấp bênh, gạt người, xóa bỏ bản ngã, bóp méo sự thật. Nhưng ký ức dán sát lên da, tháng Bảy giữa hè ở miền Trung đảo, mồ hôi túa ra, túi bóng dán sát lên da, mặt mờ nhạt, người tắt tiếng.
Tôi đúng là có nhớ một số sự thực cố định, chẳng hạn như con số. Tôi rất giỏi nhớ con số, số điện thoại đầu tiên ở nhà mới sau khi rời tam hợp viện, tôi là con trai cả của gia tộc dưới quê, tôi có ba người em trai, tôi có năm gái hai trai, tôi đã kết hôn một lần, năm nào khách hàng nào nợ tôi bao tiền, tôi từng mua mấy chiếc xe tải chở hàng, chỉ số men gan của tôi trước khi chết.
Tôi đã quên tiệt khuôn mặt con bé. Mũi có cao không? Khoảng cách giữa đường chân tóc và lông mày? Mắt to hay nhỏ? Môi dày hay mỏng? Răng có đều như bắp không?
Song tôi nhớ các con số trong cuộc đời con bé, ngày tháng năm sinh của nó, nó là đứa con gái thứ năm, điểm thi lên cấp ba, biển số xe máy, phòng ngủ sát ban công tầng ba, buổi sáng thức dậy thường bị dị ứng hắt xì, kỷ lục cao nhất là mười lăm cái, tự tử vào bệnh viện sáu lần, cao một trăm sáu mươi lăm xen ti mét.
Chiều cao đến phút cuối tôi mới biết, đặt hàng xóm đóng quan tài, bác thợ đến đo cái xác. Bác thợ nói, một sáu lăm, khung xương vóc dáng chuẩn lắm. Thợ trang điểm thoa son, tô bóng mắt cho nó, nhất định là rất đẹp, nhưng lúc đó tôi lại cứ nghĩ đến cái túi bóng.
Hồi xưa dọn vào căn nhà này, chúng tôi là hộ gia đình đầu tiên. Tôi là trưởng nam một gia tộc tam hợp viện, trước khi người Nhật rời khỏi, mẹ dắt tôi đi học trường công[6], mẹ hay giơ ngón tay chỉ trỏ đây đó, rằng mấy giáp[7] ruộng quanh đây đều là của nhà chúng ta, đời đời thu địa tô, không phải lo cái ăn, con chăm chỉ học hành là được rồi, sau này đều là của con. Sau khi người Nhật rút đi, tôi được gửi đến trường trung học nội trú ở nơi khác, chính phủ Quốc Dân bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất, tôi tốt nghiệp trở về thì gia đình đã không còn là đại địa chủ nữa, cảnh nhà sa sút. Vĩnh Tĩnh lúc đó tuy không thể nói là đất cằn sỏi đá nhưng cỏ dại tràn lan, đường sá lầy lội, rắn béo muỗi dữ.
Công ty xây dựng đột nhiên đến đây, chở tới xi măng cốt thép, xe ben chạy vào án ngữ, báo hiệu nếp sống mới. Ngay trước ao cá, một vạt rừng tre bị chặt lấy đất xây dựng, dãy nhà mười căn sắp sửa khánh thành. Họ tuyển công nhân thời vụ để phát dọn đất, tôi theo cai thầu chặt tre, mọi người đều bảo trong rừng tre này có ma nữ, thật ra chỉ có một đám mèo chết treo lủng lẳng và rắn màu sắc sặc sỡ. Rừng tre trăm năm gần như biến mất trong một tuần, chỉ sót lại một mảng nhỏ. Năm đó ai muốn thấy cả vạt rừng cơ chứ. Một đống xanh lè, chứng tỏ chưa mở mang phát triển, vô giá trị, không ăn được. Cốt thép thay thế tre xanh, công trường khói bụi mù mịt, tôi hít sâu một hơi, mũi ram ráp bụi kim loại, thơm thật, đây là mùi của tiến bộ thì phải.
Lĩnh tiền công, tôi hỏi cai thầu, nhà này bán thế nào?
Ba tầng, có thể ngăn ra rất nhiều phòng, tôi và A Thiền một phòng, mỗi đứa con gái một phòng, mỗi thằng con trai một phòng, sau này chúng tôi mất thì để lại cho con trai lớn.
Lúc đó tôi đã có dự cảm, đây là căn nhà ăn nên làm ra của nhà họ Trần chúng tôi. Nhà tôi không còn là đại địa chủ, con trai trưởng như tôi túi tiền lép xẹp, nhưng tôi tin rằng căn nhà này chính là khởi điểm thoát nghèo của chúng tôi.
Chúng tôi là hộ đầu tiên, hộ thứ hai dọn vào dãy nhà này là tiệm quan tài, không lâu sau, tiệm tạp hóa kim khí khai trương bên cạnh tiệm quan tài. Gả con gái, cưới con dâu phải đến tiệm tạp hóa mua đồ dùng cần thiết cho đám cưới, gối ôm song hỷ, dây gấm, dây màu, hoa cài áo đại biểu, mâm quả, nến, toàn bộ mười hai lễ mua đủ một lần. Nếu có bề trên qua đời thì tới tiệm quan tài, chọn gỗ, lựa kiểu. Tốt quá, tôi có năm đứa con gái phải gả chồng, hai thằng con trai phải cưới vợ, tiệm tạp hóa ở ngay sát vách sẽ tiện lo liệu. Mai sau đến lúc lo hậu sự của mę và tới lượt tôi về với tổ tiên đều không cần chạy đâu xa, sống chết đều hoàn thành trong cùng một dãy nhà. Chẳng cần đi đâu hết, cứ sống ở đây, thác ở đây.
Không ngờ lại làm đám tang con bé trước.
Tôi hoàn toàn không nhớ mặt nó, nhưng tôi nhớ mọi người đều khen cô út này là đứa đẹp nhất trong năm chị em gái.
Năm xưa tôi cưới A Thiền, bà mai nói cô ấy là người đẹp nhất làng.
Cô út đẹp nhất, giống A Thiền nhất, mắt to, ngực nở, mày đậm, da trắng. Giống nhau nhất, lại thù nhau nhất. Hung thủ giết con gái út, thật ra là vợ tôi.
May mà tôi đã quên mặt con. Song điều đó chứng tỏ tôi cũng đã quên mặt vợ.
Thục Lệ tan ca rời văn phòng mới nhận ra hôm nay là rằm tháng Bảy.
Nhiều cửa hàng cửa hiệu bày mâm cỗ, hóa vàng mã, cúng cô hồn. Đã nhiều năm cô chẳng cúng kiếng, sống ở căn hộ chung cư cũ bé như hộp diêm tại Đài Bắc thì cúng kiểu gì? Mấy năm đầu vừa đến Đài Bắc, cô bày cái bàn nhỏ ở ban công, không gian quá chật, hóa vàng mã sợ thành đốt nhà, nên chỉ cúng con gà luộc và mâm tứ quả, không thắp hương, chắp tay khấn xin cả nhà bình an. Chung cư đối diện trong ngõ hẹp cũng đang cúng, song người ta không sợ hỏa hoạn, vàng mã cháy rực, một cơn gió lùa vào ngõ, tro bay tứ tán, cả con ngõ mịt mù mưa bụi màu xám. Cô nhìn đồ cúng của nhà đối diện, đầy một bàn đều là bánh quy đó. Rốt cuộc vì sao mọi người cúng bái đều thích mua bánh quy hiệu này nhỉ? Bánh quy đến từ Bạch Cung khiến cô nhớ tới đám tang em năm, vàng mã chồng chất thành gò nhỏ, được cha châm lửa, mau chóng bốc cháy. Mấy chị em gái phụ trách ném quần áo của em năm vào lửa, ngọn lửa hừng hực, tham lam hút lấy nước mắt cô. Mẹ đứng bên đống lửa gào: “Mãn Muội à, làm ma, phải quay đi tìm y nhé!” Lời ai điếu của mẹ có giai điệu, có lẽ do tham gia đoàn tụng kinh đã lâu, câu “quay đi tìm y nhé” lặp đi lặp lại, mỗi lần đều mang làn điệu khác nhau, chữ “y” càng xướng càng chói tai, ngân vang xoay vòng, giống như mũi khoan dẹt dài mảnh mà sắc bén, đục lỗ vào màng nhĩ cô. Lửa cháy mấy tiếng đồng hồ, một cơn gió mạnh thốc tới, rợp trời tro bay, mẹ không ngừng không mệt, ăn đầy miệng tro, song đan điền lại càng mở rộng, tiếng “y” càng vang dội, vọng khắp cả vùng quê. Có điều, y, y trong Bạch Cung, không thể nào nghe thấy. Bụi tro theo tiếng khóc gào gọi “y”, từ đám tang đó khởi hành, theo gió bay lượn khắp chốn, mỗi căn nhà thấp, mỗi gốc cây cau, mỗi con kênh rạch đều dính tro, nơi nơi đều nghe thấy “y”. Nhưng bụi tro tránh hẳn Bạch Cung ra, tường bao, rường cột, mái nhà hết thảy vẫn trắng tinh không một vết bẩn, rực rỡ ánh vàng.
Mặt đất ướt át, Đài Bắc hôm nay có mưa sao? Thực sự là quá bận, liên tục nghe những cuộc điện thoại khiếu nại giận dữ, luôn miệng xin lỗi, hoàn toàn không nghe thấy tiếng mưa. Ngẩng lên nhìn bầu trời, mây đen dày đặc đầy đe dọa, báo trước một trận mưa lớn khác. Cô xưa nay - rất thích nghe tiếng mưa to, ở quê mỗi trận mưa như trút, giọt mưa đập xuống đất sẽ ép nhiều loài bò sát ló mặt ra, không khí sực nức mùi cỏ xanh, rắn sọc lăn lộn trong bùn, mạng nhện đọng muôn ngàn hạt nước nhỏ. Đài Bắc đâu đâu cũng là mái tôn, mưa to oanh tạc thành phố, nổ giòn giã trên mái nhà, tạm thời vùi lấp tiếng xe cộ ồn ào. Cô từng hỏi em trai út, có nhớ thứ gì của Đài Loan không? Chị hai mua rồi gửi sang cho em. Em trai trả lời thư, không hiểu sao cứ hay nhớ tới tiếng mưa dưới quê và cả tiếng mưa Đài Bắc, nơi này không có mái tôn, ở bên trong không nghe được tiếng mưa, rất yên tĩnh, quá yên tĩnh. Tiếng mưa ư, làm sao mưa nhỉ? Cô vẫn luôn muốn dùng di động ghi âm tiếng mưa rồi gửi cho em trai út, nhưng em không thể nhận thư điện tử, cô thực tình cũng không biết cách chuyển file âm thanh từ điện thoại sang máy tính, tiếng mưa, phải gửi thế nào đây?
Lúc chờ xe buýt, để tránh xe đạp, cô giẫm vào vũng nước lớn trên lối đi bộ, nước đục ngập đến mắt cá chân. Nước bẩn ghê, cô tưởng tượng mưa axit ô nhiễm khói bụi trong thành phố chọc thủng giày cô, ngấm vào tất cô, gọi mời nấm mốc vào đóng quân giữa những ngón chân cô. Song cô không rời khỏi vũng nước, mùa hè nóng như thiêu như đốt, nước bẩn đâm ra lại mát rượi không ngờ. Văn phòng theo đuổi biện pháp tiết kiệm điện, hạn chế dùng điều hòa, cả ngày cô đều ngâm trong mồ hôi của mình, hai chân giẫm nước bẩn khiến cô nhớ đến tuổi thơ giẫm bùn ở quê, giẫm giẫm giẫm, có lúc sẽ giẫm phải một con rắn sọc gờ trơn tuột. Đã ngột ngạt cả ngày trong căn phòng không có điều hòa, niềm an ủi duy nhất lại là một vũng nước đen. Ở văn phòng, đồng nghiệp nam ngồi bên phải tỏa ra mùi hôi nách chua lòm, buổi trưa anh ta còn ngự ngay trên bàn làm việc chén hai hộp đậu phụ thối. Đồng nghiệp nữ ngồi bên trái cởi giày, chân liên hồi kỳ trận ném những quả tạ thum thủm, quả nào quả nấy đều chuẩn xác đánh trúng khoang mũi cô, thứ mùi ấy quả thực có sức mạnh hủy diệt nền văn minh. Vị sếp lớn mắng cô không biết biến báo vừa há miệng đã khạc ra một dòng sông lềnh bềnh rác rưởi, người cấp trên động viên cô vừa gãi mái đầu lưa thưa đã như đánh đổ cả thùng nước gạo nuôi lợn, trên cơ thể đám đông chỉ thắng mặt chửi cô không tôn trọng động vật khăm khẳm mùi khai của chó. Mùi người là hung khí, suốt cả ngày cô liên tục cảm thấy mình bị mùi hôi của con người cắt cổ. Thật ra cô không mảy may để tâm mùi hôi của chó, chó hoang dưới quê còn hôi hơn, cô luôn thích vùi mặt vào mình chó cọ tới cọ lui, hoặc nắm lấy bàn chân chó, hít hà thật sâu. Hồi nhỏ sống ở tam hợp viện, bà nội nuôi một con chó mực, hằng ngày cô phụ trách cho chó ăn, cho đến khi bà nội cầm cục gạch đập chết chó mực nấu lên ăn. Cô biết bà nội kỳ thực không hẳn thích ăn thịt chó lắm, bà nấu thịt chó là vì cô.
Nhà cô là một căn chung cư nhỏ ở Đài Bắc, ba phòng ngủ một phòng khách, chồng, con gái, con trai, thêm một con gián nữa là chật chội không kham nổi, không thể nuôi chó. Con gái thất nghiệp, con trai thôi học đại học, hằng ngày đều ở nhà chờ cô về nấu cơm tối. Cô thích chó, nhưng hôm nay lại vì chó mà lên bản tin nhanh trên mạng với tội trạng kỳ thị chó.
Quầy của cô phụ trách đăng ký hộ tịch, cấp đổi chứng minh thư, cấp đổi sổ hộ khẩu, xét cấp bản sao hộ tịch, nội dung công việc đơn thuần, là một công việc lý tưởng. Nói là “lý tưởng”, vì biến động ít, tiền lương ổn định, nội dung không phức tạp, chỉ cần quen việc, sự vụ phải xử lý mỗi ngày biến động không nhiều, đây là cuộc đời mà cô muốn. Mỗi ngày cô cố định dậy lúc 6 giờ, chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà, trước 7 giờ rưỡi nhất định phải ra khỏi nhà bắt tàu điện ngầm rồi chuyển xe buýt, trước 8 giờ rưỡi đến phòng hành chính hộ tịch, ngồi xuống pha cốc trà, mở máy tính, đợi người dân đến quầy. Dân chúng lấy số thứ tự, chờ gọi số. Tất cả đều là lẽ đương nhiên, ngăn nắp trật tự.
Nhưng những năm gần đây, “lý tưởng” mất đi trật tự, công việc rõ ràng đơn thuần đã thêm nhiều thay đổi. Những công chức thế hệ cô, thời trẻ không có cơ hội đụng đến máy tính, khi làn sóng khoa học công nghệ ập đến, đành gắng gượng học lấy tất cả các phần mềm văn bản mới. Sau khi điện tử hóa toàn diện, guồng quay công việc cũng tăng tốc, những việc trước kia phải mất mấy ngày mới có thể hoàn thành thì bây giờ sếp yêu cầu phải xử lý trong vòng một tiếng, để tránh bị nói “nhân viên công vụ hiệu suất kém”. Tốc độ thì cô có thể đẩy nhanh, nhưng thứ mà cô hoàn toàn không chống đỡ nổi là ống kính máy ảnh. Khoa học công nghệ mang đến ống kính nhan nhản khắp nơi, nhiều người dân vừa tới quầy, hễ thấy không thể có được giấy tờ mình muốn liền lập tức mở điện thoại, nói phải “thu thập chứng cứ”, cho toàn thế giới thấy công chức ở Đài Loan rốt cuộc tệ hại nhường nào. Trên tay mỗi người đều lăm lăm ống kính, ngón tay bấm một cái là có thể bắt đầu quay chụp, đe dọa nếu không nhanh chóng phục vụ sẽ cung cấp đoạn phim cho giới truyền thông phanh phui.
Lúc trước có cô gái trẻ đến giải quyết công việc, mắt to tóc dài, trông rất xinh, khiến cô nhớ tới em năm. Ánh mắt cô gái bẽn lẽn, còn chưa thấy quá nhiều chuyện như bẩn cõi trần, trong veo sáng ngời. Cô ta đến làm thủ tục nhận tiền khuyến khích sinh đẻ, do giấy tờ mang theo không đầy đủ nên không thể hoàn thành ngay hôm đó, cảm xúc mất kiểm soát, bèn ném giấy tờ trước quầy, gào to: “Tôi sắp đẻ rồi! Tôi không có tiền! Các người còn không giúp tôi!” Thật ra chỉ ầm ĩ một lát, cô và mấy đồng nghiệp đi ra khỏi quầy để vỗ về cô gái, pha cốc trà nóng, chuyện trò vài câu, tư vấn những việc cần chú ý khi sinh, chúc mừng nhé, ở cữ phải giữ gìn đấy, ăn thứ gì nhiều vào, bác sĩ khoa sản nào đỡ đẻ mát tay, nói một hồi, cô gái đã cười, đôi mắt to càng ngời sáng, bảo ngày mai lại đến. Tối hôm ấy, hình ảnh cô gái khóc bù lu bù loa đã lên thời sự ti vi, hóa ra bấy giờ nhiều người dân có mặt ở đó đều cầm điện thoại quay chụp, lập tức đăng lên mạng, cuộc sống thường nhật nhàm chán của mọi người đột nhiên gặp phải một cô gái mất kiểm soát, rốt cuộc cũng có chút kích thích, lượt xem nhanh chóng vượt chục nghìn, trên bản tin thời sự cô gái trở thành “vị khách phiền phức - thiếu nữ điên cuồng”, thậm chí bị tra ra danh tính thật. Phóng viên đến chợ truyền thống tìm được mẹ cô gái, micro và ống kính chĩa thẳng vào người mẹ đang mổ gà: “Xin hỏi bà có biết con gái sắp sinh không? Đã xem đoạn phim lan truyền trên mạng này chưa?” Phóng viên lấy máy tính xách tay phát đoạn phim cô gái la hét ở phòng hành chính hộ tịch. Người mẹ nọ hoảng sợ ra mặt, cái cổ gà nắm trong tay vừa bị dao rạch, máu chảy tong tỏng.
Cô trốn vào phòng tắm ở nhà, xem đi xem lại đoạn phim cô gái thét gào, nhớ tới em năm.
Hôm sau cô gái ấy không đến, từ đó trở đi cũng không thấy xuất hiện nữa.
Về sau, để ứng phó với việc người dân quay chụp “lấy chứng cứ”, quản lý văn phòng yêu cầu ngoài camera giám sát, tất cả nhân viên đều phải chủ động quay chụp để tự bảo vệ bản thân.
Hôm nay, cô đã quên mất phải quay phim lại.
Người dân ở khu chờ bỗng dưng xôn xao, có đứa bé khóc váng lên. Đúng lúc cô đang chờ photo văn bản, nghe tiếng khóc mới đi ra khỏi quầy xem rốt cuộc xảy ra chuyện gì. Thì ra là có người dẫn theo năm con chó to vào, lấy số thứ tự, chờ gọi số, vừa hay có đứa bé sợ chó thấy chó liền òa khóc. Phụ huynh của đứa bé trông thấy cô bèn yêu cầu cô giải quyết mấy con chó, nếu không con tôi thật sự sợ lắm, chẳng phải chỗ các cô là cơ quan nhà nước sao, chẳng phải chó nên để ở bên ngoài, không được vào sao? Cô lại gần trao đổi với người đàn ông dắt chó, nhưng người này lập tức lấy điện thoại ra quay cô, lớn tiếng nói: “Đây đều là chó dẫn đường cho người mù, tôi là huấn luyện viên chó dẫn đường.” Cô cho rằng đối phương là người khiếm thị, xin lỗi ngay, nào ngờ ông ta càng cao giọng: “Cái gì? Cô tưởng tôi là người mù hả? Tôi vừa nói rồi còn gì, tôi là huấn luyện viên chó dẫn đường, nếu tôi là người mù, sao tôi huấn luyện chó được? Lũ chó chỉ theo tôi, không thể để chúng ở bên ngoài, tôi sẽ khiếu nại các cô không thân thiện với chó dẫn đường.”
Người la lối, chó ở lại, trẻ con khóc lóc, cô quay về máy photo, không nghĩ quá nhiều.
Mấy tiếng sau, điện thoại chỉ đích danh muốn gặp “nữ hộ viên họ Trần” bắt đầu réo liên tục, vừa chuyển đến máy con của cô, lập tức mở miệng mắng cô sa sả. Phóng viên tìm đến, cũng yêu cầu gặp “nữ hộ tịch viên họ Trần”, micro hướng thẳng vào cô: “Xin hỏi vì sao chị bài xích chó dẫn đường?”
Hóa ra, huấn luyện viên chó dẫn đường nọ sau khi rời khỏi tức khắc đăng đoạn phim lên trang cộng đồng chó dẫn đường. Đồng nghiệp phát cho cô xem, cắt ráp mượt mà, thêm phụ đề và hiệu ứng đặc biệt, một mũi tên màu đỏ chỉ vào mặt cô, phụ đề viết “nữ hộ tịch viên họ Trần kỳ thị chó dẫn đường”. Vị huấn luyện viên rất biết cách cắt xén, khúc bản thân nói “người mù” hoàn toàn không có trong đoạn phim, còn biểu cảm cau mày của cô vào đoạn phim đã trở thành nét mặt kỳ thị. Đoạn phim quay biểu cảm bầy chó lo lắng sợ hãi, tiếp theo nhảy sang khuôn mặt lãnh đạm của cô.
Những lời chửi mắng trào dâng như sóng thần: Con mụ đê tiện này. Đồ xấu xa không tôn trọng chó. Đài Loan chúng ta chính vì hạng công chức như cô nên mới không thể tiến bộ. Thứ mọt gạo. Tiền lương của cô là tôi đóng thuế nuôi đấy. Cô cuốn xéo cho tôi. Loại công chức tồi tệ. Mụ già gợi đòn. Thả chó cắn chết cô. Cô không hề có lòng đồng cảm. Thú cưng là bạn tốt nhất của loài người, cô có hiểu không hả?
Cuộc điện thoại cuối cùng cô nhận trước khi tan làm vang tiếng chó sủa ông ổng, cuối cùng là một câu “Đệch, cô tan sở liệu hồn cho tôi”.
Công việc thảy đình trệ, theo chỉ thị của sếp, viết báo cáo tường trình, mai nộp, cô biết đây thật ra là bản kiểm điểm, đánh giá thành tích năm nay chắc hẳn “toang” rồi. Vị sếp hôi miệng vỗ vỗ vai cô: “Cô Trần, cô đâu có khóc nhỉ, khá lắm.” Cô nghĩ bụng, khóc gì chứ, tôi từ nhỏ bị mắng đến lớn, chuyện này có gì đáng khóc đâu.
Xe buýt mãi vẫn không tới, cô không dằn lòng được mở điện thoại, xem đoạn phim đó lần nữa. Cô cho tạm dừng ở chỗ cận cảnh khuôn mặt mình, hóa ra mình hiện giờ trông như này à, mặt mũi lạnh lùng, mái tóc ngang vai xõa xượi, ánh mắt băng giá, hình thành sự tương phản rõ rệt với ánh mắt tha thiết của lũ chó, cũng khó trách mọi người đều tin cô chính là kẻ để tiện kỳ thị chó.
Cửa hàng trên phố đốt vàng mã, ánh mắt cô lướt qua từng bàn cúng, hầu như trên mỗi bàn đều có bánh quy của Bạch Cung, thật sự không tránh khỏi. Năm kia cô đi tour du lịch Trung Quốc, ngắm mây mù ở Hoàng Sơn, hướng dẫn viên bản địa lấy ra gói bánh quy này, hỏi có muốn nếm thử bánh quy đến từ Đài Loan của quý khách không? Vị quê nhà đấy. Các thành viên trong đoàn chẳng ai chìa tay lấy, hướng dẫn viên nói không thu tiền, chiêu đãi miễn phí, mọi người đột nhiên chen nhau giành bánh. Đi dạo trong ngõ nhỏ ở Hồng Thôn An Huy, thấy bé gái đang ăn bánh quy hiệu này. Ăn cua ở Tây Hồ, không ngờ trên bàn cũng xuất hiện bánh này. Năm ngoái cô đi Nhật Bản, tìm mua vitamin cho chồng ở hiệu dược mỹ phẩm, cũng thấy cả đống bánh này trên giá. Cô viết thư hỏi em trai út, trong nhà tù Đức có bánh quy này không? Nếu có, cô cũng sẽ không ngạc nhiên, người ta đều đang hô hào toàn cầu hóa đấy thôi?
Bên cạnh biển chờ xe buýt có mấy học sinh cấp ba cầm di động phát đoạn phim kia oang oang, cô nghe thấy “nữ hộ tịch viên họ Trần”, xem ra cô đúng là nổi tiếng rồi. Cô bước ra khỏi vũng nước, cố tình đến gần đám học sinh, nghe chúng chửi rủa hộ tịch viên xấu xa kỳ thị chó. Một nữ sinh trong bọn ngẩng lên nhìn cô, ánh mắt “Bà thím này lại gần bọn mình làm gì? Chân bà ta bẩn quá!”, hoàn toàn không nhận ra cô là nhân vật chính trong đoạn phim. Cô vốn lo lắng suốt một ngày ăn chửi trong điện thoại, ngoài đời thực có lẽ cũng không tránh khỏi bị “ném đá”, nhưng cô chen chúc trên xe buýt, chuyển tàu điện ngầm, đến chợ chiều mua thức ăn, rồi về nhà, không một ai nhận ra cô.
Cô bảo ông hàng thịt ở chợ chiều, cứ như hôm qua là được. Ông ta nhìn cô, cố gắng tìm kiếm khuôn mặt khách quen trong đầu, kết quả tìm kiếm bằng 0. Kỳ lạ thật, cô thường tới mua thịt cơ mà? Ông chủ này cũng vụng làm ăn quá đi.
Cô tuyệt nhiên không biết rằng mình thật ra là người không có màu sắc, trong suốt, là sự tồn tại dễ bị ngó lơ nhất giữa đám đông.
Mấy hôm trước cô thực hiện tư thế yoga giãn cơ trên sàn phòng ngủ, chồng cô đi vào phòng, hoàn toàn không nhìn thấy cô, nằm trên giường cầm máy tính bảng xem phim người lớn, quần kéo xuống đầu gối, bắt đầu “nắc”. Cô giữ nguyên tư thế chó ngửa mặt bất động, không dám thở mạnh, chẳng mấy chốc, chồng cô phát ra tiếng rên rỉ yếu ớt, lấy chăn lau. Rồi chẳng bao lâu sau, tiếng rên rỉ yếu ớt chuyển thành tiếng ngáy o o, cô yên lặng đứng dậy, không dám nhìn chồng trên giường, nhón chân đi ra cửa, thầm nghĩ, ga giường và chăn này đều phải giặt ở nhiệt độ cao thôi. Sao ông xã hoàn toàn không để ý thấy mình chứ? Mình nằm ngay trên sàn nhà cạnh giường mà! Có điều, không để ý thấy cũng tốt.
Cô rời chợ chiều, xách thịt lợn đi về nhà, điện thoại reo, cúi đầu nhìn màn hình, là em tư.
Bắt máy, em tư khóc gào: “Chị hai! Chị hai! Mau về nhà đi! Làm sao đây làm sao đây làm sao đây? Mẹ đâu mất rồi ấy!”
Cô hít sâu một hơi, nói bằng giọng điệu lạnh nhạt nhất: “Mẹ chết lâu rồi.”
Em tư không nghe cô nói, tiếp tục gào: “A lô? A lô? Chị hai! Chị hai! A lô? Mau về nhà đi! Chị có nghe thấy không? Mẹ đâu mất rồi!” Cô không biết rằng em tư vốn không nghe được câu trả lời của cô. Cô không biết mình là người không có màu sắc, ngay cả tiếng nói cũng quá đỗi mờ nhạt, âm thanh truyền qua điện thoại, nhẹ tênh, chẳng có trọng lượng, không truyền đến tại em tư. Cô cứ nói mãi: “Mẹ chết rồi. Mẹ chết rồi. Em đừng gọi nữa. Mẹ chết rồi. Chị ở Đài Bắc làm việc bận lắm, không rảnh về nhà.” Em tư hoàn toàn không nghe thấy, tiếp tục gào.
Nữ hộ tịch viên họ Trần giống như con ma, phất phơ vô hình, mọi người sẽ chủ động loại bỏ sự tồn tại của cô trong thị giác và trong thính giác. Đây thật ra là trạng thái cuộc sống mà cô mong muốn nhất, tàng hình giữa đám đông, hòa tan vào phông nền, soi gương không có bóng, đi lại không dấu chân, bay tới bay lui, vẫn chưa biến mất, song cũng không tồn tại.
Gã muốn kể vớiT, quê hương có cây, có rất nhiều cây.
Có mấy mẫu ruộng trồng cau, nhưng thu hoạch không tốt lắm, sau này đều đổi sang trồng trầu. Trường tiểu học gã từng học đã hơn trăm tuổi, trong sân trường có cây phượng, mùa hè, nhiệt độ cao thắp lửa cây phượng, đóa hoa đỏ thắm bung ra trong một đêm, bọn trẻ nhặt đài hoa và cánh hoa màu đỏ, đài hoa làm thân bướm, cánh hoa làm cánh bướm, ghép thành những con bướm. Hồi nhỏ cuối tuần thằng bé hay theo cả nhà ra ruộng nhổ cỏ tưới nước, giờ cơm trưa, mẹ ra phố mua nhục viên[8], bánh đúc nóng và canh đậu phụ rán, mọi người ngồi dưới cây phượng chờ mẹ, bèn cùng làm bướm từ cánh hoa phượng, làm một hồi, một đàn bướm trắng nhỏ bay tới, chị cả khẽ hô, đừng nhúc nhích, cả đám ngồi im bất động, bướm trắng đậu trên người họ, đến khi tiếng động cơ xe máy của mẹ và mùi thơm của nhục viên đưa tới, cả bọn mới xua lũ bướm bay đi tranh nhau đồ ăn. Anh trai luôn là người đầu tiên lấy được bữa trưa, còn là phần to đặc biệt, mẹ nói con trai cần thể lực, ăn thêm một chiếc nhục viên, húp thêm hai chén canh. Trong canh của anh chắc chắn có mọc và đậu phụ, còn trong canh của các chị chỉ có đậu phụ, đôi khi chỉ là canh suông. Nó cũng là con trai, song có lẽ mẹ đã nhận ra điều gì đó từ sớm, thằng út là nó cùng húp canh đậu phụ với các chị,
Cây nhội già cạnh trường cấp hai được xem là cây thần nghìn năm, dân làng buộc lên cây tấm vải đỏ viết “Nhội tía nghìn năm soi nhật nguyệt, oai thần hiển hách rọi Vĩnh Tĩnh”, bên cây có ngôi miếu nhỏ, trước miếu còn có một tấm vải đỏ khác, trên đó viết: “Đức thánh nhội sinh trưởng nghìn thu muôn đời”. Ngoài ra còn có cây muồng tím, cây đa, tre mai xanh, trước khi xây dãy nhà phố này, ngút ngàn rừng tre mai xanh. Thường ngày mẹ răn đe thằng út không được đi vào rừng tre, có hồn ma nữ tà ác chờ bắt bé trai, còn có rắn lục nọc độc rất mạnh. Nhưng tết Đoan ngọ là ngoại lệ, mẹ dẫn nó đi vào rừng tre mai xanh đối diện hái lá về gói bánh ú, nó mở to mắt nhìn chằm chằm cây tre, song không thấy ma nữ, cũng không có rắn, chỉ có xác mèo treo trên thân tre.
Gã biết T nhất định sẽ hỏi tiếp, vậy mùa đông thì sao? Mùa đông lạnh cỡ nào? Lá những cây đó có úa tàn không?
QuêT ở miền Bắc nước Đức, thành phố nhỏ Laboe bên bờ biển Baltic, sau khi vào động tuyết lớn chôn vùi tất cả, cây trụi cỏ khô, mãi đến tháng Ba, tháng Tư mới nhú chồi non. Gã nhớ cái lạnh thấu xương đó, gió rét sắc như dao, vừa thổi tới liền gọt đi chóp mũi. Lễ Giáng sinh năm đó họ về quê nhà củaT, đài khí tượng nói đây là mùa đông lạnh nhất sau khi Đông Tây Đức thống nhất, nhưng bầu không khí ở bàn ăn tối còn thấu xương hơn cái lạnh bên ngoài, T và cha cả ngày không nói năng, nhịn đến bữa tối mới bắt đầu cãi vã, chaT cầm đĩa ăn ném xuống đất, đá đổ cây Giáng sinh, một mớ từ vựng tiếng Đức xa lạ quăng về phía người ngoại quốc là gã. Gã nghe không hiểu gì hết, câu chữ không thể diễn dịch lẽ ra không có sức sát thương, song giọng điệu và nước bọt đó đều là thịnh nộ, mấy từ đơn bẩn thỉu gã cũng nghe hiểu, gã xác định mình là mục tiêu nhục mạ. MẹT mở cửa lao ra ngoài, gã theo ra, đóng cửa lại, nhốt kín tiếng tranh cãi gay gắt trong nhà. Ngoài ngôi nhà nhỏ bên bờ biển Baltic không có đèn đường chiếu sáng, gã và mẹT đứng trong vườn hoa, không có ánh trăng, đêm đen nuốt hết mọi thứ. Trước nhà là mênh mông biển cả màu đen, không có mảy may tiếng hải triều, âm 10 độ, gã đoán sóng biển đã đóng băng rồi thì phải? MẹT cố châm thuốc, gió biển lồng lộng chợt đến, liên tục nuốt chửng ngọn lửa trên bật lửa, gã giơ tay giúp che gió, điếu thuốc bén lửa. Gió đi khỏi, hết thảy đều đã chết, xích đu trong vườn hoa đã chết, cây táo đã chết, thảm cỏ đã chết, tiếng thủy triều đã chết, biển Baltic đã chết, gã cảm thấy mẹT bên cạnh dường như cũng đã chết, đôi mắt không có ánh sáng, không có tiếng hít thở, chỉ châm thuốc nhưng không hút, rõ ràng đang khóc nhưng không có nước mắt. Gã cũng không chắc mình có còn sống chăng, chưa mặc áo khoác đã chạy ra theo, cái lạnh từ gan bàn chân luồn lên trên, đôi tay mất cảm giác, thế giới tối mịt. Thứ duy nhất còn sống là điếu thuốc kia, lặng lẽ cháy.
T đá bật cửa, tay xách va li, không ngừng ném những quả lựu đạn chửi bởi về phía người cha trong nhà. T tìm thấy tay gã trong bóng tối, nói chúng ta đi thôi, tôi không bao giờ trở về cái nơi bị nguyền rủa này nữa. Họ đội gió rét kéo va li chạy một quãng đường, gió lạnh từ khoang mũi xâm nhập cơ thể họ, chưa chạy được bao xa, cả hai đã dừng lại ôm nhau bên bờ biển, thở hồng hộc. Gã vẫn không biết hai cha con rốt cuộc vì sao cãi lộn, gã chỉ biết rằng T đang khóc.
Họ ngồi đại xuống bờ biển, lôi tất cả quần áo trong va li ra tròng lên người. T nói một tràng dài tiếng Đức, sực nhớ gã nghe không hiểu tiếng Đức mới chuyển sang tiếng Anh, rằng tôi và cha tôi dùng tiếng Đức cãi nhau ra nông nỗi này, xin lỗi, tôi quên mất phải nói tiếng Anh với anh. Chào mừng đến quê hương của tôi, Laboe. Nào, nói ba lần nhé, Laboe, Laboe, Laboe, khó đọc lắm đúng không? Chữ o đó đặt chung với chữ e, đành chịu thôi, phải phát ra một âm kỳ lạ, tiếng Đức rất kỳ lạ, sau này anh từ từ học là biết. Nơi này là Laboe, phía nam bờ bên kia là thành phố lớn Kiel. Vịnh này gọi là Kieler Förde, vịnh Kiel, sau khi ra khơi sẽ gặp biển Baltic. Đây chính là nơi tôi lớn lên, bây giờ anh không nhìn thấy, nhưng thật ra trước mặt chúng ta là một bãi cát trắng rất đẹp, tôi đã trảiI qua vô số mùa hè ở đây, bơi lội, tắm nắng, cua gái, cua trai, cho đến khi tôi gặp anh. Cả mùa hè, tôi nằm dài trên bãi cát này ngắm thuyền bè trên vịnh, tôi thích nhất là ngắm tàu du lịch cỡ lớn, từ Kiel đi đến các nước Bắc Âu, sau đó đi khắp thế giới. Tôi yêu bãi cát này, nhưng tôi cũng hận bãi cát này, cát vây hãm tôi ở đây, tôi chẳng đi đâu được. Men theo bãi cát này đi mãi về bên kia, có con tàu lặn đậu trên cát, hồi nhỏ tôi thường tưởng tượng mình lái chiếc tàu lặn đó, đến khắp nơi trên thế giới chơi. May mà cuối cùng tôi bắt tàu hỏa đi Berlin, mới gặp anh.
T đã nói rất nhiều, rất lâu, không dừng lại được, vừa nói vừa khóc. Cậu ấy nói, ở đây có một hàng cây, mùa xuân bắt đầu mọc lá mới, xanh mướt tuyệt đẹp, chỉ trong một đêm cây đã chết liền sống lại. Quê anh thì sao? Có cây gì? Mùa đông cây có rụng lá không?
Lúc đó gã không trả lời, viện cớ lạnh, nói tôi lạnh sắp chết rồi đây, chúng ta mau tìm một khách sạn qua đêm thôi. Hay là chúng ta đi về phía bên kia? Đi tìm chiếc tàu lặn kia, ngủ trong đó được không? Ngủ đẫy giấc trước, hôm sau lái tàu lặn đi, có thể lái đến Đài Loan.
Hiện giờ gã cuối cùng cũng về đến quê hương mình, cái vùng đất quỷ tha ma bắt này, gã muốn nói vớiT, mùa đông ở chốn này vẫn xanh tươi, cây không điêu tàn, cỏ không ngừng sinh trưởng. Mùa đông thời gian nắng chiếu rút ngắn lại, nhưng ban đêm không tăm tối, vì có rất nhiều ruộng cúc. Hoa là nông sản hàng hóa quan trọng của quê gã, để điều chỉnh thời kỳ sinh trưởng của hoa, nông dân trồng cúc đã lắp hàng nghìn bóng đèn trong ruộng, mô phỏng ánh sáng mặt trời vào ban đêm, nhằm ức chế hoa cúc nở rộ. Vừa chập tối, nông dân thắp đèn, ruộng các liền trở thành một biển đèn, không cần ngước đầu tìm sao trăng, làng quê nhỏ bé bình thường này đã lốm đốm ánh sao. Sản lượng hoa cúc tăng mỗi năm, nhiều nông dân lao vào trồng hoa cúc, nên diện tích ruộng cúc làm người ta phải kinh ngạc, quanh năm đều có số lượng “khủng” những bóng đèn sáng lên vào buổi tối, xua đuổi đêm đen.
Cách dãy nhà này không xa bát ngát ruộng cúc, “T à! đây là một vùng đất nhỏ không có đêm đen, cậu có tưởng tượng được không?”
Quê hương có ngần ấy cây cối hoa cỏ, nhưng thứ gã muốn kể vớiT nhất là cây khế.
Sáng sớm ra gã đã bắt tàu hỏa về quê, tàu chậm của Đường sắt Đài Loan (TRA), ga nào cũng dừng, Vĩnh Tĩnh cũng dừng. Ga Vĩnh Tĩnh là nhà ga không người, không có nhân viên trực, hiếm có hành khách lên tàu xuống tàu, xung quanh ga là phong cảnh nông thôn đồng bằng miền Trung đảo, nhà tôn gỉ sét, ruộng lúa hưu canh, kênh nước khô cạn. Gã rõ ràng xuất thân từ đây, vậy mà xuống tàu lại không biết Đông Nam Tây Bắc, vừa hay gặp được một ông bác vác bao ngô đi vào ga, đành hỏi bằng thứ tiếng Đài cứng nhắc, đường Vĩnh Tĩnh đi thế nào? Ông bác vừa mở miệng đã thấy vệt trầu đỏ choét, giơ tay chỉ đường, nói ông ta cũng đi đường đó tới đây, chàng trai trẻ, cậu không có di động à? Dùng bản đồ trên di động là được rồi.
Gã lắc đầu. Gã thật sự không có di động, trong tù cấm dùng điện thoại, sau khi ra tù, gã biết mọi người đều dùng di động kết nối với thế giới, nhưng gã đã mất liên lạc với thế giới, gã là con ma đã biến mất, tạm thời vẫn không muốn trở về nhân gian, nên không dùng di động.
Theo hướng ông bác chỉ, gã bắt đầu đi, quyết định không về dãy nhà đó vội, mà dạo vòng quanh quê, đi lạc lại hỏi đường. Gã sợ bị nhận ra, dù gã xa quê bấy nhiêu năm nhưng chú bác dì cậu mợ đều vẫn ở đây. Kéo mũ sùm sụp rảo bước, xác định bốn bề chẳng có ai gã mới ngẩng đầu lên. Ngang qua cung Vĩnh Hưng, trong trí nhớ là một ngôi miếu nhỏ, hóa ra là kiến trúc cung điện bề thế ba tầng. Phía trước cung Vĩnh Hưng có một khu đất trống, trước kia thường tổ chức tiệc mời và tiệc cơ động, cha dẫn gã đi dự hội miếu, lạy Tam Sơn quốc vương. Tiếp theo ngang qua cung Thanh Phúc, gã nhớ là miếu thổ địa màu nâu thấp bé, sao giờ dáng vẻ hoàn toàn không khớp với ký ức?
T này, giờ tôi cũng giống như cậu, không có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng tôi rất muốn cho cậu xem, đây đều là những miếu thờ thuở bé tôi thường đi. Còn có cung Vĩnh An, Thành Cước Ma, cung Cam Lâm, một vùng đất bé tẹo lại có đến lắm miếu Đạo giáo. Hồi nhỏ tôi lên cơn sốt, mẹ không dẫn tôi đi bác sĩ mà đến miếu vái lạy, gọi vía, nhận lá bùa vàng tươi từ tay ông từ, châm lửa đốt bùa hòa vào nước, cho tôi uống nước bùa. Tôi đoán cậu nghe tôi kể những chuyện này sẽ há hốc miệng, từ kẽ răng rớt ra cả đống câu hỏi.
Trong ngần ấy miếu, gã muốn thăm Thành Cước Ma nhất. Đó là ngôi miếu nhỏ nơi mẹ tụng kinh, đó là ngôi miếu nhỏ nơi xem phim điện ảnh, đó là ngôi miếu nhỏ nơi giết lợn, đó là ngôi miếu nhỏ nơi nướng xúc xích, đó là ngôi miếu nhỏ nơi hôn nhau. Trong nhà tù Đức, gã thường mơ thấy ngôi miếu này. Trong giấc mơ, Thành Cước Ma luôn mở rộng, cây to sau miếu không ngừng vươn cao, mơ suốt nhiều năm, trong cõi mộng miếu biến thành miếu lớn trăm tầng, cây cao chọc trời, sân trước miếu liên tục chiếu bộ phim điện ảnh đầu tiên gã xem trong đời. Gã đã quên tên phim, nhưng nhớ là phim về kháng chiến chống Nhật. Gã ngồi trên đùi Quần Đùi Đỏ xem phim, cảm nhận được trong chiếc quần đùi đỏ có thứ thần bí gì đó từ từ cứng lên.
Gã đi đến chợ Lớn, nhiều dân quê đang bận rộn mua đồ cúng rằm tháng Bảy, nhưng sạp nhục viên khoái khẩu của gã hồi nhỏ không thấy đâu nữa, quy mô chợ nhỏ hơn thấy rõ, gã nhớ có cả trăm hàng rau hàng thịt kia mà, sao bây giờ lèo tèo vài sạp hàng, có lẽ quy mô chợ không đổi, là trí nhớ của gã teo lại chăng. Gã đi tiếp mấy con phố, nhận ra chuỗi siêu thị đã mở chi nhánh ở đây, bảng hiệu bắt mắt, bên trong có hàng hóa đến từ các nơi trên thế giới, rất nhiều ông già bà cả đều đến đây mua thức ăn. Hóa ra, siêu thị nhượng quyền mới toanh đã thay thế chợ Lớn.
Đến “Mì Ngoại Tỉnh” ăn một bát xúp thịt, kèm một bát mì tương vừng, sai vị, vừa cho vào miệng đã biết không phải do ông chủ nấu. Hóa ra, ông chủ người Tứ Xuyên đến Đài Loan sau chiến tranh lúc này ngồi trên xe lăn, bên cạnh kè kè bình oxy, mắt vô hồn. Hiện giờ người phụ trách nấu mì là anh con trai, xúp mì nhạt, tương ớt thiếu cay, đời sau không thể tái hiện mùi vị của đời trước. Ăn mì xong ra ruộng đi dạo, nhiều ruộng trầu đều không thấy nữa, bao la đất nông nghiệp hưu canh, bảng “Ruộng bán” cắm trong đất. Ruộng cúc trong trí nhớ hiện giờ là một motel[9] bỏ hoang, không thấy hoa cúc, nhà nghỉ hoang phế, cỏ dại cao lút đầu người. Phòng học của trường tiểu học mới tinh, hoàn toàn không khớp với ký ức tuổi thơ của gã, trong thư chị hai từng kể, động đất lần đó khiến trường tiểu học ở quê xuất hiện nhiều vết nứt đáng sợ, tam hợp viện nhà bà nội bị sập, trường tiểu học được xây lại, còn tam hợp viện bị san bằng luôn. Chị hai nói trong thư, tam hợp viện cuối cùng đã biến mất, tốt thật. Biến mất, thì tuổi thơ không còn chứng cứ tồn tại, chẳng nhìn thấy gì càng dễ lãng quên. Dốc hết sức muốn khép thời niên thiếu lại, nhưng trời sẩm tối vừa nhắm mắt, tam hợp viện nhấp nháy, dãy nhà sáng trưng, mãi vẫn chưa biến mất. San bằng chí ít không có bằng chứng thực thể, gã sợ động đất, cũng nể động đất, thứ không thể sup đổ trong ký ức đã hoàn toàn bị hủy hoại chỉ trong mấy giây.
Gã đương nhiên đã thấy Bạch Cung, cột to kiểu Hy Lạp, hàng rào chạm hoa vàng óng. Sơn trắng lấp lánh dưới ánh nắng, hẳn là gần đây lại bồi thêm sơn mới. Gã đứng xa xa nhìn Bạch Cung, không đến gần. Bạch Cung vấy máu, một vở kịch xà phòng diễn dở tệ. Gã không dám lại gần, gã sợ. Bạch Cung mơ thấy trong tù mấy năm qua thật ra là Bạch Cung màu đỏ.
T thân yêu, chuyện về Bạch Cung tạm thời không kể với cậu. Tôi muốn kể về cây khế trước.
Vẫn còn đây, vườn khế vẫn còn đây. Gã đi qua con đường mòn ven ruộng, tìm thấy vườn khế thân quen. Trải qua bao sóng gió, những cây khế ấy vẫn đứng sừng sững, thân cây dường như càng to khỏe, mặt đất đầy khế chín nẫu, không ai nhặt, rào giậu liêu xiêu, chắc là đã bỏ hoang nhiều năm rồi. Trên cây khế lúc lỉu quả, gã hải một quả khế chín mọng, ngoạm miếng to, miệng ngập tràn vị chua chua ngòn ngọt, đột nhiên trở về năm bảy tuổi.
Thằng bé chơi trốn tìm với trẻ con hàng xóm, nó chạy giỏi nhất cũng nấp giỏi nhất, chẳng ai bắt được nó. Lần đó nó lao ra đằng sau dãy nhà phố, vượt qua ao cá, băng qua một vạt hoa bách nhật hồng đỏ tía, nhảy qua kênh nước lềnh bềnh chó chết lợn chết, chạy qua tam hợp viện đang phơi trấu, xộc vào nhà người nuôi ngỗng, ngang qua xưởng nước tương, chạy mãi chạy mãi, cuối cùng đến một vườn khế. Đó là biên giới mà cơ thể nhỏ bé bảy tuổi của gã khi ấy chưa bao giờ đặt chân đến, đây là đâu? Mình rốt cuộc đã chạy bao lâu? Mình còn ở Vĩnh Tĩnh không? Mình trốn ở đây, bọn nhóc hàng xóm không thể nào tìm ra mình.
Vườn khế có rào giậu thấp tè, bên trong có vô vàn cây khế, vừa hay đang độ nở hoa, những đóa hoa nhỏ năm cánh đỏ tía ló ra từ thân cây, trông có vẻ e ấp. Trong vườn sạch bong, trên mặt đất chẳng có chiếc lá khô nào. Bên ngoài là mùa hè đổ lửa, trong này lại gió mát hay hay, không khí thoang thoảng hương quả chua ngọt. Nó chọn cây khế to khỏe nhất, trèo lên, không dám thở mạnh, sợ gây tiếng động, hôm nay nó chắc chắn lại là đứa bị tìm ra cuối cùng. Lúc đó nó cảm thấy đây là góc an toàn nhất trên thế gian này, nhất định không ai có thể tìm được nó. Đợi hoài đợi mãi, nó ngủ thiếp đi. Sau khi tỉnh dậy, nó cúi đầu nhìn, thấy đỏ đỏ.
Chàng trai đen sạm cởi trần, mặc quần đùi màu đỏ, ngồi đọc sách dưới cây khế.
Anh ngẩng đầu lên hỏi: “Cu út nhà A Sơn hả?”
Cái quần đùi đỏ không ngừng phóng to trong tầm mắt nó, dần dần chiếm cứ hết thảy suy nghĩ của nó. Nó cứ đăm đăm nhìn cái quần, không thốt nên lời.
“Ôi dào, đừng sợ, ở đây an toàn lắm, bọn nó nhất định không tìm thấy nhóc đâu.”
T thân yêu, ngay lúc đó, tôi lập tức đã phải lòng chàng trai mặc quần đùi đỏ dưới cây khế.
Thục Thanh bỗng dưng rất muốn ăn canh khế.
Canh khế nóng hổi, đựng trong bát sứ tròn màu trắng ngà, trước khi ăn thêm hai thìa canh đường cát, dùng lúc bị cảm, giúp thông nghẹt mũi, bớt sưng họng. Mùa đông giá rét hai tay ôm bát sứ tròn, hơi bốc lên từ canh khế màu nâu sao mà nức mũi xốn mắt, nhìn chằm chằm vào canh nóng đùng đục, như thể lòng bàn tay đang ôm hồ nước trong núi mây khói mịt mờ. Mùa hè ăn canh ướp lạnh, thêm vào thật nhiều đá viên, rưới mật hoa nhãn, khuấy lung tung xuôi hoặc ngược chiều kim đồng hồ, vui sướng rót cả hớp to vào cơ thể, vầng trán tức thì mát lạnh, cứ như đời này chưa từng nghe nói đến mùa hè vậy.
Hồi nhỏ nhà thường có khế, được đưa đến cả làng màu vàng cam chín muồi, lấy bàn chải mềm nhẹ nhàng rửa sạch, rồi lấy dao gọt bỏ rìa quả, thái lát ngang thành một đĩa những ngôi sao, rưới sữa đặc, rắc bột ô mai, chấm đường đỏ, ăn xong miệng ngát hương. Mẹ bỏ số khế ăn không hết vào lọ thủy tinh to ướp muối, niêm phong kín một tuần là ăn được, đem nấu canh gà ngọt thanh cùng táo đỏ và kỷ tử, hoặc bỏ vào trà đen. Thục Thanh thích nhất là canh khế, khế ướp muối nghiền lấy nước bỏ bã, đun lửa liu riu cho sôi, dọn lên bàn mới thêm đường hoặc mật ong.
Mỗi lần bị đánh, cô lại muốn ăn canh khế.
Nhưng cô không cho phép mình ăn.
Trước kia ở làng quê miền Trung đảo, mẹ dạy mấy chị em cô trồng hoa quả, trong ruộng có đu đủ, chuối, lê ki ma, chanh dây, ổi, thu hoạch không giữ lại cho nhà mình mà đem ra chợ Lớn bày sạp bán. Người ta thường nói “con gái thứ ba tốt số”, cha thương mẹ yêu, cả đời hưởng phúc phú quý. Cha mẹ quả thực vô cùng cưng chiều đứa con gái thứ ba là cô, biết cô thích ăn ổi, lúc nào cũng lén để lại vài quả cho cô, cô tìm một góc lẳng lặng ăn hết ổi, không chia sẻ chút nào với các chị em khác.
Nhưng bây giờ cô tuyệt nhiên không ăn ổi nữa. Những thứ trước kia thích ăn, bây giờ thảy đều không ăn. Những thứ trước kia căm ghét, bây giờ cô ép mình động đũa, gắp đầy vun cả bát, thậm chí không ăn kèm với cơm, mỉm cười chậm rãi nhai, ăn hết sạch. Hồi trước cô ghét nhất là ớt xanh, cà tím, khổ qua, bông cải xanh, cô cho rằng màu sắc, hình dạng của những thức này đều gần với quái vật, xấu xí dị dạng thì thôi đi, lại còn trong ngoài như một, mùi vị, kết cấu đều kỳ quặc, mỗi lần ăn nhất định sẽ nôn. Nhưng bây giờ cô ăn những rau củ này, đặc biệt thường xuyên ăn khổ qua, mùi vị càng đẳng càng tốt, bề mặt càng sần sùi càng tốt. Cô thích trốn trong bếp, nhắm mắt vuốt ve vỏ khổ qua, có những nốt sần như khối u, lồi lõm xù xì, cô đoán bên trong mình chạm vào cũng có cảm giác này nhỉ? Dưới bề ngoài tơ lụa bóng láng của mình, thật ra đang ẩn giấu những khối u. Khối u cứng rắn ngoan cố khô khốc, ngày đêm lặng lẽ lớn lên, không có thuốc nào chữa được, không ngừng chuyển hóa ác tính. Cô tự tưởng tượng, nếu có cách lộn mình từ trong ra ngoài như chiếc áo len thì sẽ lộ rõ bộ mặt thật, bản thân vốn là một con quái vật mọc u xấu xí. Vì vậy cô mặc đồ hàng hiệu, lúc mặc thử đọc kỹ nhãn ghi chất liệu, nếu là 100% len cừu, len hải mã, len cashmere, tơ tằm thì thanh toán, hễ thấy polyester thì trả về giá hàng. Cô cần lớp võ trang cao quý tinh tế bóng bẩy nhất mới có thể che đi những vết bầm cần che, thế giới này mới không phát hiện cô thật ra là một trái khổ qua mọc đầy u. Trên da cô có rất nhiều u, sưng và đen sì, có một dạo sau khi hồi phục chúng mọc vào trong, nấp vào bên trong cơ thể cô, bên ngoài không sờ thấy, song xương cốt mạch máu nội tạng đều cảm nhận được. Cô ép mình ăn nhiều khổ qua và nhất định tươi cười ăn hết, vì bản thân cô chính là trái khổ qua mọc cả đống u, ăn khổ qua giống như đem bản thân ra xơi hết. Miếng này đến miếng kia, xơi sạch chính mình, cho đến khi bản thân từ từ biến mất.
Ăn khổ qua ăn ớt xanh ăn cà tím cũng là đoạn tuyệt với chính mình trong quá khứ.
Cha mẹ biết cô không thích cà tím, hồi nhỏ trên bàn ăn hiếm khi xuất hiện cà tím. Hồi nhỏ sống ở tam hợp viện, năm chị em gái và cha mẹ cùng chen chúc trên một chiếc giường, cạnh giường là một cái bàn ăn tròn, cơm canh đạm bạc, chẳng mấy khi có thịt cá, ba bữa luôn là cháo khoai lang. Có lần cha khiêng về một thùng cà tím, nói là ông cậu cả cho, mẹ vội lấy nồi to thắng mỡ lợn, bỏ tỏi vào phi cho thơm, tiếp theo bỏ cà tím thái miếng vào, thêm nước đậy nắp nồi lại kho, cuối cùng nêm đường cát và nước tương. Cà tím kho nước tương màu nâu tím bóng nhẫy bày lên bàn, cả nhà ăn ngon lành với cháo, chỉ có cô không hề động đũa, thà đói bụng chứ không ăn miếng nào. Sau đó, trong nhà không bao giờ xuất hiện món cà tím nữa.
Bây giờ cô thường ăn cà tím. Cô tìm thấy cà tím của Ý ở siêu thị đắt đỏ trong trung tâm thương mại Đài Bắc, tròn vo như quả bowling, vỏ tím tươi, còn có cà màu trắng nhập khẩu từ Israel, đều bỏ hết vào giỏ hàng. Cô mua thức ăn không buồn nhìn giá niêm yết, mua đầy một giỏ thực phẩm đắt tiền mà mình ghét, về nhà ép mình ăn hết.
Có lần cô mặc chiếc đầm hở lưng, để lộ vết bầm trên lưng, đang vội ra ngoài dự tiệc cưới thì chồng tóm lấy cánh tay cô bảo: “Em cố ý làm vậy đúng không? Như vậy mọi người đều sẽ hỏi vết bầm trên lưng em vì sao mà có. Nói xem, em định trả lời thế nào? Em nói xem. Chúng ta sắp muộn rồi, em có năm phút, đi thay đồ đi.”
Chồng cô luôn tranh thủ từng giây từng phút, làm việc gì cũng phải nhanh, 7 giờ tối hằng ngày, đúng giờ xuất hiện trên bục ghi hình của kênh thời sự. Anh chưa bao giờ đến muộn, thời gian phân bổ chính xác, không cho phép bất cứ sự trì hoãn nào. Chỉ còn lại năm phút là phải ra khỏi nhà, tiệc cưới hôm đó chồng cô được mời lên bục phát biểu, nhất quyết không thể đến muộn. Chồng cô tận dụng năm phút ngắn ngủi đó, cầm kéo cắt nát chiếc đầm hở lưng của cô, nện nắm đấm vào người cô, tuyệt đối không vả mặt cũng không giật tóc, lôi từ tủ áo ra một bộ đồ dài tay màu đỏ bắt cô thay. Năm phút, cắt áo đánh người mặc đồ, không dây dưa giây phút nào, cô không khóc không gào, mặc đồ chỉn chu, kiểu tóc không rối, lớp trang điểm hoàn hảo tinh tế, năm phút sau, họ đúng giờ xuất phát. Chồng cô là bậc thầy điều khiển con rối, cô là con rối buộc dây, ngoan ngoãn mặc anh sắp đặt, im lặng trải qua năm phút này. Là con rối, thế nên tay không phải của cô, chân không phải của cô, cả thân thể đều thuộc về chồng, biểu cảm mỉm cười là vẽ lên, tứ chi bị giật thô bạo, nét mặt vẫn mãi mãi mỉm cười.
Tan tiệc cưới về đến nhà, đài truyền hình gọi điện, có vụ án mạng nghiêm trọng, bảo anh lập tức tới trường quay, kết nối với phóng viên tại hiện trường vụ giết người. Cô tức tốc lôi từ tủ áo ra hai bộ com lê sạch sẽ, nhanh chóng phối sẵn cà vạt và sơ mi, bỏ nước cốt gà nhân sâm và vitamin vào túi, mỉm cười tiễn chồng đi làm. Cô cùng chồng xuống bãi đỗ xe dưới tầng hầm, gặp hàng xóm là ủy viên lập pháp, chồng hôn má cô, lái xe đi. Ủy viên lập pháp ngưỡng mộ ra mặt: “Ôi chao, mỗi lần gặp anh chị tôi thấy buồn tủi ghê gớm, sao có thể thắm thiết nhường này chứ. Bà phát thanh viên có chị em gái không? Giới thiệu với nào.” Cô cười cho qua chuyện, nhận ra tiếng cười của mình quá khô khan, không ổn không ổn, tiếng cười ha hả phải ướt át một chút, rót tình cảm vào, không thể để lộ bí mật bên trong khô cạn, nụ cười trên mặt phải căn chỉnh đẹp: “Ha ha, tôi không có chị em gái, huống chi ngài ủy viên được săn đón như thế, đâu cần tôi giới thiệu? Tôi đọc tuần san kỳ trước, chẳng phải mới chụp được ảnh anh và cô minh tinh đó sao? Ở ngay trước tòa nhà chúng ta nhỉ?”
Vội vàng vào thang máy, soi gương nhìn lại sự đãi bôi vừa rồi - giọng điệu có thành khẩn không? Nụ cười đủ dịu dàng chứ? Khẩu âm thì sao? Có phát âm chuẩn không, có để lộ giọng nhà quê không? Chồng cô bảo, khẩu âm trước kia của cô đặc mùi phèn, giọng mũi kỳ quái, vừa mở miệng đã tuyên bố xuất thân mất mặt của mình.
Cô về đến nhà, vào bếp mở tủ lạnh, thấy cà tím hình rắn, bèn không rửa không nấu, cầm lên gặm luôn. Cô ăn hết nguyên một quả, không nên không khóc không gào, đúng là người vợ tốt được huấn luyện bài bản. Trong căn chung cư lớn nhìn ra cảnh hồ xung quanh không bóng người, chẳng ai nhìn thấy cô, cô vẫn là một người vợ tốt. Cô có cách vừa ngắm hồ, vừa ăn hết quả cà tím khó ăn thế này, ắt có cách tiếp tục làm người vợ tốt. Ăn chậm quá, cô nhìn chăm chú con thủy điểu màu trắng trên hồ, tự nhủ, phải ăn hết quả cà sống trước khi con chim bay mất. Cô nhanh chóng nuốt hết cà, con chim trắng giũ mình, vỗ cánh, bay qua mặt hồ.
Đám cưới của cô không có người nhà gái tham dự. Chồng không cho phép người nhà cô bước vào khách sạn đó, nói chỉ cần nhìn thấy người nhà cô, sẽ lập tức hủy bỏ hôn lễ. Anh cho cô xem thông cáo báo chí đã biên soạn, nếu hôn lễ bị hủy sẽ fax cho các hãng truyền thông lớn. Bản thông cáo hành văn lạnh lùng, lấy câu chuyện tanh mùi máu trong hiện thực làm nền, thêm mắm giặm muối, nhào nặn ra một câu chuyện không tồn tại. Lối kể chuyện có lợi cho nhà trai, chà đạp nhà gái. Phát thanh viên tỏ vẻ bình tĩnh, nói anh ta là người làm tin tức, quyền phát ngôn nằm trong tay anh ta. “Vở hài kịch tối qua, em thấy em có cách nào biện bạch không?”
“Đó là em gái em đấy!”
Phát thanh viên châm thuốc, cô hoàn toàn không biết anh ta hút thuốc. “May thay. Tối qua thấy hình, tôi liền nghĩ may mà người tôi chọn hồi đó không phải em gái em. Thật đáng tiếc, một gương mặt đẹp như thế. Nhanh lên, gọi điện thoại bảo cha em cứ ở bệnh viện Chương Hóa đừng chạy tới Đài Bắc. Ông ấy cũng có tuổi rồi, sức khỏe không tốt lắm kia mà? Mau gọi điện thoại đi. Hôm nay nếu tôi trông thấy cha em, hoặc để bất kỳ ai biết nhà vợ chưa cưới của tôi chính là nhà em, tôi sẽ... Tôi nói được làm được.”
Tờ thông cáo báo chí đó, cô vẫn giữ lại. Chồng là người kể chuyện, cô không có tiếng nói, không có chức năng kể chuyện.
Hôm nay rằm tháng Bảy, nhân viên quản lý tòa nhà bày mấy cái bàn tròn ở sân nội khu, các hộ trong chung cư có thể tự chuẩn bị đồ lễ để cùng cúng. Cô đương nhiên biết chồng cấm cô tham gia cúng tập thể, sau khi kết hôn cô vào giáo hội của chồng, chịu rửa tội trở thành tín đồ Cơ Đốc, từ đó không thể cầm hương cúng bái. Hôm nay cô ra sân nội khu giúp nhân viên quản lý bày bàn, tán gẫu chuyện ma rằm tháng Bảy với cánh chị em, cô kể hồi nhỏ ở dưới quê, sợ nhất nhưng cũng thích nhất là rằm tháng Bảy. Sợ, vì Quỷ Môn Quan sắp mở, nghĩ đến hình ảnh bầy ma quỷ bay lượn, buổi tối nằng nặc đòi chen vào ngủ với cha mẹ, may mà cha mẹ thương tôi nhất, luôn cho tôi ngủ cùng. Nhưng cũng rất thích ngày lễ này, cha mẹ tôi rất coi trọng rằm tháng Bảy, sẽ mua đồ ăn cực kỳ thịnh soạn cúng quỷ thần các nơi, tôi thích ăn gì họ liền mua nấy, cả bàn đều là những thứ tôi thích ăn.
Vừa vào nhà, cô lập tức bị xô ngã xuống đất. “Tôi thấy em cầm hương.”
Cách chồng cô đánh người ta rất khéo, ra sức vừa đủ, tránh mặt và hai cánh tay, chính xác đánh trúng mục tiêu, khiến cô đau đớn, chắc chắn bầm tím song không chảy máu. Có mấy lần chồng để móng tay hơi dài, cào ra vết máu trên lưng cô, bèn trách da cô mỏng quá. Sau đó anh ta chỉ ngắm đúng chỗ có quần áo che chắn, không còn chảy máu nữa.
“Đã dặn em mấy năm rồi, không được cúng, vậy mà em cứ không nghe. Đừng làm chuyện kém sang như thế, em bây giờ không phải dân quê. Tôi phải đi làm rồi, hôm nay em không được ra ngoài nữa, tối tôi mang bữa khuya về.”
Cô lấy đá viên trong tủ lạnh ra chườm chỗ đau, tên của em tư đột nhiên xuất hiện trên điện thoại.
“Chị ba! A lô! Chị ba phải không? Thục Thanh phải không? Chị mau về nhà đi, chị cả chị hai đều không đếm xỉa đến em, chị hiểu em nhất mà, mau về nhà đi! Mẹ đâu mất rồi! Mẹ đâu mất rồi! Mẹ đâu mất rồi! Chị có nghe thấy không?”
Ngón tay cô nghịch viên đá. Muốn húp một bát canh khế quá đi mất! Hôm nay nóng quá, muốn húp canh lạnh.
Hồi nhỏ cô sống ở tam hợp viện, hoàn toàn không biết trên đời có thứ đá viên này. Một hôm cha đi làm việc vặt chở hàng, dẫn cô theo cùng. Họ đến nhà máy chở hàng, rõ ràng là giữa hè nóng bức, vậy mà nhà máy này lại là một thế giới khác, mát rười rượi! Công nhân khiêng từng bao những hình khối màu trắng, cô chưa bao giờ thấy thứ này. Cha nói, Thục Thanh à, đây chính là “đá cục”, tiếng phổ thông gọi là “đá viên”. Cha nhặt lấy một mẫu đá cục trên mặt đất, soi dưới ánh nắng cho cô xem, sau đó bảo cô há miệng ra. A, cô mãi mãi ghi nhớ cái cảm giác khoang miệng lạnh buốt đó, sao thế giới này có thứ đẹp để lại ngon lành như thế chứ! Cô đoán, hẳn là người giàu mới mua nổi. Sau này lớn, cô nhất định phải kiếm thật nhiều tiền, chất đầy những viên đá cục xinh xắn này trong nhà, ăn hằng ngày. Cha ơi, sau này con sẽ dùng đá cục làm một chiếc giường, cả nhà ta đều có thể ngủ trên đó, thể thì không sợ nóng nữa.
Sau đó em trai lớn, em trai bé ra đời, cả nhà dọn đến dãy nhà kia, gia đình cuối cùng đã mua chiếc tủ lạnh đầu tiên. Cô nhớ mấy chị em gái mòn mỏi ngóng chờ khay làm đá đóng băng, mở tủ lạnh ra tận mấy lần, đợi nước đóng băng, đợi đến khi mọi người đều thiếp ngủ.
Rốt cuộc đá viên cũng thành hình, từng viên từng viên bày ngay ngắn trên bàn, óng ánh rung động lòng người, tỏa ra hơi lạnh quyến rũ. Mấy chị em ăn đá tùy tiện, bỏ đá vào canh mọc, cơm, bún xào, chè đậu đỏ, nhục viên, bánh chẻo rán, mì tương vừng, nói là thí nghiệm khoa học tự nhiên. Lấy đá viên bón cho em trai út chưa đầy tuổi, nó nếm viên đá, cau mày, cười, cau mày, rồi khóc to, lại cười, dáng vẻ rất đáng yêu. Út à, em có khỏe không? Chị cứ bảo sẽ sang Đức thăm em, em nói sẽ dẫn chị đi ngắm cái hồ lớn thật là lớn, nhưng em từng đến đây, em biết mà, chị chẳng đi đâu được cả. Bây giờ và cả sau này, chị chỉ có thể ngày ngày cái hồ trước mắt.
Cô đè mạnh viên đá lên chỗ đau, viên đá không chống chọi nổi nhiệt độ cú đấm mà chồng cô để lại, nhanh chóng tan ra. Không cần soi gương, cô biết mình chắc chắn đang mỉm cười.
Tôi là ma.
Để con ma như tôi kể chuyện ma, rất thích hợp nhỉ?
Tôi chết rồi, lại vẫn đang “tồn tại”, độc thoại ở đây. Dạng “tồn tại” của tôi không phải ánh sáng, không phải âm thanh, cũng không phải bóng hình, không phải hiện tượng vật lý, khoa học không thể chứng thực. Sự “tồn tại” của tôi không thể lượng hóa, không thể đo lường, không có đơn vị tính.
Ký ức là chất môi giới cho sự tồn tại, truyền gửi của tôi, thông qua ký ức của tôi và ký ức của người khác, tôi được “tồn tại”, ở đây, ở đó, ở chỗ này, ở chỗ nọ. Tôi lệ thuộc vào ký ức, ký sinh trên ký ức, nơi nào có ký ức, nơi nào có chuyện kể, thì tôi ở đó. Lịch sử truyền miệng, thế là tôi ở trong cổ họng, khoang miệng, đầu lưỡi của mọi người. Câu chuyện viết tay, cho nên tôi ở ngòi bút, chảy tuồn tuột lên trang giấy, trước khi đốt giấy xé giấy vò giấy, tôi định cư trên giấy, nhưng cho dù giấy bị hủy thì con người có khả năng đọc thuộc lòng, giấy đã in dập một bản sao hoàn mỹ trong đầu óc, thế là tôi định cư trong tâm trí. Ký ức đầy bí mật là môi trường thích hợp của tôi, không vạch trần, giấu kín, bẩn thỉu, xấu xa, thối rữa, những bí mật vùi sâu chôn chặt cả đời là chất môi giới dịu dàng nhất với tôi.
Còn có cây, nước, đất, cỏ. Cây đa tôi thường trèo nhớ tôi, cây nhội tôi từng vải nhớ tôi, rừng tre tôi từng chặt nhớ tôi, ruộng đồng tôi từng năm nhớ tôi. Vùng đất nhỏ này nhớ tôi, tôi sống chết đều ở đây, cho nên tôi làm ma ngay tại đây.
Song ký ức không đáng tin, nồi cháo trên bàn, cả nhà chín người ăn hết, trước tiên hỏi A Thiền, rồi hỏi tôi, tiếp theo hỏi năm đứa con gái, lại hỏi hai thằng con trai, cháo vừa ăn xong là đặc hay loãng? Mỗi người đều sẽ có hồi tưởng khác nhau, hơn nữa câu trả lời không chỉ là đặc hay loãng, giữa đặc hay loãng có nhiều cái “giữa”. Dùng một sợi dây để giải thích cái “giữa” này nhé, giữa đặc hay loãng là một sợi dây, bất cứ ngoại lực nào cũng không thể khiến sợi dây này thẳng tắp, dây uốn khúc vòng vèo, hình thành nhiều góc ngoặt, khúc cong, có những chỗ còn thắt nút. Mỗi khúc cong đều có chỗ tối, có bóng râm cho sự che đậy, xếp đặt lời nói dối. Người nói loãng thầm mong muốn cháo đặc. Người nói đặc lại khao khát cháo đậm đà hơn.
Nhưng chính vì có ngần ấy cái “giữa” nên tôi có thể tìm thấy chất môi giới bất cứ lúc nào, chỗ tối chất đầy bí mật chính là chất môi giới tốt nhất, ấm áp ẩm ướt, do đó tôi luôn “tồn tại”.
Tôi chỉ là đứa con nhà nông tốt nghiệp cấp hai ở một xã miền Trung đảo, xuống ruộng hái rau, chạy xe chở hàng, tôi làm sao có thể nói ra những lời văn vẻ này. Song cái chết là sự chuyển đổi kỳ diệu, sau khi làm ma, hết thảy giới hạn ngôn ngữ đều được gỡ bỏ trong chớp mắt. Những lời trước kia tôi không nói, bây giờ đều nói cả.
Đó gọi là lời của ma.
Lúc còn sống, tôi thật ra là một người không nói chuyện.
Từ nhỏ mẹ tôi luôn bảo tôi quá yên tĩnh, không khóc không quấy, ngủ không ngáy, không trở mình, không giống như đang sống. Có đến mấy lần, mẹ cho bú xong, tôi rơi vào giấc ngủ sâu, mẹ thấy tướng ngủ của tôi quá yên ắng, bèn cố ý lay cho tôi tỉnh dậy, lo tôi bị đột tử trong mơ, tôi thức giấc, mắt không chớp, vẫn im lặng, trong lòng mẹ tự đoán định thằng con trưởng này có thể bị thiểu năng trí tuệ hoặc câm điếc. Ký ức khứu giác sớm nhất của tôi là cao Thanh Thảo nhức mũi. Mẹ nấu một bàn thức ăn để cúng, bị bà nội quở mắng, nói thịt này không thể nấu như vậy, rau này không thể xào như thế, cúng tổ tiên kiểu này, tổ tiên chế, nếu con cháu gặp tai ương, nàng dâu là cô phải chịu trách nhiệm thế nào? Mẹ theo chỉ thị của bà nội, nấu lại một bàn, kết quả bị chửi vì lỡ giờ lành cúng kiếng, chắc chắn là cố tình để tổ tiên đói bụng, một cái tát giáng lên mặt mẹ. Mẹ tôi mỗi lần bị đánh đều nhốt mình trong phòng, lấy từ trong tủ ra một lọ cao Thanh Thảo màu xanh lá, kề sát mũi, hít mạnh. Cao Thanh Thảo có nhiều công dụng, trị bỏng, muỗi đốt, đau nhức, phong thấp đều hiệu nghiệm, mùi cực hắc, mẹ mê cái mùi đó vô cùng, hễ bị nỗi lo lắng tấn công liền ngửi lấy ngửi để, sau đó lấy cao xoa khắp người. Lần đó mẹ vừa khóc vừa xoa cao Thanh Thảo, thấy tôi ngồi bên cạnh không có mảy may phản ứng, lặng lẽ nhìn mẹ khóc, bèn bôi cao vào khoang mũi tôi. Tôi nhớ rõ cái mùi đó, đến giờ biến thành ma cũng vẫn nhớ cái mùi đó, như thể có người tay đấm chân đá trong mũi tôi vậy. Mẹ nhìn tôi cau mày, đột nhiên không khóc nữa, tiếp theo mẹ áp ngón tay dính đầy cao lên mắt tôi. Cao Thanh Thảo vung đao múa kiếm trong mắt tôi, tôi cuối cùng cũng òa khóc, mẹ cuối cùng cũng bật cười. Tiếng cười vọng đến tai bà nội, bà lập tức đẩy mở cửa phòng, xông vào véo tai mẹ, bữa tối còn chưa nấu xong mà ngồi trong phòng cười ha hả, nghe như ma nữ cười sát vách, muốn dọa người ta sợ chết à.
Cao Thanh Thảo do ông từ ở Thành Cước Ma điều chế, nói là phương thuốc thảo mộc thiên nhiên, chỗ nào khó chịu thì xoa chỗ đó. Mẹ tôi mỗi lần đến Thành Cước Ma cúng nhất định mua những mấy lọ, mỗi lần bị đánh bị mắng liền lấy ra, nên cơ thể mẹ luôn tỏa mùi bạc hà nhức mũi đó. Mẹ tôi thích đi khắp nơi cúng quỷ thần, hễ nghe nói ở đâu có miếu lớn chùa nhỏ linh thiêng bèn lập tức kéo tôi đi cúng, cầu cho bà nội chết sớm, đất đai được mùa, bốn đứa con trai bình yên lớn lên lấy vợ, lại sinh cả đám con trai, đừng bao giờ đẻ con gái, vô tích sự. Mẹ thích dẫn tôi đi cúng, vì tôi là đứa yên tĩnh nhất trong bốn anh em, đi đường xa mấy cũng không phàn nàn, không khóc không quấy. Có lần hội miếu Thành Cước Ma, mẹ gửi tôi cho ông từ, tất bật đi hóa vàng mã gieo âm dương, lầm rầm thưa chuyện với thần, rốt cuộc bà nội lúc nào chết? Bà nội mất rồi, mẹ mới có cuộc sống tốt đẹp. Tôi ngồi cạnh ông từ say bí tỉ, nghe ông lè nhè đống lời say xỉn, tôi không hiểu gì hết, chỉ lẳng lặng nhìn ông. Ông véo tôi một cái, tôi không có phản ứng, ông véo mạnh hơn, biểu cảm của tôi vẫn không thay đổi, ông thình lình rút mấy cây hương đang cháy trong lư hương nhỏ bên cạnh, châm vào cánh tay tôi.
Đau, nhưng tôi không khóc.
Mẹ tôi quay lại, nhìn thấy vết bỏng trên cánh tay tôi, ông từ nói: “Thằng con này của cô không kính trọng thần, lấy hương nghịch.” Khi chúng tôi sắp về đến tam hợp viện, mẹ lấy cao Thanh Thảo từ trong làn ra, bảo tôi há miệng, ăn hết cao màu xanh trên ngón tay mẹ. Đắng ngắt, cay sè, tôi vì thế mà miệng nôn trên tháo, mẹ khẽ giọng mắng tôi không ngớt, tao đi cầu xin cho bà nội mày chết sớm, mày khinh nhờn thần như vậy thì bà nội sẽ không chết, bà ta không chết, bảo tao sống tiếp thế nào đây?
Bà nội không chết sớm, bà sống đến một trăm tuổi. Căn nhà đầu tiên tôi mua, cách mấy căn có tiệm quan tài, tôi dọn ra khỏi tam hợp viện đã tính toán sẵn, khi mẹ tôi qua đời, con trai trưởng là tôi sẽ mua quan tài ở ngay nhà hàng xóm, chôn cất người mẹ cao Thanh Thảo.
Nhưng không ngờ mẹ tôi cũng sống trên trăm tuổi, tôi chết sớm hơn mẹ. Tôi đã đặt đóng quan tài của mình ở tiệm quan tài trước.
Hồi ức của tôi về mẹ dựa vào khứu giác. Vừa ngửi thấy cao Thanh Thảo hay ai giã nát lá bạc hà, tôi liền nhớ đến mẹ. Phải, ma quỷ tồn tại nhờ hồi ức, bản thân cũng tràn đầy hồi ức, khứu giác, xúc giác, cảm giác đau đớn, đủ loại hồi ức.
Mùi cao Thanh Thảo về sau dần dần phai nhạt. Sau khi tôi lấy A Thiền, mẹ tôi đã tìm được đối tượng mắng nhiếc cụ thể. Mẹ mắng A Thiền, sao chép y chang những câu bà nội mắng mẹ năm xưa. Đay nghiến mãi, mùi cao Thanh Thảo trên người mẹ ngày càng nhạt. A Thiền là dâu trưởng trong tam hợp viện, nhưng lại đẻ toàn con gái, mẹ tôi chì chiết từ Thục Mỹ, Thục Lệ đến Thục Thanh, sau khi con tư, con năm sinh ra, trên người mẹ tôi đã hoàn toàn không còn mùi cao Thanh Thảo.
Bà mẹ không còn mùi cao Thanh Thảo sau này không đi Thành Cước Ma cúng nữa.
Đổi thành A Thiền đi.
Đổi thành A Thiền đi cầu thần, xin rủ lòng thương, cho mẹ chồng con chết sớm một chút.
Mùa hè đó, cái mùa hè cảnh sát tìm đến. A Thiền tờ mờ sáng đã ra ngoài, cô ấy nhìn bầu trời bên ngoài nói, Vĩnh Tĩnh lâu lắm rồi không mưa, kênh nước sắp khô cạn, rau trong ruộng đều héo quắt, cứ tiếp tục thế này, thu hoạch trầu có ổn không? Cô ấy nói hôm nay Thành Cước Ma sáng sớm có pháp hội, phải đi niệm kinh với đoàn tụng kinh, tôi cảm thấy rất kỳ lạ, ai mới sớm ra đã làm lễ? Hình như là ai đó kiếm được một khoản tiền trở về lễ tạ, hay là ai đó chết? Dù sao cũng không biết là ai, đã đặt lúc tảng sáng phải lễ tạ thần. Sau khi A Thiền đi, tôi rơi vào giấc ngủ sâu.
Tinh mơ hôm đó, trời vừa sáng, A Thiền và đoàn tụng kinh cầm micro lên, bắt đầu tụng kinh ở Thành Cước Ma. Tất cả ve đực trên cái cây to sau miếu Thành Cước Ma bị đoàn tụng kinh đánh thức, ôm một bầu bực bội ngái ngủ, dốc toàn lực làm rung màng bụng, phát ra tiếng kêu ra rả định tại. Lò mổ hôm đó có hai mươi con lợn phải làm thịt, đồ tể lấy làm lạ, sao có đoàn tụng kinh dậy sớm thế, bài niệm chú xen lẫn cái ngáp ngái ngủ. Nhưng anh ta không rảnh quan tâm ngôi miếu nhỏ bên cạnh đang làm gì, anh ta chỉ muốn nhanh chóng giết lợn, lợn sống bị treo lên chọc dao nhọn, rỗng eng éc thảm thiết, nền đất màu xám lập tức bị máu nhuộm đỏ.
Ve đực, đồ tể, A Thiền đồng thanh huyền náo, đánh thức vùng đất nhỏ tĩnh lặng. Gà bị gọi dậy ó o gáy, chó bị gọi dậy ăng ẳng sủa, mèo chết treo trên cây meo meo, ngỗng vịt quang quác, nấm ở kênh nước vụt vươn cao, hoa cúc bị đèn chiếu khống chế bung nở, dân làng say ngủ bắt đầu từ từ tỉnh giấc, con gái thứ năm của tôi choàng tỉnh dậy, hắt xì mười lăm lần. Ma trong nghĩa địa cũng đã tỉnh cả. Cây khô cỏ dại đồng hoang, hoa rừng nấm mốc vỏ trấu, tất cả những thứ đã chết và còn sống, sống dở chết dở ở vùng đất nhỏ, toàn bộ đều bừng tỉnh.
Bấy giờ tôi vẫn còn sống, cũng đã tỉnh ngủ, nằm trên giường chửi thề, sao ồn ào thế.
Cảnh sát được đủ thứ tiếng ồn yểm hộ, đã lặng lẽ đến Vĩnh Tĩnh.
Cô sợ cửa sổ. Cô từ chối ánh sáng.
Hồi nhỏ sống ở tam hợp viện, cả nhà chui rúc trong căn phòng chật hẹp, năm chị em gái chen kín chiếc giường lớn, người này làm gối cho người kia, cô gối lên bắp chân chị hai, chị ba gối lên bụng cô, chị cả gối lên mông em năm. Cạnh giường có một cánh cửa sổ gỗ, nhìn ra ngoài là ruộng lúa. Cô thích nằm bên cửa sổ, giả vờ ngủ, thật ra ham ngắm trăng sao. Lúc đó cô sợ tối, ban đêm mót tiểu, không dám ra nhà xí ngoài tam hợp viện, thường nhịn tiểu đến khi trời sáng. Bọn trẻ con lân cận đều nói trong nhà xí có ma, cô sợ chết đi được. Bây giờ, cô không sợ tối, mò mẫm đi vệ sinh, mò mẫm gọi điện thoại, không sợ ma chút nào. Bây giờ cô đã biết, thứ đáng sợ trong chỗ tối không phải ma, mà là bản thân.
Hồi nhỏ, có một dạo Vĩnh Tĩnh xảy ra trộm cướp, có mấy nhà buổi tối bị đột nhập, chị cả kể nghe đâu kẻ trộm là mấy gã vạm vỡ ở nơi khác, luôn chọn đêm không trăng để ra tay, nửa đêm mò vào nhà cướp bóc, thấy phụ nữ liền cưỡng hiếp. Mẹ ra chợ Lớn mua thức ăn cũng nghe lời đồn đáng sợ về bọn trộm, nên buổi tối đi ngủ cửa đóng then cài, còn kê thêm hai cái ghế chặn cửa. Lời đồn càng loan truyền càng đáng sợ, người người lo lắng, dân làng thành lập đội tự vệ, ban đêm tuần tra ngõ tối đường nhỏ trong làng. Một đêm nọ, không trăng không sao, bên ngoài vọng vào tiếng quát tháo truy đuổi, cô giật mình thức dậy. Cha mẹ chị em trên giường đều ngủ say cả, chỉ có cô thức. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ, không thấy ruộng lúa vốn có, trước mặt là một bóng người đen đen chậm rãi áp sát cửa sổ. Một tia chớp làm cô chói mắt, cô dụi mắt, tia chớp biến mất, một người đàn ông mặt mũi mờ nhạt đứng trước cửa sổ, đang nhìn cô. Cô muốn há miệng la lên, gã đàn ông nọ đặt ngón trỏ lên miệng, ý bảo cô im lặng. Cô cảm thấy có sức mạnh nào đó trong chớp mắt cắt đứt thanh đới của mình, cả người giống như ngọn nến bị thổi tắt, chỉ có thể câm nín nhìn gã đàn ông ngoài cửa sổ, không tài nào động đậy. Gã đàn ông ngoài cửa sổ lui lại mấy bước, quần tụt xuống đến đầu gối, vừa nhìn cô vừa bắt đầu tự thỏa mãn.
Tiếng la hét càng lúc càng gần, tốc độ nhấp của gã đàn ông xa lạ càng lúc càng nhanh. Một thứ vật chất trăng trắng sang sáng phun lên cửa sổ, gã ta lại đặt ngón trỏ lên miệng, vẫy vẫy tay với cô, kéo quần lên chạy đi. Một đám đàn ông hò hét khác xông tới ngay sau đó, bóng người màu đen không ngừng chạy qua chạy lại trước cửa sổ nhà cô, vung gậy chửi rủa, có người hô hào báo cảnh sát, cuối cùng đánh thức cả nhà. Cha mẹ tỉnh dậy rồi, cả tam hợp viện đều tỉnh dậy rồi, nhà nông lân cận đều tỉnh dậy rồi, hóa ra là đội tự vệ suýt nữa bắt được kẻ trộm, nhà họ Vương vừa bị trộm, vàng của bà Vương mất sạch sành sanh.
Ngày hôm sau, mẹ quyết định đem tiền chợ mấy ngày đi mua súng hơi dùng để phòng ngự. Mẹ nói mọi người nhịn đói mấy ngày không chết đâu, nhưng ai mà biết kẻ trộm mấy ngày nữa có chọn trúng mình không. Súng hơi đặt ngay mép giường, tỏa ra mùi kim loại rờn rợn, dường như đang chờ bọn trộm đến thăm bất cứ lúc nào.
Cô không biết súng hơi có thể bảo vệ cả nhà họ chăng, nhưng cô hỏi mẹ, cửa sổ mắc thêm tấm rèm được không? Mẹ đang bận nấu bữa trưa cho bà nội, nghe cô đòi rèm cửa sổ, bèn đáp lại bằng cái tát. Lúc đó cô trách mình ngốc, lẽ ra nên nhờ chị ba nói, cha mẹ thương chị ba nhất, nói thì cửa sổ sẽ có rèm. Mỗi đêm, hễ nằm xuống cô liền nhìn thấy thứ vật chất phát sáng màu trắng phun tới. Nếu có rèm cửa sổ thì không nhìn thấy nữa rồi.
Cô bắt đầu sợ cửa sổ, đi ngủ chọn vị trí cách cửa sổ xa nhất, ở trường sợ ngồi nhằm chỗ gần cửa sổ, bắt xe buýt nhất định phải ngồi gần lối đi. Nhà tổng vệ sinh ăn Tết, cô vừa khéo bị phân công rửa cửa sổ, cô nhắm mắt lại lau, nhưng cứ nhìn thấy thứ chất lỏng xa lạ màu trắng phát sáng trong đêm tối đó.
Sau khi dọn đến dãy nhà kia, cô cuối cùng đã có phòng riêng. Nhà dùng ván gỗ ngăn ra thành nhiều phòng nhỏ, để bảy đứa con nhà họ Trần đều có phòng của mình. Đứa con gái thứ tư là cô cố ý chọn căn phòng không gần ban công, em năm nói muốn căn phòng gần ban công tầng ba, như vậy cả ban công là của em ấy, cô không tranh giành với em. Phòng cô chỉ có một cánh cửa sổ tí tẹo lắp kính mờ, mở ra chỉ là lối đi, không thông với bên ngoài, điều này khiến cô cảm thấy rất yên tâm. Cuối cùng, trong căn phòng mới này, cửa sổ mở ra ngoài đã biến mất, cô ngủ một giấc ngon.
Về sau cô đến tiệm vải trên phố tìm vải vụn màu tối rẻ tiền, chủ tiệm tặng cô vải may quần áo còn thừa miễn phí. Cô nhờ chị cả giúp đạp máy khâu ráp những mảnh vải vụn này lại, nhờ em trai lớn đóng một thanh gỗ phía trên cửa sổ, treo tấm vải lên, thể là thành rèm cửa sổ, che khuất ô cửa sổ này. Mỗi đêm trước khi ngủ, cô kiểm tra chắc chắn rèm che kín từng góc, không thấy cửa sổ nữa, và đảm bảo em năm ở căn phòng sát vách, chỉ cách cô một bức ván gỗ mỏng thì mới yên tâm ngủ được. Em năm ở sát vách, cô mới ngủ được.
Hiện giờ, cô sống ở căn phòng tầng bốn trong Bạch Cung, diện tích rộng rãi, có phòng vệ sinh và phòng tắm khép kín. Căn phòng này có cửa sổ sát đất nhập khẩu từ Đức, nếu đứng bên cửa sổ thì có thể chiếm giữ điểm cao, nhìn thấy cả Vĩnh Tĩnh.
Nhưng cô kỳ thực không biết Vĩnh Tĩnh lúc này trông như thế nào.
Ruộng đồng vẫn như cũ chăng? Quán “Mì Ngoại Tinh” vẫn còn chứ? Dãy nhà phố vẫn còn chứ? Thành Cước Ma có bị dỡ bỏ không? Chị hai nói tam hợp viện họ sống hồi nhỏ đã sập hẳn trong trận động đất. Sập rồi thì tốt, cô vừa nghĩ đến cánh cửa sổ thời thơ ấu đó, toàn thân đã nổi mẩn đỏ. Tam hợp viện sập rồi, vậy dãy nhà đó vẫn yên lành ư? Động đất lần ấy, cô tưởng rằng Bạch Cung sắp sập rồi, cô vui lắm, cứ ngỡ Bạch Cung sắp chết rồi, điều đó chứng tỏ bản thân cô cũng sắp chết rồi. Kết quả Bạch Cung chẳng mảy may tổn hại, chỉ để lại một số vết nứt trên tường, cả tòa nhà không chút tổn hại.
Anh nói, nhảm nhí, nhà chúng ta sử dụng vật liệu xây dựng cao cấp nhất, động đất gì cũng không sợ. Cho dù nhà cửa cả Đài Loan sập hết, yên tâm đi, Trần Tố Khiết, tòa Bạch Cung này của chúng ta vẫn đứng vững.
Anh nói, Trần Tố Khiết, em thà chết không ra ngoài, nên không biết thế giới bên ngoài thay đổi nhiều nhường nào.
Anh nói, Trần Tố Khiết, em kéo rèm cửa sổ ra nhìn bên ngoài một chút đi.
Anh nói, Trần Tố Khiết, anh nhân lúc em ngủ, kéo toàn bộ rèm cửa sổ ra, có được không?
Anh nói, Trần Tố Khiết ơi Trần Tố Khiết, gần đây em có nghe thấy những tiếng ồn kia không? Đó là công nhân của anh đang đào móng. Anh bảo cho mà biết, anh phải xây tòa nhà cao nhất thế giới ở vùng đất nhỏ này.
Anh nói, Trần, Tố, Khiết, gia đình chúng ta đều dọn đến sống trong tòa nhà cao nhất thế giới ở bên cạnh, trong Bạch Cung này chỉ còn lại một mình em thôi đấy? Có muốn cùng chuyển nhà với anh không? Anh để dành một tầng cho em, nguyên một tầng đấy nhé. Nhưng anh không cho em lắp rèm cửa sổ đâu.
Mấy năm nay, anh gọi tên đầy đủ của cô. Ngữ điệu khiêu khích, có lúc còn thêm thang âm, hát tên cô thành giai điệu.
Có đến mấy lần, anh gọi nhầm tên, đã gọi tên em năm. Trước khi kết hôn, có lần anh hỏi, sao tên năm chị em nhà em kỳ lạ thế? Thục Mỹ, Thục Lệ, Thục Thanh, đều lót chữ Thục mà, sao đến em thì biến thành Tố, cả em gái em nữa.
Bởi vì, chị em cô đều là những đứa con không được mong đợi. Cha mẹ muốn sinh con trai, nào ngờ đẻ liền tù tì ba đứa con gái, liên tiếp ba đứa Thục, đứa thứ tư lại là con gái, không thể tiếp tục lấy chữ Thục nữa, phải đổi chữ khác, để tránh cái thai tiếp theo lại trúng lời nguyền tên gì đó, tọt ra lại là con gái. Cho nên đứa con gái thứ tư là cô lót chữ Tố, hòng cắt đứt vận rủi đẻ con gái. Ai ngờ thai thứ năm vẫn là con gái.
Lúc đó, anh nói gì, cô đáp nấy. Bây giờ, anh đá tung cửa, gọi vào căn phòng tối hù, cô không hề trả lời. Anh gọi, la lối, uống say rồi đá đống báo và tạp chí chất đến tận trần nhà. Thật ra cô không sợ anh tìm thấy cô, căn phòng này giống như mê cung vậy, anh không có kiên nhẫn đi trong mê cung. Cô nấp ở góc nào trong phòng gọi điện thoại, anh hoàn toàn không biết.
Cô cũng hiểu rõ, đe dọa thì đe dọa, chứ anh tuyệt nhiên không dám kéo rèm cửa sổ căn phòng này ra. Có một dạo anh biến mất, nghe người làm vườn của Bạch Cung nói, anh đã đi Trung Quốc, làm ăn ngày càng lớn, còn liên tục lên tin thời sự, ông trùm thực phẩm bánh quy đã mua lại công ty điện tử nào đó, tiến quân vào ngành điện tử, xây dựng thung lũng Silicon của phương Đông. Mấy tháng sau anh đột nhiên trở về, dẫn cả đám bạn vào Bạch Cung họp mặt, ầm ĩ cả đêm. Sáng hôm sau anh đá bật cửa phòng cô, cưỡng chế mở toang rèm cửa sổ. Ánh nắng ùa vào phòng như nước lũ, bụi bặm dày đặc bay mù mịt trên không. Cô thấy ánh sáng thì hoàn toàn mất kiểm soát, cổ họng gầm gừ như mãnh hổ, nhảy lên lưng anh, nện anh túi bụi. Anh hất mạnh cô ra, cô va vào đống báo và tạp chí, lại lập tức nhảy bổ lên lưng anh, giơ móng tay đã mấy tháng không cắt cào mặt anh. Anh kêu đau xin tha, cô nhảy sang một bên, rít lên: “Anh kéo rèm cửa sổ lại ngay bây giờ! Nếu không tôi cào nát mắt anh, sau đó châm lửa. Tôi sẽ cho một mồi lửa đốt mớ tạp chí và báo này, tôi không tin Bạch Cung của anh chịu được lửa!”
Sau đó, anh chỉ đứng ở cửa phòng gọi tên cô, không dám mở cửa bước vào nữa. Gọi mấy tiếng, nói mấy câu mát mẻ rồi bỏ đi. Căn phòng này cuối cùng cũng hoàn toàn thuộc về cô, không ai vào được. Người làm vườn của Bạch Cung đưa cơm, chỉ có thể im lìm mở cửa, để lại cơm canh, rồi lặng lẽ đóng cửa rời khỏi. Cô ra lệnh, trước khi hắn ta mở cửa, phải tắt hết đèn bên ngoài phòng. Cô biết bên ngoài căn phòng này là một ngọn đèn chùm pha lê mua từ Paris, rủ xuống ba mét, lấp lánh như ngân hà, cô không tài nào chịu nổi ánh sáng của ngọn đèn đó xói vào phòng mình. Ngọn đèn đó, anh vẫn không gỡ đi. Đó là đèn em năm chỉ định muốn có.
Vải rèm cửa sổ căn phòng này do cô đích thân đi chọn. Đen tuyển, chất vải dày nặng, có thể chặn hoàn toàn nguồn sáng. Một lớp không đủ, cô đặt tổng cộng ba lớp, thuê thợ làm tấm rèm ba lớp trước cửa sổ, bảo đảm không có bất cứ ánh sáng nào xuyên vào được. Cô nghe nói ở ngôi làng nhỏ vùng biên thùy gần vòng cực, mùa đông có đêm dài, ngày không chút ánh nắng. Chính là cô muốn tạo ra đêm đen vĩnh hằng trong căn phòng này, không cho phép bất cứ ban ngày nào vào đây.
Giữa cô và thế giới bên ngoài, trước tiên có cửa sổ nhập khẩu từ Đức đóng kín ngăn cách âm thanh, rồi lại có rèm cửa màu đen ba lớp dày nặng che kín tất cả nguồn sáng, ánh nắng ánh trăng tiếng gió đều không tìm thấy khe hở chui vào. Những rèm cửa sổ này sau khi lắp lên, chưa bao giờ được tháo xuống giặt. Đôi khi không chắc lắm mình có còn sống không, cô bèn vùi mặt vào tấm rèm màu đen, nín thở rồi hít sâu. Rất nhanh, mạt bụi và bụi hặm ở đậu trên rèm chui vào cơ thể cô, gây dị ứng, cô bắt đầu hắt xì dữ dội. Hắt xì hắt xì hắt xì hắt xì hắt xì, ít nhất năm lần. Hắt xì năm lần xong, cô liền chắc chắn mình vẫn chưa chết. Hắt xì khiến cô nhớ tới em năm. Em năm sáng sớm thức dậy, cứ hắt xì mãi, hắt xì liên tục, mỗi ngày ít nhất mười lần.
Một cách xác nhận mình vẫn chưa chết khác là gọi điện thoại. Cô thường gọi điện trò chuyện với các chị, chị cả vẫn ở nhà máy may chứ? Chị hai, chị ba đều ở Đài Bắc, nói sẽ đến Bạch Cung thăm em cơ mà? Sao mãi vẫn chưa đến? Cô có một máy điện thoại, tha hồ gọi, các chị bận mấy cũng sẽ nghe.
Hôm nay lúc đưa bữa sáng tới người làm vườn của Bạch Cung hỏi cô, hôm nay cúng rằm tháng Bảy, ông chủ không có nhà, có định xuống tầng cúng không? Cô từ chối bằng sự im lặng.
Rằm tháng Bảy, Quỷ Môn Quan sắp mở rồi. Cô bây giờ không sợ ma, nhưng cô tin có ma. Làm sao đây làm sao đây, ma sắp ra rồi, nhất định phải cúng thôi, bằng không ma sẽ giận đấy! Mẹ đâu? Mẹ đi đâu rồi nhỉ?
Trước khi người làm vườn khép cửa, cô gào to: “Mẹ đâu? Mẹ tôi đâu? Có thấy mẹ tôi không? Rằm tháng Bảy phải cúng, phải hỏi mẹ tôi đấy! Chỉ có mẹ tôi mới biết cúng thế nào!”
Người làm vườn không ngó ngàng đến cô, đóng cửa lại. Cô vội vàng lần mò trong bóng tối tìm thấy bàn sách, vặn mở ngọn đèn bàn yếu ớt duy nhất trong phòng, bắt đầu đọc báo.
Trong phòng cô chất đầy bảo và tạp chí. Báo chí buộc lại thành chồng, chất thành những ngọn núi nhỏ, cao đến trần nhà. Núi báo và tạp chí choán gần hết căn phòng, chỉ chừa lại lối đi chật hẹp quanh co, cô nằm rạp giữa lối đi này. Cô vào phòng tắm giặt quần áo xong, treo quần áo ướt lên đống báo phơi khô. Xương gà, cơm canh ăn còn thừa thì vứt trong đống tạp chí. Bảo và tạp chí lên mốc, bốc mùi hôi thối. Tất cả báo đều ra cùng một ngày. Tất cả tạp chí đều là tập san phát hành tuần đó, tháng đó. Mùi thối lan ra bên ngoài, người làm vườn nói ông chủ chỉ thị phải tới quét dọn, bằng không ngay cả tầng dưới cũng ngửi thấy cái mùi từ tầng bốn bay ra, như vậy rất khó giải thích với khách quý đến thăm. Người làm vườn cam đoan sẽ không động đến báo của cô, chỉ quét sạch xương gà và đồ ăn thừa, đặt một cái máy hút ẩm. Máy hút ẩm cần mẫn vận hành suốt một ngày, đến nửa đêm kêu bíp bíp. Cô đập mạnh cái máy, nhưng nó vẫn không câm miệng, tiếp tục bíp bíp. Cô mở máy ra, thấy bình nước đã đầy. Đúng lúc nửa đêm đang khát, cô tu hết cả bình nước, rồi đặt bình về chỗ cũ, máy hút ẩm cuối cùng đã câm miệng.
Hôm nay rằm tháng Bảy phải cúng cô hồn, phải tìm được mẹ, chỉ có mẹ biết cúng thế nào, cô trước giờ không biết cách cúng, người làm vườn ở Bạch Cung càng không thể nào biết được. Cô rút một tờ ra khỏi đống báo bên bàn sách, tiêu đề nổi bật là “Nghi vấn về việc trưởng nam của đại gia bánh quy hủy hôn...” Thật ra cô đã đọc ngàn vạn lần rồi, nhưng những năm qua, cô tiếp tục đọc, đọc mãi, luôn cảm thấy mình đã bỏ sót điều gì đó.
Có tiếng khóc của trẻ sơ sinh.
Trong Bạch Cung sao có thể có trẻ sơ sinh. Chắc chắn là ma.
Mẹ!
Chắc chắn là vì hôm nay Bạch Cung không cúng cô hồn nên ma kéo đến.
Làm sao đây? Mẹ đâu mất rồi. Trời ơi. Mẹ biến mất rồi. Cô không nhớ ra mẹ đã đi đâu.
Cô phải mau chóng gọi điện thoại cho các chị.
“Mẹ đâu mất rồi! Mẹ đâu mất rồi! Mẹ đâu mất rồi!”
Tiếng gào của cô vang vọng trong phòng, đánh thức tất cả mạt bụi, chuột, gián, nhện. Những năm qua, bảo lên mốc đã hấp thu hết thảy tiếng gào của cô, cô xáo trộn đống báo, sẽ có tiếng gào trong quá khứ theo cả đàn gián béo múp rớt ra.
Lúc mới cưới dọn vào đây, căn phòng này có tiếng vọng lớn, hai vợ chồng lăn lộn trên giường, tiếng kêu la vang vọng khắp căn phòng. Họ thường quên đóng cửa sổ, âm thanh tân hôn vui vẻ thấm ra ngoài qua cửa sổ, vượt qua hàng rào chạm hoa vàng óng và tường bao Bạch Cung, chảy qua ruộng lúa gần đó, bao phủ những con đường làng của vùng đất nhỏ, đánh thức lũ gia súc ngủ say, vọng đến tai em năm. Thi thoảng, khi vui sướng đến đỉnh điểm anh sẽ gọi tên em năm, lúc đó cô có niềm vui thắng lợi, cố ý không đóng cửa sổ, em năm chắc chắn nghe thấy hết. Căn phòng này sẽ để lộ bí mật, cho nên cô phải phong kín nó, phong kín như bưng.
Hồi đó anh không gọi cả tên lẫn họ cô, mà gọi cô là Tiểu Khiết.
Anh nói, Tiểu Khiết, Bạch Cung xây cho em, là món quà dành cho em. Đây là phòng mới của em, có thích không? Sau này, em muốn gì, anh mua tất tần tật cho em, nói đi, rốt cuộc em muốn gì?
Bấy giờ cô chỉ muốn mỗi một việc.
Cô hy vọng em năm biến mất.
T thường hỏi gã, rốt cuộc anh muốn gì? Đầu tiên là khẽ hỏi, rốt cuộc anh muốn gì, rồi âm lượng dần cao lên, rốt cuộc anh muốn gì, câu hỏi không ngừng lặp lại, rốt cuộc anh muốn gì, chất vấn chuyển thành gào thét, rốt cuộc anh muốn gì. Gào thét cuối cùng cũng phải hạ màn, mỗi lần đều kết thúc bằng tiếng khóc. T khóc, nói tôi xin lỗi.
Gã im lặng đối diện với cuộc gặng hỏi, gã muốn trả lời lắm chứ, nhưng miệng dán băng keo, cơ thể bị trói. T xé băng keo trên miệng gã, cởi dây trói, nói tôi xin lỗi. Xin lỗi, tôi biết tôi nên đi khám bệnh. Xin lỗi. Có đau không?
Băng keo rất dính, gã cảm thấy đôi môi bị băng keo giật đi luôn rồi. Miệng mất rồi, tốt quá, không cần trả lời câu hỏi củaT nữa. Toàn thân đau ê ẩm, T ôm chặt gã khóc, lại càng nhức nhối. Khóc một hồi, T bắt đầu hôn gã. Gã không thể đáp lại nụ hôn củaT, miệng mất rồi, làm sao hôn được? Có mấy lần băng keo dính lên mũi gã, không cách nào thở nổi, lúc gần ngạt thở, T lấy dao rạch băng keo ra. T thật sự là nghệ sĩ, cầm dao sắc cắt băng keo dính chặt vào da gã, không làm trầy da chảy máu, khéo léo rạch ra đường thở.
T à, tôi về nhà rồi. Tôi biết cậu luôn rất muốn về nhà, về thị trấn nhỏ ven biển Baltic đó, chạy trên bãi cát, ngắm thuyền, đợi tuyết, đợi mùa hè qua, đợi mùa xuân đến, đợi cá cắn câu, đợi chuyến tàu hỏa tiếp theo. Cậu luôn muốn chạy trốn, nhưng rồi cũng về đến ngôi nhà nhỏ ven biển ấy. Trong ngôi nhà nhỏ có cha mẹ, con chó già, em trai em gái, trên bàn bếp lúc nào cũng có cá biển hun khói màu đường cháy, cả hương, cả hồi, cá chình, cá thu, cá nhám gai, cá trích Kiel. Cậu vừa ngửi thấy mùi cá liền nhớ tới biển Baltic. Cá chính là tuổi thơ của cậu, tuổi trẻ của cậu, cậu hay phàn nàn, ở Berlin không mua được cá biển ngon như thế.
Trước khi ra tù, có người bạn tù hỏi gã, sau khi ra ngoài sẽ đi đâu?
Ở Berlin gã tứ cố vô thân, không đất cắm dùi, chỉ có thể tạm ghé trung tâm lưu trú cho người mới ra tù thôi, nhưng gã phải về nhà một chuyển trước đã. Bạn tù hỏi, về nhà ư? Nhà mày ở đâu? Trong tù có quả địa cầu, gã đặt ngón tay ở nước Đức, chậm rãi quay quả địa cầu, vẽ nên một quỹ đạo bay sau khi gã ra tù, băng qua châu Âu, Trung Á, thẳng đến châu Á, mở một tuyến đường bay về nhà, mục tiêu là một hòn đảo. Đường bay vẽ bởi đầu ngón tay đến châu Á, xuyên qua Trung Quốc, tới Thái Bình Dương, song không có đảo để hạ cánh. Không có. Trống trơn. Trên quả địa cầu, không ngờ lại không có Đài Loan. Gã chỉ cho bạn tù xem góc địa cầu chỉ còn lại biển đỏ, tôi đến từ một hòn đảo nhỏ trên vùng biển này, trên đảo có quê hương của tôi. Đảo nhỏ có lẽ quá nhỏ, nhỏ đến nỗi bị quả địa cầu trong nhà tù Berlin này quên mất. Gã nhìn vùng biển xanh lam, liệu trong mấy năm gã vào tù, đảo đã biến mất hoàn toàn chăng? Phương xa xảy ra một trận động đất lớn, các mảng kiến tạo của Trái đất dịch chuyển rồi ráp lại, gã ở trong thời gian không gian song song là nhà tù này, lại chẳng biết gì cả?
Gã thật sự đã trở về, về đến hòn đảo giữa biển khơi không tồn tại này, quê hương miền Trung hòn đảo không tồn tại này.
Gã rời vườn khế, đi về phía vùng ven hơn của quê hương, muốn đi viếng cha. Nghĩa địa của vùng nằm ở mạn rìa, cách xa khu dân cư, cái chết không tốt không lành không sạch sẽ, có thể làm hỗn loạn trật tự nhân gian, vì thế đẩy ra lề, càng hẻo lánh càng tốt, người sống không thấy mồ mả, có lẽ có thể né tránh cái chết.
Đám tang cha, mẹ không cho gã tham dự. Nhiều
năm trước, cha bị chẩn đoán ung thư gan giai đoạn cuối, đi mấy bệnh viện lớn thăm khám, họ đều nói chỉ còn mấy tháng. Đã vậy, cha bèn từ bỏ hóa trị liệu, không nằm viện, cũng không về nhà, bảo muốn đến ở trong miếu. Mẹ xưa nay kiểm soát nghiêm ngặt hành tung của cha, nhưng cha nói, cũng chỉ còn lại mấy tháng thôi, để tôi đến ở trong miếu đi, mẹ gắt um lên phản đối, cha nói tôi sắp chết rồi, bà để tôi đi đi. Miếu Thiên Hậu trong vùng rất thanh tịnh, không có mấy khách dâng hương, cha hằng ngày theo ông từ ngủ sớm dậy sớm, yên tĩnh dưỡng bệnh, chờ chết.
Kết quả, người cha bị tuyên bố chỉ còn lại mấy tháng, ở trong miếu Thiên Hậu yên tĩnh, đã sống thêm mười năm.
Cuối cùng lúc cha qua đời, thằng con út là gã đang ở Đức. Chị hai gọi điện cho gã: “Hôm qua cha đi rồi. Em về một chuyến đi. Em biết mẹ rồi đấy, tình hình không ổn lắm, mẹ nói nếu em về dự đám tang, người chết tiếp theo chính là mẹ. Thiết nghĩ, đây là đám tang của cha mà, cha nhất định mong em có mặt. Em cứ về nhé, mẹ bên này chị sẽ nghĩ xem giải quyết thế nào. Dù sao cũng phải có con trai bưng linh vị của cha đúng không?”
“Anh đâu? Chẳng phải anh ấy ra tù rồi sao?”
“Ai biết, bảo gì mà phải Đông Sơn tái khởi, theo nhà họ Vương đi làm ăn, không tìm thấy.”
Linh đường dựng ở nhà cũ, hôm sau gã từ Đức bay về, về đến dãy nhà ở Vĩnh Tĩnh thì đã gần nửa đêm. Chị cả, chị hai, chị ba đều ngồi ở bàn tròn, xếp hoa sen giấy. Chị ba thấy gã bèn nói: “May mà em về muộn thế này, mẹ đi ngủ rồi. Mẹ vẫn không biết em sẽ về.”
Linh đường của cha rất đơn giản, toàn bộ theo di nguyện của cha, linh đường càng giản dị càng tốt, nghi lễ không cần cầu kỳ, khỏi phải đốt gì cho cha cả, chỉ vái lạy, hỏa táng là được. Người cha trung niên trong di ảnh có nụ cười rất nhạt, mày rậm mắt sáng, ngũ quan đẹp đẽ, trên mặt có vài nếp nhăn. Cha cả đời giữ nhiều bí mật, đều kín như bưng, trong tẩm di ảnh này, vẻ mặt bình thản. Người chết vẻ mặt bình thản, người sống lại che che giấu giấu, con gái con trai trước linh đường thảy đều có tính toán riêng, ai nấy trong lòng mang ý đồ xấu. Di thể của cha còn chưa nhập liệm, phải chờ giờ tốt, tạm thời bảo quản trong hòm lạnh. Tầng trên hòm lạnh trong suốt, cha mặc áo liệm, lặng lẽ nằm bên trong. Gã đặt tay lên phía trên hòm lạnh, nói: “Cha ơi, là con đây.” Vẻ mặt khi chết của cha khớp với tấm di ảnh, nếp nhăn giãn ra, màu tóc đen nhánh.
Ban đêm phải có người túc trực bên linh cữu, gã xung phong, dù sao cơ thể gã vẫn tưởng rằng hiện đang là giờ bên Đức, nên lúc này chẳng buồn ngủ chút nào, mọi người đi ngủ đi, để em trông cho.
Vĩnh Tĩnh ban đêm thật sự yên tĩnh. Có chút đìu hiu mùa thu, gió lạnh mang theo vài tiếng côn trùng kêu lác đác. Lâu lắm rồi gã chưa gặp các chị kia mà? Sao mọi người xa lạ thế này, không tiếp xúc cơ thể, không ôm ấp, ánh mắt lảng tránh, không khóc không cười. Mọi người chỉ liên tục bưng đồ ra cho gã ăn, “Em ăn nhiều vào, sao sang Đức lại gầy đi rồi?”
Cửa chính mở toang, linh đường thắp đèn, phía sau lư hương có một chiếc máy phát mini, đang phát rì rầm tiếng tụng kinh “Nam mô A di đà Phật”. Gã một mình ngồi trước linh đường, xếp hoa sen giấy, ăn mì tôm. Chị dặn dò, phải để ý mèo chó, ở quê còn rất nhiều mèo hoang chó hoang, theo tục lệ không được để chúng lại gần linh đường. Gã mở mắt dỏng tai, nhìn kỹ xem chỗ tối có chó mèo không, bấy giờ mới nhận ra, con đường trước dãy nhà cũ, trong quãng thời gian gã đi xa đã mở rộng thành đường lớn, trải nhựa bằng phẳng, được ánh đèn linh đường chiếu rọi, lấp lánh ánh sáng mới mẻ.
Hôm sau người thức dậy đầu tiên là mẹ. Mẹ thấy thằng út là gã, chỉ hỏi: “Anh mày đâu? Vẫn ở đại lục à? Cha chết rồi, phải có con trai bưng linh vị. Mày có về cũng vô dụng thôi. Mày không được coi là con trai đâu.”
Hôm đó xảy ra rất nhiều chuyện. Mẹ đuổi gã đi, lật đổ tất cả di nguyện của cha, tang lễ phải trọng thể, không cho hỏa táng, chỉ được thổ táng. Mẹ buộc gã đi, chửi gã “Đồ lông bông lêu lổng”, “Đồ phá gia chi tử”, “Đồ báo nhà”. Trước khi gã đi, nhân viên mai táng đang chuẩn bị đặt di thể cha vào quan tài. Mẹ chê quan tài sơ sài, khăng khăng đòi chọn giờ khác nhập liệm. Nhà họ Trần tuy hiện giờ không giàu có gì nhưng không phải không mua nổi quan tài tốt, mẹ muốn đích thân đi chọn một cỗ tốt. Chị cả nói, đó là quan tài lúc sinh thời cha sang tiệm quan tài sát vách đặt làm, gỗ rẻ, kiểu dáng giản dị, cha nói dù sao cũng sẽ hỏa thiêu, dễ thiêu là được.
Trước khi gã rời đi, mẹ đang gào thét, ôm di thể cha khóc rống, miệng tuôn một tràng dài tụng kinh niệm chú, không cho di thể cha nhập quan.
Bỏ lỡ đám tang cha, về đến Đức không bao lâu gã đã vào tù, chưa từng cúng tế mộ cha. Gã biết cha an táng ở đâu, đã về rồi lại đúng rằm tháng Bảy, thì đi viếng mộ cha thôi.
Đi một hồi, gã lạc đường, không tìm thấy đường dẫn đến nghĩa địa. Những con đường nhỏ ở quê hoàn toàn không giống như gã nhớ. Đường làng trong ký ức của gã là đường đất lổn nhổn đá sỏi, giờ đây đều đã trải nhựa. Gã nhớ, ra khỏi vườn khế ngang qua xưởng nước tương, rẽ ngoặt rồi đi thẳng sẽ thấy nghĩa địa mà. Chắc chắn vì trời nóng quá, gã cảm thấy đầu óc cần hạ nhiệt, không thể dựa vào trí nhớ dẫn đường. Lòng vòng rất lâu, cuối cùng cũng tìm thấy xưởng nước tương, nhưng nay đã là nhà xưởng bỏ hoang, mái tôn biến mất, cỏ dại um tùm. Hồi nhỏ, gã dựa vào khứu giác là có thể tìm thấy xưởng nước tương, chỉ cần ngửi thấy mùi mằn mặn chua chua là biết xưởng nước tương ở gần đó. Gần chung cư của gã ở Berlin lúc trước có một nhà máy kẹo, mỗi lần mở cửa sổ sẽ ngửi thấy mùi ngọt. Hôm giết T, gã mở cửa sổ chung cư, hương mật ong thơm nức lập tức phả vào, a, hôm nay nhà máy làm kẹo mật ong, trên người gã bê bết máu, máu củaT, máu của chính gã, đau quá, muốn ngủ một giấc quá, mùi mật ong khiến gã nhớ đến mùa xuân tươi đẹp, trăm hoa đua nở, bầy ong vo ve. Gã ngửi mùi mật ong, nằm trên sàn nhà lạnh băng, rơi vào giấc ngủ sâu. Trước khi giết T, gã đã lâu lắm không ngủ. Cuối cùng cũng ngủ được rồi, giấc ngủ sâu không mộng mị, gần như chết.
Khứu giác là cách gã phân biệt phương hướng của quê nhà, vườn khế có mùi thơm quả chín, Thành Cước Ma có mùi đốt hương, nghĩa địa có mùi tro tiền vàng mã, xưởng nước tương có mùi ngọt thuần khiết của đậu đen lên men. Hiện giờ xưởng nước tương bỏ hoang, tường bao có hình vẽ loang lổ và một đống áp phích, tờ rơi quảng cáo. Gã xem kỹ, tường bao vốn bị xã trưởng nhiệm kỳ nào đó coi như tấm vải vẽ tranh tuyên truyền chính trị, nét bút vụng về, sắc thái khoa trương vẽ ra phong cảnh nhà nông được mùa, thóc mẩy hoa thắm, nông dân tươi cười mừng một năm tốt đẹp. Tâm điểm của hình vẽ trên tường bao là chân dung xã trưởng đương thời, mái đầu tròn trịa, nhe hàm răng trắng muốt, biểu ngữ bên cạnh viết: “Vĩnh Tĩnh phát triển đại phồn vinh, bội thu cả nhà mừng sum họp, xã trưởng Trần Thiên Nhất và Quỹ Vương Tân kính tặng.”
Anh trai.
Xã trưởng Trần Thiên Nhất chính là anh trai gã. Đứa thứ sáu trong nhà họ Trần, đứa con trai cuối cùng cũng chào đời sau khi liên tiếp đẻ năm đứa con gái.
Đó đúng là khuôn mặt của anh gã, vầng trán đầy đặn, mày rậm mắt to tóc xoăn, giống mẹ. Hình vẽ bị gió mưa tàn phá, mảng màu bong tróc, cả cái miệng của anh gã đã biến mất. Đến gần xem, trên chân dung anh gã có nhiều bút tích chửi bởi: “Đ.m mày, tham ô, hủ bại, xuống địa ngục, trả tiền”, nhiều tờ quảng cáo, áp phích tranh cử choán hết mặt tường, che đi hình vẽ vốn có. Gã đọc một lượt tất cả quảng cáo: gieo quẻ hỏi việc, Tế Công xem bói, thu mua xe cũ, cho vay mua ô tô, bọc lại xô pha, xả hàng nhà máy, chuỗi cửa hàng ổi, chuyên xử lý ly hôn, bắt gian, mai mối chuyên nghiệp, nâng ngực không phẫu thuật, bảo trì tháp nước, dọn bể phốt, đòi nợ chuyên nghiệp, đứng tên đầu tư, cô dâu ngoại quốc, tin Thượng Đế được sống lâu, còn có áp phích tranh cử của nhiều nghị sĩ, đại biểu, chủ tịch huyện, tầng tầng lớp lớp chồng chất, áp phích cũ tróc xuống, áp phích mới lại dán lên, cả mặt tường vô cùng náo nhiệt.
Những tờ quảng cáo này chính là quê hương của gã. Kẻ lừa đảo, ngân hàng ngầm, xã hội đen, mai mối, tham chính, tham ô, cuộc đời gặp vấn đề nào khó giải quyết thì đến mặt tường này tìm, dưới mỗi mẩu quảng cáo đều có số điện thoại, gọi rồi cuộc đời sẽ có lời giải đáp.
“Này cậu.”
Một chiếc xe tải nhẹ dừng ở ven đường, tài xế thò đầu ra, gọi gã.
“Này, là cậu à? Trần Thiên Hoành?”
Tài xế xuống xe, đi về phía gã.
Là Thuyền Con.
Thuyền Con, Thuyền Con làm gã say sóng, bạn cùng lớp cấp hai của gã, cậu trai thứ hai ở quê nhà mà gã từng yêu, sau Quần Đùi Đỏ.
Điện thoại lại reo.
Thục Mỹ từ sàn nhà đá mài bò dậy, nghĩ bụng hẳn lại là em tư. Mấy tháng trước, chị đọc tin tức trên mạng, biết cả nhà Bạch Cung đi châu Âu nghỉ mát. Họ mặc đồ gì ra sân bay, ngồi máy bay nào, ở khách sạn nào, chạy xe gì, phóng viên mọi ra hết thảy trang phục trên người họ, viết rõ nhãn hiệu và giá cả, “Đại gia bánh quy dắt con đi châu Âu hưởng lạc, dâu trưởng không xuất hiện bên cạnh con trai trưởng, chỉ thấy cô bồ người mẫu mới”. Phóng viên vẽ một sơ đồ gia phả, bà cả người Đài Loan, bà hai người Bắc Kinh của ông trùm đều từng cầm cùng một mẫu túi xách hàng hiệu Paris đặt làm riêng, người vợ con trai trưởng nhiều năm nay chẳng thấy lộ diện, cô bồ mới là người mẫu hai mươi tuổi vừa ra mắt, con trai thứ nhiều lần đính hôn, lần nào cũng là mấy em chân dài bốc lửa. Trên bài đăng có một tấm hình dâu trưởng, nét mặt buồn rầu đau khổ.
Dâu trưởng nhà họ chính là em tư, tấm hình đó là ảnh chụp nhiều năm trước, trong đám tang của em năm, phóng viên chụp từ xa, thật ra hiện giờ em tư trông thế nào, người chị cả là chị cũng không rõ. Chị mua hoa quả, đến bấm chuông điện Bạch Cung. Cổng Bạch Cung lắp mấy chiếc camera giám sát, chuông điện không có hồi âm, nhưng chị biết có người đang nhìn mình. Đột nhiên, người làm vườn từ cửa nhỏ bên tường bao Bạch Cung đi ra, đứng xa xa ra hiệu cho chị vào qua lối cửa nhỏ.
Thục Mỹ sải bước đi tới: “Yên tâm, chị không ngốc thế đâu, chị biết họ không có nhà, đi châu Âu cả rồi. Trên mạng có đưa tin mà.”
Người làm vườn cau mày: “Chị thế này tôi rất khó làm việc, họ về, có khi sẽ kiểm tra băng ghi hình camera giám sát, chị làm vậy khiến tôi nhọc lắm, còn phải tốn thời gian xử lý băng ghi hình. Mau vào đi, đừng để người ta nhìn thấy.”
Người làm vườn dẫn chị vào từ cửa nhỏ, băng qua vườn hoa, đi vào Bạch Cung. Thục Mỹ đứng trước cửa phòng em tư, gõ cửa: “Tố Khiết, là chị, chị cả đây. Chị đến thăm em.”
Tố Khiết không mở cửa, từ trong phòng gọi vào di động của Thục Mỹ, còn chưa kết nối đã bắt đầu gào: “Chị điên rồi hả? Đã bảo chị tuyệt đối đừng vào đây cơ mà? Trong này buồn nôn lắm! Bẩn lắm! Anh ta sẽ giết chị mất! Anh ta việc gì cũng làm ra được!”
Tiếng hét của Tố Khiết bị lọc qua cửa phòng, truyền đến tai Thục Mỹ, giống như tiếng sấm ầm ì phương xa. Thục Mỹ nghĩ, nếu thật sự có sấm rền thì tốt quá, lâu lắm rồi trời không mưa, không khí cứ xám xịt, ngửi có mùi khét thoang thoảng. Thục Mỹ lại gõ cửa: “Yên tâm đi, chị cả không ngốc thế đâu, chị cả biết họ không có nhà. Em mở cửa được không? Chị mang hoa quả đến, đu đủ mà em thích ăn đấy. Chị em mình cùng ăn, được không em?”
Tố Khiết không đời nào mở cửa, chỉ liên tục gọi vào di động của Thục Mỹ, giục chị đi mau: “Chị mau đi đi, còn không đi sẽ không kịp mất! Người chết của nhà ta còn chưa đủ nhiều sao?”
Thục Mỹ đứng trước căn phòng ngủ ở Bạch Cung, điện thoại trong tay cứ reo mãi, sau cửa không ngớt vọng ra tiếng gào của Tổ Khiết. Thục Mỹ vẫn không bắt máy, mặc cho nó reo.
Hôm nay là rằm tháng Bảy, Tố Khiết gọi điện gào “Mẹ đâu mất rồi”, đã mấy năm trời không nghe Tố Khiết nhắc đến mẹ, hôm nay làm sao vậy. Giờ điện thoại lại reo, chị tìm thấy điện thoại trong đống vải vụn bên cạnh máy may, số gọi đến hiển thị không phải em tư, mà là Paris.
Chị vội bắt máy: “Chào bà chủ, hôm nay không bận cúng, rảnh rỗi gọi điện cho tôi à?”
“Thục Mỹ! Cô mau tới đây đi! Xảy ra tai nạn rồi! Ông xã cô lật xe trên đường, sữa, khắp nơi lênh láng sữa! Ôi chao! Cô mau tới đây đi!”
Chị hoàn toàn không kinh hoảng, bình tĩnh hỏi địa điểm, nói sẽ tới nhanh nhất có thể. Sao lại gây họa rồi, mấy năm nay chồng chị gây họa khắp nơi, thực tình là chẳng có chuyện lớn gì làm chị khiếp sợ được nữa. Chị nghe giọng điệu Paris trong điện thoại là biết, xe tải bị lật, nhưng người chưa chết. Hôm nay nóng thật, chị quyết định cứ từ từ. Dù sao cũng có Paris ở đó.
Soi gương, thay áo, mái tóc uốn nhuộm nửa năm trước, gợn sóng lơi, màu tóc phai, mặt khắc khổ, mí mắt sụp, nếp nhăn sâu, chị luôn cảm thấy trên mặt ngày ngày đêm đêm đều đang động đất, mới nứt ra những vết nông sâu như này. Tóc quả thực phải nhuộm lại uốn lại rồi, nhưng gần đây làm gì có tiền đến chỗ Paris.
Vùng đất nhỏ chỉ có ba tiệm làm đầu, tiệm lâu đời nhất không có tên, trên tấm ván gỗ mốc meo bên ngoài đề “Cắt tóc”, buổi tối ván gỗ lật lại thì biến thành “Gà giòn lắc muối”, bà chủ mười mấy năm chưa hề thay chảo dầu, gà rán ra thường có sợi tóc, dân địa phương gọi đùa là “Gà rán tóc”. Tiệm thứ hai tên “Bốn chị em”, trong nhà đẻ toàn con gái giống nhà Thục Mỹ, tất cả đều làm tóc, bốn cô chung một ông bố, song lại có bốn bà mẹ khác nhau, ông bố chọn bốn người đàn bà là muốn sinh con trai, nhưng chẳng lần nào thành công, đứa thứ tư vừa lọt lòng liền tức đến nỗi phát bệnh tim mà chết. Bốn chị em cắt tóc uốn tóc đều qua loa tùy tiện, gặp “ngày tốt” âm lịch thì đóng cửa, bốn chị em bận đi đám tang nhảy điệu dẫn vong, hôm cha động quan cũng do chị em họ phụ trách mở đường, đưa vong hồn cha thuận lợi lên núi tiên. Tiệm thứ ba tên “Studio tóc Paris”, được các bà các cô trong xã ưa thích nhất, trên tường trong tiệm dán mấy tờ áp phích tháp Eiffel, thợ làm tóc là hai mẹ con đến từ Đài Bắc, không biết nói tiếng Đài, nghe nói từng theo tour du lịch đi Paris ba ngày hai đêm. Bà chủ da mặt trắng sáng, lông mi dài, mũi thẳng, đi nhẹ như mèo. Gặp bà chủ Paris, Thục Mỹ liền hiểu vì sao có người nói người nông thôn “quê một cục”, trên mặt Paris đến từ thành phố không có khói bụi, mịn màng trơn láng. Đâu giống như chị mặt mày nhớp nháp, ảm đạm tối tăm, rửa mặt thì ra cả chậu nước bẩn. Chị đoán nước tắm của bà chủ Paris nhất định sạch sẽ trong veo. Cô con gái Paris cũng xinh đẹp, lặng lẽ ở cạnh giúp gội đầu, quét tóc, không nói chuyện, nghe kể trước đây học trường cấp ba nữ sinh nổi tiếng ở Đài Bắc, học riết bị bệnh trầm cảm, nghỉ học theo mę vê quê. Bà chủ Paris nói: “Con gái khỏe lại, chúng tôi sẽ về Đài Bắc.”
“Studio tóc Paris” thật ra chỉ biết uốn một kiểu tóc gợn sóng, nhưng cạnh gương là một tấm ảnh hai mẹ con chụp trước tháp Eiffel Paris, ở quê nào ai đã từng ra nước ngoài? Nào ai có hộ chiếu chứ? Paris là tưởng tượng tuyệt đỉnh của vùng đất nhỏ về châu Âu, đến tiệm làm đầu này uốn quả đầu gợn sóng, liền cảm thấy mình rất Pháp rất Tây. Mọi người tới Paris uốn đi uốn lại cùng một kiểu, ra chợ kêu từng bà nội trợ quay gáy về phía mình, sẽ phát hiện mỗi mái đầu nhìn từ sau trông đều giống nhau, nếp xoăn như nhau, chia lọn như nhau, đều Paris. Có lần bà chủ Paris hỏi chị: “Thục Mỹ, nghe nói em trai út của cô ở châu Âu hả? Có phải ở Paris không? Giỏi ghê nhỉ. Ôi, Paris đẹp long lanh thật ấy, cô xem cô xem, chiếc áo này tôi mua ở Paris đấy, đẹp không nào?” Thục Mỹ đáp: “Em tôi ở Berlin.”
“Berlin? Là đâu thế? Sao chưa từng nghe? Thục Mỹ đã đi chưa?” Chị lắc đầu: “Tôi cũng muốn đi lắm.” Năm mười lăm tuổi chị rời nhà đi Sa Lộc Đài Trung làm công nhân, những tưởng mình có thể chạy thật xa thật xa, kết quả cuối cùng chẳng đi được đâu, vẫn về lại chốn này. Chị ngưỡng mộ bà chủ từng đi Paris, cho dù chị rõ ràng từng thấy chiếc áo mua ở Paris của cô ta ở sạp hàng chợ chiều thị trấn bên cạnh. Đó là lần đầu tiên chị ngửi thấy mùi quê mùa ở bà chủ Paris.
Mười tám tuổi, chị quen chồng ở nhà máy dệt may tại Sa Lộc. Anh họ Cao, lái xe nâng, thấp bé kiệm lời, phụ trách bốc dỡ quần áo, thường gọi là Tiểu Cao. Xe nâng thật ra không dễ điều khiển, nhưng anh năm xưa là tay thiện nghệ xe nâng trong nhà máy, có thể nhanh chóng xếp những thùng vải lên giá nhà kho. Mỗi lần chị đến kho lấy vải, Tiểu Cao thường ngày không nói chuyện sẽ tới gần chào hỏi: “Thục Mỹ, có muốn đi hóng gió không?”
“Hóng gió” chính là nhân lúc xưởng trưởng không có mặt, tài xế xe nâng đưa nữ công nhân ngồi trên xe nâng, chạy mấy vòng trong kho. Cuộc sống của các nữ công nhân buồn khổ, mười mấy cô gái trẻ chen chúc trong một căn ký túc xá chật hẹp, mỗi ngày ngồi bên máy may làm việc mười mấy tiếng, mỗi tuần chỉ được nghỉ một ngày, có thể ngồi lên xe nâng đi mấy vòng, sát bên anh tài xế trẻ, đã là sự lãng mạn trong nhà máy rồi. Chị sợ bị xưởng trưởng phát hiện, mãi không chịu nhận lời, không dám ngồi lên xe nâng. Mười lăm tuổi chị đã nghỉ học xa nhà đến Sa Lộc làm việc, năm đó Đài Loan xuất khẩu mạnh, đơn đặt hàng ngành dệt may nhận không xuể, có người bạn học mách chị rằng Sa Lộc gần nhà đang tuyển rất nhiều công nhân nữ, xưởng trưởng căn bản không xem xét trình độ học vấn, bao ở, cứ chịu khó sẽ được tuyển dụng. Chị ghét học hành, đầu óc củ đậu mà, ngày ngày ở nhà nghe mẹ than nghèo liền muốn ra ngoài kiếm tiền. Hơn nữa, chị thật sự không thể tiếp tục nán lại trong nhà nữa, sau sự việc đó, sau sự việc mà cha không biết đó, sau sự việc mà toàn thế giới đều không biết đó, chị chỉ muốn chạy trốn. Mẹ không cho chị đi, chị không hiểu, chị muốn đi kiếm tiền, nhất định sẽ đem tiền về nhà, gia đình bớt một miệng ăn, bớt một phần học phí cần đóng chẳng phải rất tốt sao? Mẹ tát chị một bạt tai, khăng khăng không cho chị đi. Thật ra không phải mẹ phản đối chị ra ngoài làm việc, mà là mẹ ghét chị, nên việc gì cũng phải phản đối. Đương nhiên chị biết mẹ ghét mình là vì sự việc đó. Cô bạn cùng lớp đã bỏ học đi làm mấy tháng, từ Đài Trung xúng xính quần áo mới trở về, toàn thân lấp lánh tỏa sáng, len lén rỉ tai chị, trong nhà máy có rất nhiều trai. Hôm sau, chị theo bạn đi Sa Lộc, vào nhà máy may làm việc.
Chị quả tình chưa từng nghe nói đến Sa Lộc, chị ngồi tàu hỏa rồi chuyển xe buýt đến đó, dọc đường nhìn thấy rất nhiều nhà máy, chứng tỏ dễ tìm việc, có tiền kiếm. Cô gái nhà quê là chị chưa bao giờ thấy nhiều xe và nhiều người như thế. Sa Lộc đương nhiên tốt hơn quê nhà, có tiền kiếm, có chợ đêm, có một trường đại học, có khói bụi của thành phố phồn hoa, chị cuối cùng không cần ngày ngày đối mặt với mẹ. Chị vào ở ký túc xá dành cho công nhân nữ, hơn chục cô gái, đều mười mấy tuổi, nhà đều nghèo, bỏ học đến đây học may.
Chị lĩnh lương tháng đầu tiên, phấn khởi bắt vội xe về nhà đưa mẹ, mẹ nhận tiền, chẳng buồn nhìn chị, đếm tiền, cau mày, không nói không rằng, ý là chê ít. Sau đó chị ít về nhà, hằng tháng ngoan ngoãn gửi tiền về, Chủ nhật chỉ ru rú trong ký túc xá khóc, nghe đài phát thanh. Các em gái từ quê viết thư gửi chị, kể những chuyện vụn vặt ở nhà, em trai út lúc nào cũng vẽ lên thư, viết: “Chị cả mau về nha.” Em trai út từ nhỏ nét chữ đã chân phương, theo các chị học viết chữ từ rất sớm, rất thích đọc sách, thảo nào lớn lên trở thành nhà văn. Tuy những cuốn sách em trai út viết sau này, chị đều đọc không hiểu, nhưng cuốn nào chị cũng mua. Chị chạy xe máy đến hiệu sách ở thị trấn bên cạnh, hỏi thăm nhân viên tên sách, lúc thanh toán nói với họ: “Đây là sách em trai tôi viết đấy. Nhờ các vị giúp quảng cáo nhé, xin cảm ơn.”
Sau khi gặp được Tiểu Cao ở nhà máy may Sa Lộc, cuộc sống bình thường, hằng ngày cứ 10 giờ tối Tiểu Cao sẽ mang bữa ăn khuya đến ký túc xá công nhân nữ tìm chị, các nữ công nhân khác vừa trông thấy Tiểu Cao liền gọi toáng lên: “Thục Mỹ có người tìm!” Hai người ngồi trên hành lang ngoài ký túc xá ăn gà giòn lắc muối, ngắm bầu trời Sa Lộc, ngoài ký túc xá liên tục có xe ben rầm rập chạy qua, cuốn bụi đất mù trời, được bụi đất che chắn, chị mới dám ngẩng đầu giương mắt nhìn Tiểu Cao, mũi nhỏ mắt nhỏ thân hình nhỏ, da đen sạm, giỏi chạy xe, ban ngày lái xe nâng trong nhà máy, ban đêm thường nhận việc thời vụ lái xe tải, chở xi măng chở dựa hấu chở bắp cải, gần như không nói chuyện, khiến chị nhớ đến cha.
Có lần, một cái giá trong kho vải nhà máy đột nhiên gãy sập, xô đổ các giá khác theo hiệu ứng domino, hàng hóa nặng mấy tấn trút xuống, chất thành một ngọn núi nhỏ đầy bụi, xô sập bức tường tồn của nhà xưởng. Đúng lúc là giờ cao điểm xuất hàng, cánh tài xế xe nâng đều đang làm việc trong kho, bị chôn cả trong đống hàng. Chị và toàn thể công nhân tất bật gạt hàng ra, tìm kiếm các tài xế xe nâng. Chị nhớ rất rõ, container hàng chuẩn bị xuất khẩu lần đó là áo Polo màu đỏ, tất cả công nhân nữ đều bỏ lại công việc đang làm, lao vào đống vải đỏ, hô hoán mau cứu người. Chị luôn tay đào bới xuống dưới, cuối cùng cũng mò thấy một cơ thể âm ấm, chị vận hết sức lực túm lấy cơ thể đó, nhưng không kéo ra được, chị gạt mở vải đỏ, nhìn kỹ mới nhận thấy cả cái đầu người đã bị đè bẹp. Thình lình, một cái đầu khác ló ra từ lối thoát màu đỏ mà chị đào ra, là Tiểu Cao, anh thấy chị bèn cười toe. Chị lại nhìn cái đầu bị bẹp kia lần nữa, chị biết cái đầu đó có ba đứa con, vợ là nữ công nhân may giống chị, ngồi đối diện chị. Chị ôm cái đầu gào khóc nức nở, Tiểu Cao bò ra khỏi đống vải đỏ, không hề bị thương, ngồi cạnh chị, chờ chị nín khóc mới nói: “Thục Mỹ, có muốn đi hóng gió không?”
Hôm sau, chị quay lại nhà xưởng làm việc, vải đỏ đã chẳng thấy đâu nữa, bức tường tôn của nhà máy đã sửa xong trong đêm. Đối diện chị là một nữ công nhân mới, vừa ngồi xuống đã cắm cúi may, xưởng trưởng hô to, phải gấp rút xuất hàng, không ai được làm biếng! Chị hỏi đồng nghiệp, nữ công nhân ngồi đối diện chị lúc trước, vợ của cái đầu đó, đi đâu rồi? Mọi người đều không nói chuyện, cũng bảo chị đừng nói chuyện.
Mấy tháng sau, chị dính bầu. Xưởng trưởng vừa hay tin, ngay hôm đó đã đến ký túc xá, bảo chị cuốn gói. Chị quả thực không còn chỗ nào để đi, đành về nhà. Mẹ chửi: “Bảo là ra ngoài kiếm tiền cơ mà, té ra là đi đú đởn, đú đởn đến ễnh cả bụng ra.” Ở vùng đất nhỏ, chưa cưới mà đẻ là vụ bê bối lớn, vừa hay căn sát vách trong dãy nhà đang cho thuê, cha bỏ tiền ra thuê làm nhà tân hôn, đảm cưới gấp gáp, của hồi môn ít ỏi. Chị xa nhà đi làm ba năm, vốn lên kế hoạch dành dụm một khoản tiền để an cư ở nội thành Đài Trung, chị không muốn làm công nhân may cả đời, muốn mở một cửa tiệm, bán quần áo đẹp. Nhưng quanh quẩn một vòng, mơ giấc mộng thành phố, chị lại vòng về dãy nhà phố ở quê, căn nhà từng cố hết sức để chạy trốn chỉ cách chị một bức tường.
Chồng chị nghỉ việc lái xe nâng ở Sa Lộc, theo chị về vùng đất nhỏ này, làm việc vặt ở công trường gần đó. Sau khi cưới chị mới biết anh chồng trầm lặng mê bài bạc, bài tứ sắc, mạt chược, cá độ chẳng chừa món nào. Mang thai chín tháng, tiền tích góp nhiều năm của chị không còn lại một xu, chị về nhà mẹ ở kế bên vay tiền, rõ ràng chỉ cách vài bước chân mà bước nào bước nấy gian nan, vừa mở miệng đã chuốc lấy nhục nhã. Mẹ lấy ra một xấp tiền mặt, há miệng bắn gươm đao: “Mười lăm tuổi đã chạy ra ngoài kiếm tiền, kiếm đến giờ vẫn tới vay tiền tao. Cả thế giới chỉ có con ngốc như mày không biết nó đánh bạc sau miếu thổ địa.” Chị về nhà giấu kỹ tiền, rồi cầm dao phay xông vào miếu thổ địa, lật bàn, lôi kéo, dao phay chém trúng mấy người khuyên can, người đứng xem, tượng ông địa, chỉ không chém trúng chồng. Chồng chuồn ra khỏi miếu thổ địa, chạy vào ruộng lúa, chị cầm dao đuổi bén gót, cảnh sát tuýt còi bíp bíp ở phía sau, chị chạy qua ruộng lúa, ruộng cúc, ruộng rau muống, nước ối bỗng vỡ, trước khi xe cứu thương đến, chị đã đẻ trong ruộng rau muống. Chị nhớ đêm ấy trong ruộng ếch ôm ộp kêu vang, cùng hòa âm với tiếng la hét khi sinh nở của chị, đêm hè ánh trăng trong trẻo, chị nhìn rõ từng khuôn mặt xúm lại xem, chỉ không thấy cha của con gái đâu cả. Ruộng rau muống đó giờ đã biến mất, trở thành Bạch Cung tráng lệ. Lúc đó chị rõ ràng càng chạy càng nhanh, gần đuổi kịp rồi, chỉ còn một bước thôi, sắp chém trúng rồi. Hai ngày sau chị xuất viện về nhà ở cữ, không ngoài dự liệu, số tiền mặt mẹ cho chị vay đã bay biến.
Dao phay chém không chết, xà phòng đầu độc không chết, chị biết hôm nay xe tải lật, chồng chắc chắn cũng không chết được.
Chị biết gần đây chồng thường ở lại tiệm Paris. Mấy năm nay lão làm tài xế siêu thị, chở hàng chở rau chở cá. Hội chị em bạn dì đến mật báo, nói thấy trên xe tải của lão có phụ nữ, không nhìn rõ mặt, cũng không kịp chụp ảnh, xúi chị đi thuê thám tử tư, kiện chết con mụ đê tiện đó. Chị cười như mếu, hùa theo chửi đồ lẳng lơ đồ đĩ thõa, nhưng chẳng mảy may muốn biết đối phương là ai, không ngờ lại có người đàn bà khờ khạo bằng lòng đón nhận chồng chị, chị cảm kích khôn xiết, chắc chắn là Thiên Hậu hiển linh. Có lần, chị gội đầu ở Paris, buồn tiểu đi nhờ phòng vệ sinh, vừa ngồi xuống bồn cầu đã nhìn thấy áo Polo của chồng treo trên cửa phòng. Chiếc áo Polo ấy là đồng phục của nhà máy may Sa Lộc, đã mặc ba mươi mấy năm, trên đó còn in tên xưởng may nay đã đóng cửa. Chị vốn chỉ buồn tiểu, vừa thấy chiếc áo Polo ấy, bỗng dưng buồn ị, cơ thể thả lỏng, bài tiết mạnh mẽ, loáng cái chị cảm thấy nhẹ cả người. Chị tung tăng đi về chỗ ngồi, vừa gội đầu vừa phì cười. Bà chủ Paris hỏi chị: “Chuyện gì mà vui thế?” Chị cười đáp: “Cô đấy, đều nhờ cô đấy, khéo gội đầu thế này, đã đi Paris đúng là có khác, dễ chịu quá.” Thật ra, trước khi vào phòng vệ sinh ở tiệm Paris, chị đã táo bón cả tuần.
Chị quyết định không thay đồ, không ra ngoài nữa. Trời nóng nực thế này, chị vừa nghĩ đến mặt đất lênh láng sữa, miệng chợt lợm mùi chua loét. Có Paris ở đó là được, Paris từng đi Paris, còn chị chưa đi Paris bao giờ. Giao cho Paris, cảm ơn Paris.
Thục Lệ muốn viết thư cho em trai út.
Trong chợ chiều ở khu dân cư cũ thuộc Đài Bắc này có một tiệm văn phòng phẩm cổ lỗ sĩ, đèn huỳnh quang trong tiệm thoắt mờ thoắt tỏ, buôn bán ế ẩm, rất nhiều văn phòng phẩm bày mấy năm trời cũng không bán được, bút bi khô mực, lọ mực cạn queo, bao lì xì đỏ bị nắng chiếu trắng bợt, mấy năm trước gặp bão, cả khu dân cư này bị lụt, giấy viết thư ngâm nước lũ, khô rồi vẫn bày lên giá bán. Chủ tiệm là ông bác đến từ Chương Hóa, mười mấy tuổi đã lên Đài Bắc học nghề, hơn năm mươi năm không về quê, người nhà họ hàng chết cả rồi, chẳng có gì hết, một thân một mình chỉ còn lại căn tiệm xập xệ này, ăn ở tại đây luôn, buôn bán kém thì thôi, dù sao cũng không nhập hàng nữa, chờ bán hết toàn bộ tồn kho, ông sẽ bán căn tiệm, về quê làm ruộng. Thục Lệ hay đến đây mua giấy viết thư cho em trai út, giấy viết thư cũ nhăn nheo, kiểu viết dọc, nền trắng ngả vàng sọc đỏ, không có hoa văn, hết sức đơn giản, phơi nắng hè đến giòn tan, thường bị ngòi bút rạch rách. Ông chủ nói với cô, lô hàng này bán hết sẽ về quê. Tuy cô đã mua cả xấp dày giấy viết thư, nhưng trông lượng hàng tích trữ trong tiệm, có lẽ ông chủ cả đời này phải kẹt lại đây mất thôi. “Về nhà” nếu tỏ bày bằng lời nói, thì là một giấc mộng chẳng liên quan đến hiện thực. Người muốn về nhà tự nhiên sẽ về nhà, miệng không cần nói, đầu không cần nghĩ, đôi chân biết dẫn đường, đến nơi không cần tìm chìa khóa mở cửa, có người chờ, có ngọn đèn, có nước nóng, có giường ấm, trên bàn có bữa tối, cho dù cơm canh đã nguội, cái miệng cằn nhằn là lò vi sóng, bếp lạnh thoắt chốc đỏ lửa. Cô hiểu, bản thân cô cũng thường nói với chồng con: “Ngày mai mẹ về Chương Hóa hai hôm.” Song thật ra cô đến trọ khách sạn giá rẻ ở Đài Bắc, mọi người đều nói trước khi vào phòng khách sạn phải gõ cửa, thế thì ma trong phòng mới tránh đi, cô cũng gõ gõ, khẽ nói: “Tôi về rồi đây.” Trọ hai đêm trong khách sạn âm u, nằm trên giường xem phim người lớn, ngâm bồn thật lâu, gọt lê bóc chuối, đọc cuốn sách dày cộp, viết thư gửi sang Đức, thỉnh thoảng gửi tin nhắn cho chồng: “Chương Hóa nắng chang chang, em đoán Đài Bắc vẫn đang mưa nhỉ.” Nửa đêm vào giấc, cô nghe mưa Đài Bắc ngoài cửa sổ, trong phòng ẩm thấp, cô tưởng tượng có ma nằm trên giường, cùng mất ngủ với cô. Gõ cửa không phải đuổi ma, gõ cửa là mời gọi, đến đi ma.
Những sạp hàng ở chợ chiều không nhớ mặt cô, nhưng ông chủ tiệm văn phòng phẩm biết cô cũng là người Chương Hóa, luôn nhớ mặt cô. Cô không biết rằng, ông chủ nhớ mặt cô, vì cô là khách hàng duy nhất đến đó tiêu dùng. Ông chủ mở miệng thường là: “Chào cô Trần! Chào đồng hương Vĩnh Tĩnh! Tôi lại thấy tin tức về nhà họ Vương trên thời sự ti vi, niềm vinh quang của Vĩnh Tĩnh đấy, Quỹ Vương Tân, tài thật chứ! Bán bánh quy đến tầm như vậy. Cô có quen họ không?” Cô lắc đầu, ngập ngừng vài giây, lại gật đầu nói: “Hàng xóm.” Kết quả dẫn đến tràng truy hỏi của ông chủ tiệm: “Ồ! Hàng xóm à, vậy nhà cô cũng là thế gia vọng tộc rồi! Tôi xem ti vi thấy họ xây một tòa Bạch Cung, ánh vàng lấp lánh, nóc nhà cũng màu vàng, còn Bạch Cung hơn cả Bạch Cung nước Mỹ,[10] cô quen nhà họ chứ? Còn giữ liên lạc không? Đã vào Bạch Cung chưa? Nhà cô cũng rất giàu có nhỉ? Không biết Bạch Cung nhà họ Vương có mở cửa cho tham quan không? Lần sau tôi về Chương Hóa phải đi xem thử mới được.” Mỗi một câu hỏi, cô đều có câu trả lời, song cô không lên tiếng, lẳng lặng chọn giấy viết thư, tìm loại ít nhăn một chút.
Cô đi vào tiệm văn phòng phẩm, ông chủ đang thu dọn đồ cúng rằm tháng Bảy, không bất ngờ, bánh quy của nhà họ Vương là đồ cúng chính. Tiệm văn phòng phẩm đã mấy ngày không có khách ghé, ông chủ thấy cô, nói như xả lũ: “Cô xem, mấy tiệm kia đều cúng bừa bãi cả, rằm tháng Bảy sao có thể lấy lê cúng chứ, lớp trẻ Đài Bắc này ấy à, chả hiểu gì sất, năm ngoái tôi còn thấy nhà bên cạnh lấy khổ qua ra cúng, người lớn không dạy dỗ tử tế, tôi thấy sau này sẽ chẳng còn ai cúng kiếng đâu.” Cô biết cúng cô hồn kiêng kỵ lê, hồi nhỏ ở tam hợp viện, rằm tháng Bảy mẹ mua lê, còn chưa bày lên bàn cúng đã bị bà nội bạt tai. Lời lẽ sắc như dao bắn ra từ miệng bà nội, mắng mẹ không hiểu chuyện lại không chịu học, gả vào nhà họ Trần chỉ tổ làm mất mặt, quả trong tiếng Đài nghe giống như gọi ma đến, vậy mà không biết không thể cúng cô hồn. Quả lê xinh xắn rơi xuống đất, Thục Lệ vội nhặt, còn chưa chạm tới quả lê, gò má đã va phải lòng bàn tay bà nội, không được nhặt không được đụng không được ăn. Lòng bàn tay bà nội chi chít vết chai cứng, cọ qua khuôn mặt nhỏ nhắn của cô, đến giờ cô vẫn nhớ cảm giác quệt vào những vết chai ấy. Cô khẽ đọc đi đọc lại “quả lê” bằng tiếng Đài, quả lê quả lê quả lê quả lê, “lê” nghe có vẻ giống “đến”, nhưng chuẩn bị cả bàn đồ cúng thịnh soạn, chẳng phải là bày tiệc mời ma đến ăn sao? Thế nên quả lê không phải chính là lời mời sao? Khi vừa dọn đến chung cư nhỏ ở Đài Bắc, rằm tháng Bảy cô cố ý mua lê cúng, chủ sạp hoa quả dặn cô, lê không thể cúng đâu nhé, cô mỉm cười gật đầu, về nhà bày lê ngay chính giữa mâm cúng, thầm niệm: “Đến đây đến đây đến đây nào, bọn mi đến cả đi.”
Tiệm văn phòng phẩm này bày bán rất nhiều văn phòng phẩm lỗi thời quá hạn, thật sự rất giống hiệu sách hồi cô còn nhỏ. Hồi đó, Vĩnh Tĩnh có ba hiệu sách: Vĩnh Xương thư cục, Vĩnh Nam thư cục, Minh Nhật thư cục. Vĩnh Xương thư cục nằm bên ruộng rau muống do chồng cô giáo âm nhạc cấp hai của cô mở, chủ yếu bán sách tham khảo, văn phòng phẩm không nhiều lựa chọn, sau đó vợ chồng cô giáo âm nhạc đột nhiên biến mất, nghe nói họ cho rằng Đài Loan sắp sụp đổ nên cả nhà di dân sang Argentina. Sau khi phất lên, nhà Vương về Vĩnh Tĩnh muốn xây dinh thự, mua tất cả đất đai gần ruộng rau muống, dỡ bỏ mấy căn nhà cũ ven ruộng, quyền sở hữu nơi từng là Vĩnh Xương thư cục không rõ ràng, khó bề truy nguyên, nhà họ Vương quyết định dỡ trước tính sau. Máy xúc dễ dàng bổ Vĩnh Xương thư cục ra, bên trong còn chất đầy sách vở và sách tham khảo của thập niên 70, nhà họ Vương ra lệnh châm một mồi lửa, đốt hết số sách cũ đó.
Ông chủ Vĩnh Nam thư cục rất hung dữ, ai thử viết bút bi mà không mua chắc chắn sẽ ăn chửi, nhưng buôn bán vẫn tốt, vì các nam sinh đều biết rằng, tấm rèm đằng sau hiệu sách mở ra, có một gian phòng tối, bên trong chỉ có một ngọn đèn nhỏ, trên giá có sách bảo người lớn. Đó là cấm địa trong lời lũ trẻ, có lần cô thấy Vĩnh Nam thư cục chẳng có một ai, bèn đánh bạo vén rèm đi vào, nào ngờ gặp phải thầy chủ nhiệm cấp hai đang lật sách, thầy quay đầu trông thấy cô, hấp tấp vén rèm xông ra ngoài, bất cẩn va đổ giá sách, sách báo người lớn ập về phía Thục Lệ. Cô nhớ cô gái trên những trang sách in màu đó giang chân rất rộng, cô không lại dìu thầy chủ nhiệm bị té kêu đau, vì cả người ngã chúi nhủi vào đôi chân giạng ra trên trang sách kia. Ông chủ Vĩnh Nam thư cục đỡ thầy dậy, cô mới hoàn hồn, vừa quay đầu đã nhìn thấy mông thầy. Vào thời buổi chưa có giáo dục giới tính đó, ở Vĩnh Nam thư cục, cô đồng thời nhìn thấy bộ phận bí ẩn của cả nam và nữ, cuối cùng cô cũng đã hiểu câu thành ngữ “Một hòn sỏi trúng hai con chim”. Hôm sau đi học, thầy chủ nhiệm chống gậy vào lớp, tuyên bố phải đổi chỗ ngồi, cô bị đổi đến góc rìa cách bục giảng xa nhất, một bạn nam đồ con ngồi chắn phía trước. Nhiều năm sau, cô chủ nhiệm cấp hai của em trai út đến nhà mắng vốn, bắt em chuyển trường, chồng của cô chủ nhiệm chính là thầy chủ nhiệm ngã trong hiệu sách năm xưa. Cô chủ nhiệm chửi oang oang, cha mẹ xin lỗi rối rít, nhưng chồng cô ta vừa nhìn thấy Thục Lệ đã lập tức chạy ra ngoài. Bấy giờ cô chỉ lo lắng, chạy nhanh như thế, lỡ lại ngã, lại phải chống gậy thì làm sao?
Nơi cô thường đi nhất là Minh Nhật thư cục. Hai ông chủ Minh Nhật thư cục rất thích Nhật Bản, trong tiệm có bút bi, cục tẩy, compa, tạp chí của Nhật, cô đều không mua nổi. Lúc đó chị cả rời nhà đi Sa Lộc làm công nhân may, cô thường đến đây mua giấy viết thư nền trắng sọc đỏ, viết thư cho chị cả. Hai ông chủ một béo một gầy, tên ông chủ béo có chữ “Minh”, tên ông chủ gầy có chữ “Nhật”, ghép lại đặt tên cho hiệu sách. Ông chủ béo ông chủ gầy cùng ngồi sau quầy học tiếng Nhật theo băng cát xét, ăn gà giòn lắc muối, yêu thích sách văn học, nguyên giá sách đều là tiểu thuyết văn học và tản văn, trên quầy có bánh quy nhỏ thết đãi khách miễn phí, do ông chủ gầy tự tay nướng. Cô đứng trước giá sách đọc cả ngày, không có tiền mua sách, ông chủ béo vẫn cười cười hỏi cô: “Có thích cuốn sách đọc hôm nay không?” Cô và chị em cố gắng gom tiền để mua sách, mọi người luân phiên đọc, bấy giờ mua xong sách cứ như trong tay cầm vàng vậy, về nhà trước tiên ký tên lên trang đầu, ghi ngày tháng: “Thục Lệ mua ở Minh Nhật thư cục, Vĩnh Tĩnh”. Có lần, cô liếc trộm thấy ông chủ gầy nắm chặt tay ông chủ béo ở sau quầy thanh toán. Có khách vào, họ lập tức buông tay.
Hôm đó, cái hôm cảnh sát đến vùng đất nhỏ, là ngày cuối cùng của Minh Nhật thư cục. Nguyên hiệu sách bị phong tỏa, cửa sắt kéo xuống. Cô đứng bên ngoài dây phong tỏa, từ xa xa nhìn thấy cửa sắt kéo ra, ông chủ béo và ông chủ gầy bị cảnh sát chia ra áp giải vào hai chiếc xe cảnh sát. Cô nhớ rất rõ, trước khi lên xe hai người đeo còng tay bị cảnh sát lôi mạnh tách ra, ông chủ gầy đột nhiên gọi một tiếng thảm thiết: “Minh ơi!” Cảnh sát nện nắm đấm vào mặt ông chủ gầy, chửi: “Đồ biến thái.” Đó là lần cuối cùng cô nhìn thấy họ.
Mỗi lần đến tiệm văn phòng phẩm lâu năm ở chợ chiều Đài Bắc này, cô lại nhớ đến ông chủ béo và ông chủ gầy.
Cô xách rau, thịt lợn, giấy viết thư đi về nhà, dọc đường suy nghĩ, thư gửi em trai út, câu đầu tiên nên viết gì nhỉ? Em trai út là nhà văn mà, từ nhỏ hành văn đã hay, mỗi lần viết thư cô đều viết câu này: “Thứ lỗi cho chị hai hành văn không hay, chị xin lỗi.” Viết “xin lỗi”, là thật lòng muốn xin lỗi. Cô đọc tiểu thuyết em trai út viết, có một cậu học sinh cấp hai trắng trẻo gầy yếu bị giáo viên chủ nhiệm quất thước, mắng trước mặt cả lớp: “Đồ đồng tính chết tiệt, đánh trò, tôi còn lo sẽ mắc bệnh AIDS đấy!” Cô ôm cuốn tiểu thuyết khóc ròng, xin lỗi út nhé, năm đó không có ai bảo vệ em, không có ai tin tưởng em.
Về đến nhà, trong nhà trống trơ chẳng có một ai, cô vội đi tắm, rửa đi bùn bẩn trên đôi chân, nhưng những lời chửi rủa dính chặt trên người mình thì cô không sao gột đi được.
Trong phòng tắm, cô nghĩ ra lời mở đầu của lá thư: “Út à, trong tù mọi sự đều ổn chứ? Hôm nay ở văn phòng, vì mấy con chó dẫn đường mà chị bị chửi cả ngày, còn lên tin thời sự nữa, đánh giá thành tích năm nay chắc cũng đi tong rồi. Vừa tan làm, chị liền muốn viết thư cho em, trò chuyện với em, nhân tiện hỏi em, trong nhà tù Đức có chó không? Hồi nhỏ lúc sống ở tam hợp viện, chị từng nuôi một con chó mực, lúc đó em còn chưa sinh ra. Thực chất không phải chó của chị, mà là chó của bà nội, nhưng chị hằng ngày đều phải phụ trách cho chó ăn, cho ăn riết rồi nó cứ đi theo bên cạnh chị.”
Gần như mỗi tam hợp viện ở miền quê trên đảo đều nuôi chó. Có hôm một con chó cái đẻ một ổ chó con ở khoảnh sân trước tam hợp viện, bà nội đầu tiên đuổi chó mẹ chạy mất, tiếp theo chọn chó con, mấy con chó con có bàn chân bị xem là “chân trắng” không may mắn, bà nội tóm lấy ném luôn ra ruộng ngoài. Chọn, ném, chê, chọn, ném, chê, cuối cùng lựa được một con đen tuyền, bàn chân rất to, bà nội nói, chân to sau này sẽ tương đối to con, coi như chó giữ nhà, đuổi trộm.
Vừa hay Thục Lệ đứng cạnh xem bà nội chọn chó, bà nội bèn giao chó mực con cho cô, ra lệnh bằng ánh mắt, không nói câu nào.
Thục Lệ hoàn toàn không biết nên nuôi chó thế nào, cả nhà họ ăn còn không no, cô lấy gì nuôi chó? Cô xuống bếp lục rác, sang nhà hàng xóm sát vách xin nước gạo, cơm thừa canh cặn đã ôi thiu đổ thêm nước trộn lên, con cún ăn vào liền nôn ra, nôn xong lại ăn, trong bộ dạng rất dễ thương. Nuôi bừa, song con cún có sinh mệnh kiên cường, thế mà cũng lớn nhanh như thổi, mấy tháng sau đã là con chó to thích gặm xương lợn. Chó mực theo cô đi khắp nơi, xuống ruộng nhổ cỏ, ra chuồng cho lợn ăn, nửa đêm ra ngoài đi nhà xí, chó mực cùng cô băng qua khoảnh sân, chờ cô ở bên ngoài, vẫy đuôi với cánh đồng không một bóng người, nheo mắt ngoan ngoãn, dường như ánh trăng đang xoa đầu nó.
Con chó do cô nuôi lớn, cũng do cô hại chết.
Năm lớp 3, tiết đầu buổi sáng còn chưa học xong, cô nhìn thấy bà nội mặt mày giận dữ xông vào lớp học, nói với giáo viên muốn tìm Trần Thục Lệ. Bà nội vừa thấy cô đang ngồi tại chỗ liền đi tới véo mạnh tai phải cô, lớn tiếng chất vấn: “Sợi dây chuyền ngọc trai của tao đâu?”
Bà nội sáng sớm thức dậy, định đi miếu cúng bái, giúp con trai trưởng cầu con trai, nàng dâu trưởng không biết sinh con trai, liên tiếp đẻ năm đứa con gái, vô dụng. Hứng lên, bà muốn đeo dây chuyền ngọc trai, đó là món đồ ông nội đi Tokyo mua về hồi người Nhật còn ở đây, là ngọc trai Nhật Bản chính cống. Tìm khắp trong phòng không thấy sợi dây chuyền, bà nhớ ra, mấy hôm trước chẳng phải có con cháu nội tới phòng bà quét dọn sao? Đứa thứ hai? Hay đứa thứ ba? Dù sao đều là đồ thị mẹt vô dụng, vậy mà dám trộm dây chuyền!
Bà nội đến trường tiểu học, tìm từng lớp, chị cả Thục Mỹ, chị hai Thục Lệ, chị ba Thục Thanh đều bị bà lôi ra khỏi lớp, thẩm vấn ngay trước mặt thầy trò. Ba chị em đều quỳ, vừa khóc vừa lắc đầu, bàn tay bà nội đập lia lịa lên người họ, đánh mệt rồi, bà nội xông vào lớp học lấy cây thước của giáo viên, quất lên người ba chị em.
Ba chị em không kịp lấy cặp sách, bị đánh mắng suốt đường về nhà, toàn trường đều đang nhìn họ. Về đến tam hợp viện, họ quỳ trong sân, bà nội khỏe vô cùng, tiếp tục đánh họ. Mẹ ôm em tư và em năm đang khóc quấy lao ra, cùng quỳ xuống bị bà nội đánh túi bụi. Bà nội quát, không cần dây chuyền ngọc trai nữa, chỉ cần có đứa dám thú nhận, chuyện hôm nay bỏ qua.
Thục Lệ bỗng đứng phắt dậy, vừa khóc vừa nói: “Là cháu ạ.”
Bà nội cầm cây chổi sể lên, từng bước đến gần Thục Lệ. Lúc đó cô nghĩ: “Mình sắp chết rồi. Mình sắp chết ngay bây giờ rồi. Mình sắp biến thành ma rồi.”
Cán chổi đập vào bụng Thục Lệ, cơ thể nhỏ bé của cô bay ra, va vào tường gạch.
Thục Lệ nằm bò trên mặt đất, chuẩn bị đón nhận nhiều cán chổi hơn. Đột nhiên, bà nội điên cuồng rú lên, chó mực cắn chặt cánh tay bà, không nhả.
Hôm đó, bà nội cầm cục gạch đập chó mực bất tỉnh, ném vào nồi nước sôi, cạo lông, lấy dao phay chặt thịt, thêm tỏi xào một nồi to. Thục Lệ và các chị em nấp trong phòng, cửa sổ đóng kín mà vẫn ngửi thấy mùi thịt chó xào tỏi.
Chú hai đón con trai tan học về nhà, đúng lúc kịp bữa tiệc thịt chó. Qua cửa sổ, Thục Lệ nhìn thấy trên cổ con trai chú hai lủng lẳng một sợi dây chuyền ngọc trai trắng muốt. Cô không nghe thấy cuộc đối thoại giữa bà nội và chú hai, cô chỉ thấy chú hai tháo sợi dây chuyền trên cổ con trai xuống, giao cho bà nội, mọi người đều cầm bát, tươi cười tiếp tục ăn thịt chó.
Cô ngồi xuống, bắt đầu viết thư.
“Út à, con chó sau đó bị chị hại chết, đến giờ chị vẫn thường mơ thấy đôi mắt đen láy của nó. Nhưng màu sắc trong mơ sẽ thay đổi, chó mực đã mơ rất nhiều năm, màu sắc dần nhạt đi, gần đây sắp biến thành chó trắng rồi. Hôm nay là rằm tháng Bảy, chị bỗng dưng muốn viết thư cho em, chẳng có lý do gì, chỉ là muốn trò chuyện với em thôi. Lâu lắm không nhận được thư em, em vẫn khỏe chứ? Mấy cuốn sách gửi cho em lần trước, có thích không? Hôm nay chị lại nhớ đến Minh Nhật thư cục, em còn nhớ ông chủ béo và ông chủ gầy không?”
Cô biết nữ hộ tịch viên họ Trần là cô đã làm hại rất nhiều người.
Hồi nhỏ, cô nghĩ chết thì thôi, biến thành ma là tốt rồi, trong nhà bớt một đứa con gái cũng chẳng sao, nên nhận bừa dây chuyền do cô lấy, kết quả hại chết con chó. Sau khi trưởng thành, cô tiếp tục làm hại rất nhiều người. Nếu năm xưa cô không nói gì cả, không tiết lộ gì cả, hẳn ông chủ béo và ông chủ gầy hiện giờ vẫn còn sống nhỉ? Sau đó cô thấy ảnh của ông chủ béo trên báo, gầy như que củi, khuôn mặt tròn đã biến mất. Cô vốn cho rằng phóng viên tờ báo nhầm người, nhìn kỹ tấm ảnh, phải, đó là khuôn mặt của ông chủ béo, chỉ mới mấy tháng mà thôi. Nếu ông chủ béo thành ra thế này, vậy ông chủ gầy thì sao?
Đều do cô làm hại.
Thục Thanh gần đây tích cực giảm cân, người chồng phát thanh viên nói cô béo lên thấy rõ, chứng tỏ thường ngày vô kỷ luật, cơ thể nhão ra. Anh dùng ngón cái và ngón trỏ véo mỡ ở eo cô, chậm rãi tăng sức, cô nín thở, hai nắm tay siết chặt, cô biết tất cả đều tại tấm ảnh đó. Dạo trước cô cùng chồng đi tham gia chương trình khai của đài truyền hình, bị chụp một tấm ảnh bụng dưới lùm lùm, trang giải trí giật tít “Vợ phát thanh viên nghi có thai?” Bộ đồ mặc hôm đó do nhà thiết kế bạn thân của chồng cung cấp, đến nơi thay trang phục mới nhận ra kích cỡ quá nhỏ, cố mặc lên sân khấu. Cô vừa mặc bộ đồ đó vào, cơ thể đã dự báo nỗi đau.
Chồng vào bếp, vứt bỏ toàn bộ mì sợi, đường, bột mì, đồ ăn vặt. Anh đập một gói kẹo vào mặt cô: “Có phải em ngày ngày trốn trong nhà ăn kẹo không? Bắt đầu từ bây giờ, em không được ăn kẹo. Em mù chữ giống mẹ em à? Không biết đọc chữ à? Em đọc nhãn thành phần dinh dưỡng của thực phẩm đi, chỉ cần có carbohydrate, chỉ cần có đường, hết thảy đều không được ăn.”
Chồng nhắc đến người nhà của cô, mục đích là sỉ nhục.
Mẹ sinh ra vào thời Nhật thuộc, từng học trường công thời kỳ thực dân, mới hai ngày đã bỏ học, chưa học được gì cả, chỉ nhớ thầy cô trong trường dạy mọi người cách tránh không kích của quân Mỹ. Không đi học là nỗi nuối tiếc cả đời của mẹ, không có khả năng đọc, vạn vật đối địch với mẹ. Gửi tiết kiệm ở bưu điện, làm thủ tục ở văn phòng hành chính hộ tịch đều phải dẫn theo con gái, mọi biển báo trên đường đều đọc không hiểu. Thi lấy bằng lái xe máy phải thi viết, trạm Quản lý xe cơ giới châm chước cho mẹ thi nghe, giám khảo hỏi, mẹ trả lời miệng là được, nhưng thi mười mấy lần mới đạt. Mẹ không có khả năng viết, luôn chê tên mình lắm nét, khó học, “Lâm A Thiền” trong mắt mẹ là ký hiệu xa lạ, nhất là chữ “Thiền”, nhiều nét lại khó viết, mấy đứa con gái luân phiên dạy mẹ viết, cuối cùng đều là kết cục mẹ phẫn nộ xé giấy.
Vì sao chỉ đến trường công hai ngày? Lời kể của mẹ mỗi lần mỗi khác. Có lúc mẹ nói gia đình chê trường công đắt quá, con gái đi học làm gì, lấy chồng là được rồi; có lúc mẹ nói giáo viên ở trường là phần tử chống Nhật, ngày thứ hai đã bị người Nhật bắn chết trong lớp học, thầy chết rồi, nên không đi học nữa; có lúc mẹ nói không học thuộc được năm mươi âm tiếng Nhật, sợ bị thầy đánh, bèn dứt khoát không đi học nữa; có lúc mẹ nói ngày thứ hai đi học thì gặp phải máy bay quân sự của Mỹ đến ném bom, một quả bom trong đó nổ trúng phòng học, làm chết rất nhiều bạn nhỏ, trường đóng cửa. Mẹ nói còn có một quả bom khác rơi xuống đầm nuôi cá gần đó, cá bị nổ văng ra, mẹ tưởng là trời mưa, nhưng hóa ra giọt mưa đều là thịt cá, khắp trời nồng nặc mùi cá. Mẹ theo mọi người lao đi nhặt cá, trên đường, trong ruộng, trên cây khắp nơi toàn là cá, mẹ bắt được những mấy con đem về cải thiện bữa ăn cho gia đình, nào ngờ mấy anh chị em khác cũng bắt được cá, phòng bếp trong nhà cuối cùng chất một núi cá.
Mẹ mù chữ, không đọc được, không viết được, cho nên mẹ nói nhiều, lời nói ào ào không dứt, luôn chửi con mắng chồng, luôn kể lể. Những năm tháng thiếu thốn, chẳng có chữ nghĩa chẳng có tranh ảnh, thường xuyên ôm bụng đói đi ngủ, “truyện kể ru ngủ” là thứ không tồn tại, song Thục Thanh trước khi ngủ nhất định sẽ nghe thấy mẹ nói dông dài, những lời lải nhải tủn mủn giống như vật chất dạng bụi lơ lửng trong không khí, bay vào tai cô, nghe mãi nghe mãi liền ngủ thiếp đi, quên mất cái bụng đánh trống. Hôm nay trong ruộng có rắn tháng này tiền chợ không đủ ai đám cưới phải gửi tiền mừng ai chết rồi phải gửi tiền phúng nhà ai sinh con trai nhà ai cưới con dâu hết tiền rồi thật sự hết tiền rồi mái nhà dột rồi sợi dây chuyền ngọc trai đó vốn là bằng nhựa đợi tôi sinh con trai tôi không tin mình không sinh được con trai. Mẹ ngủ rồi vẫn không yên tĩnh, ngáy như sấm, nói mớ như pháo nổ, giấc ngủ thúc đẩy màn chửi bới, những lời thô tục tuôn như suối. Cổ họng mẹ có hệ thống văn tự riêng, mắng mỏ cay nghiệt, thần chú vỗ về, câu chuyện rối rắm, tụng kinh vang dội, bất cứ lúc nào cũng có khả năng bịa đặt cảnh đời phức tạp. Mẹ lầm rầm câu thần chú ma lực, một bát gạo, một chiếc áo đã có thể vỗ về trẻ con hay khóc. Mới đang hòa nhã niệm chú gọi vía, quay người một cái đã đổi sắc mặt, lập tức thốt ra lời nguyền rủa sắc bén, thao thao bất tuyệt, không ngừng phun trào dung nham nóng bỏng, chửi cho người ta táng đởm kinh hồn, nhức xương nhức thịt.
Thục Thanh là người học cao nhất trong nhà, năm chị em gái, cô là đứa duy nhất rời nhà lên Đài Bắc học đại học. Đài Bắc đấy, cả nhà họ Trần chưa có ai từng đi, vật giá nhất định cao lắm nhỉ? Trọ ở đâu? Ăn ở đâu? Sinh hoạt phí bao nhiêu? Con gái nhà họ Trần chưa có ai dám thi đại học, tốt nghiệp cao đẳng nghề là tất tả tìm việc, cha mẹ sao có thể cho con gái học đại học? Nhưng Thục Thanh là cô con gái thứ ba tốt số, thi đỗ trường hàng đầu ở thành phố, cha mua một thùng pháo, sáng trưa tối đều đốt pháo, ầm ĩ ba ngày, nữ sinh đầu tiên của vùng đất nhỏ thi đỗ trường hạng nhất mà.
Một ngày trước khi khai trường, cha chạy xe tải nặng, cả nhà cùng Thục Thanh đi lên phía bắc. Đây là lần đầu tiên người nhà quê vào thành phố lớn, Thục Thanh và cha hai em trai ngồi ở đầu xe phía trước, mấy chị em gái khác ngồi ở thùng rơ moóc phía sau, chạy lên đường cao tốc, hướng về Đài Bắc. Giữa đường trời đổ cơn mưa to, thùng rơ moóc không căng bạt, Thục Mỹ, Thục Lệ, Tố Khiết, Mãn Muội cầm hộp nhựa đựng cau che mưa, toàn thân ướt sũng vẫn không than phiền vì sao Thục Thanh được ngồi đằng trước, Thục Thanh sắp học đại học rồi, người đầu tiên của nhà chúng ta, sắp đi Đài Bắc rồi, như vậy chúng ta mới có thể theo đi Đài Bắc.
Xe tải chạy vào Đài Bắc, đi vào nội thành phồn hoa, bị bảo vệ chặn lại ở cổng trường, xe tải lớn thế này, không được vào khuôn viên trường đâu! Cha xuống xe đưa thuốc lá và cau, bảo đám con gái ngồi phía sau chuyển xuống một thùng hoa quả, anh bảo vệ ơi, con gái tôi lên đại học, phải dọn vào ký túc xá, cả nhà chúng tôi đều đến hết, anh làm ơn nhé.
Cả nhà cùng Thục Thanh làm thủ tục nhận phòng ký túc xá, ồn ào huyện náo, ai nấy tay xách nách mang, Thục Thanh cảm thấy thật mất mặt, bao nhiêu người đang nhìn. Vào phòng ký túc xá, trải chiếu lác chăn bông mang ở quê lên, có người kêu đói bụng, mẹ bèn lấy ra bếp gas du lịch và xoong chảo đã chuẩn bị sẵn, ăn cơm ở Đài Bắc chắc chắn rất đắt, nấu ở đây là được, nhanh lắm. Căn phòng ký túc chật hẹp bốn người ở, lại chen vào chín người nhà họ Trần, bếp gas du lịch nổi lửa, rau thịt mang dưới quê lên bỏ vào chảo xào nhanh, trong hộp cơm có cơm nấu sẵn, cả nhà chen chúc bắt đầu ăn bữa tối. Mùi thơm của tỏi len qua khe cửa và cửa sổ, khiến giám thị ký túc đến gõ cửa, ký túc xá quy định không được nấu nướng! Mẹ mời giám thị vào, nói như pháo ran, giám thị hoàn toàn không có cơ hội lên tiếng, trên tay đột nhiên có bát cơm, miệng đột nhiên ngập thịt, thịt nuốt xuống lập tức lại bị nhét đầy rau muống xào tỏi, đây là rau muống Vĩnh Tĩnh chúng tôi tự trồng đấy, bảo đảm không có thuốc trừ sâu đâu! Ba người bạn cùng phòng và người nhà lục tục đến nơi, trông thấy cơm canh với đám người đầy phòng, vẻ mặt nhăn nhó. Thục Thanh cúi gằm mặt và cơm, không dám mở miệng. Cô thầm đếm trong căn phòng nhỏ này rốt cuộc đã nhồi nhét bao nhiêu người, một hai ba bốn năm sáu bảy tám, cuối cùng đếm đến hai mươi.
Sau khi người nhà về Chương Hóa, ký túc xá cuối cùng cũng yên tĩnh. Trên bàn học của cô chất đầy hoa quả, đậu phụ khô, nước tương, các bạn cùng phòng đã đi ngủ trước, ánh trăng xuyên qua cây dừa rọi vào phòng, Đài Bắc tháng Chín, ngoài cửa sổ bắt đầu đổ mưa nhỏ, gõ lên mái tôn, phát ra âm thanh giòn giã. Chăn của cô còn vương mùi bữa tối, có tỏi có sườn có mướp có tôm. Cô lặng lẽ ngồi trên giường, bên tai vẫn văng vẳng tiếng mẹ khua xẻng xào thức ăn, chẳng hiểu sao cô đã khóc suốt đêm.
Hôm khai giảng trời quang, ánh nắng vàng rực, cô vừa ra khỏi ký túc xá đã nhận ra mình hiện nguyên hình dưới nắng. Cô nhìn kiểu tóc, quần áo trang sức, giày tất của các sinh viên người Đài Bắc, sao mà xa hoa, bản thân đem so rõ dáng nghèo khó. Hôm đó cô mặc chiếc đầm chị cả may cho, vải hoa, chị cả tự rập, cắt rồi may, là quà tặng cô lên đại học. Song cách phối đồ, phối màu của các bạn học Đài Bắc đều có cảm giác nhẹ nhàng, trong khi chiếc đầm trên người cô màu sắc hoa văn quá sặc sỡ, nặng nề không thanh thoát. Còn giọng nói nữa, ngôn ngữ của bạn học người Đài Bắc trên lớp không phải hệ thống phát âm mà cô quen thuộc, vừa mở miệng, khẩu âm đã vẽ bản đồ, trên bản đồ ghi rõ địa hình giai cấp, bạn học ở khu vực trung tâm khẩu âm trong trẻo, người nhà quê ở vùng sâu vùng xa khẩu âm ề à. Vừa tan học, cô chạy về ký túc xá thay đổ, ngay lập tức quyết tâm, nhất định phải trở thành người Đài Bắc.
Hiện giờ, cô là người Đài Bắc rồi, giọng nói sau nhiều năm điều chỉnh đã chôn vùi dấu vết âm mũi của quê nhà, ăn vận tổn dáng, mặt đắp bột vàng, cổ tay xức nước hoa, ra vào bằng xe sang của Đức, ở nhà đẹp hướng hồ.
Quê hương không có hồ, chỉ có rạch nước hôi thối, kênh tưới, đầm nuôi cá, cô đọc thấy “hồ” trên sách, không thể tưởng tượng cụ thể hình dáng của hồ, lượng nước thế nào hội tụ mới gọi là “hồ”? Sau khi kết hôn cùng chồng chuyển nhà đến Nội Hồ thành phố Đài Bắc, cửa sổ chạm sàn rộng thênh của chung cư nhìn thẳng ra công viên Đại Hồ, cô mới biết thành phố Đài Bắc có hồ. Chồng cô kéo một đám bạn đến nhà xõa, uống sâm banh Pháp rượu trắng Đức, nhắm với giăm bông Tây Ban Nha, những từ ngữ hâm mộ ném về phía cô. Một vị khách trong bọn dẫn theo nhà nhiếp ảnh, chụp ảnh mùi mẫn của đôi vợ chồng mới cưới ở chung cư sang trọng hướng hồ, xô pha đặt đóng ở Ý, quầy bar thủ công Thụy Điển, tấm ảnh màu ngày hôm sau được đăng báo. Mọi người ra về, Thục Thánh nhìn cảnh hồ lúc đêm xuống mà ngơ ngẩn, non nước tĩnh lặng, ánh trăng vằng vặc, ánh sao lấp lánh, nhà cửa trước mắt đều là chung cư giá khủng, một căn khó kiếm, Đài Bắc thịnh thế, cô may mắn được ở trong đó, cuối cùng cô thật sự là người Đài Bắc rồi.
Ánh trăng đêm đầu tiên ở chung cư hướng hồ giống hệt ánh trăng cái đêm cô dọn vào ký túc xá đại học, sáng như bạc. Cô lí nhí nói với người chồng phát thanh viên: “Em gái mấy ngày nữa động quan, ngày mai em về Chương Hóa.”
“Không được đi.”
Một đám mây đen che đi vầng trăng bàng bạc, chung cư tối như mực.
“Tôi sẽ cho gửi liễn phúng điếu và vòng hoa, em yên tâm, trên đó còn viết tên cả đám chính khách nổi tiếng, ủy viên lập pháp, ngôi sao lớn, hết sức vẻ vang. Em đừng đi, chắc chắn sẽ có phóng viên đến chụp ảnh đám tang, em nán lại đây, một thời gian nữa hãy về.”
Giọng chồng cứng rắn, câu nào cũng là mệnh lệnh. Mây đen tụ tập, mưa như trút nước. Anh kéo cô lên chiếc xô pha đặt đóng ở Ý, cô lắc đầu nói: “Đừng anh, em không muốn.” Mây đen dày đặc che khuất mặt trăng, cũng che lấp thính giác của chồng, anh không nghe thấy lời từ chối và xin tha của cô, cưỡng ép tiến vào cơ thể cô từ phía sau, của quý của anh cứng như con dao, khoan vào vùng khô ráo đằng sau cô, thân thể cô mỏng manh như tờ giấy, bị con dao đột nhiên xé toạc, đây là nỗi đau đớn cô chưa bao giờ trải nghiệm.
Sáng hôm sau, cô không thể xuống giường đi lại, mỗi một bước đều như bị xé ra. Mẹ gọi điện hỏi: “Con về ngay chứ?”
Từ nhỏ, mẹ chưa bao giờ mắng cô, rất cưng cô. Đám tang em năm, cô vắng mặt từ đầu chí cuối, mẹ cuối cùng cũng nổi giận, xổ ra những lời thô tục trong điện thoại. Ở đầu này điện thoại, cô vừa nghe mẹ chửi tục vừa nhìn hồ nước trước mặt, cảm thấy rất rất buồn ngủ. Sau đám cưới, cô không thể nào dỗ giấc, cuộc tấn công bằng lời lẽ thô tục của mẹ chính là truyện kể ru ngủ dành cho cô, nghe mãi nghe mãi, cơn buồn ngủ rũ rượi ập đến.
Cô đã ngủ rất lâu rất lâu, tỉnh dậy, người chồng phát thanh viên chẳng thấy bóng dáng, cô nhìn hồ nước ngoài cửa sổ, quyết định ra ven hồ đi dạo. Cô men theo hồ tản bộ, vẫn còn đau nhưng đỡ nhiều rồi. Cô ngồi xuống cái ghế ven hồ, trên bãi cỏ bên cạnh có một đám người dựng sạp hàng, lá cờ màu đỏ viết “Hội đồng hương Chương Hóa Nội Hồ”. Cô đến sạp hàng mua nhục viên, ngồi bên hồ ăn, nhục viên có mùi vị kỳ kỳ, cô thầm nghĩ: “Đây hẳn là nhục viên Chương Hóa rởm mà người Đài Bắc làm.” Một con thủy điểu màu trắng chân dài xinh đẹp mon men lại gần cô, cô mở miệng nói với nó: “Khó ăn lắm, tao sợ mày ăn rồi sẽ chết đấy.” Ở ven hồ Đài Bắc ăn nhục viên Chương Hóa rởm, nghe hội đồng hương Chương Hóa Nội Hồ bắt đầu hát karaoke ầm ĩ trên bãi cỏ. Lấy karaoke làm tấm chắn âm thanh, cô nói rất nhiều với thủy điểu, con chim mãi vẫn không bay đi, nhục viên mãi vẫn không ăn hết.
Em trai út từ Đức trở về, từng đến chung cư hướng hồ này. Em nói với cô: “Chị ba, sang Đức, gần nhà em có một cái hồ lớn hơn cái này gấp mấy lần.”
Cô hỏi: “Cửa sổ nhà em ở Berlin có nhìn thấy hồ không?”
“Không nhìn thấy. Nhưng cửa sổ nhà em, hễ mở ra sẽ có mùi kẹo đấy. Sang thăm em là biết.”
Hôm nghe tin em trai út giết người, cô đi siêu thị ở trung tâm thương mại, mua một gói kẹo Đức.
Cô nhìn địa chỉ nhà máy sản xuất trên bao bì, đích thực ở Berlin. Cô xé gói kẹo ra, thò mũi vào kẹo, hít một hơi thật sâu. Út à, đây chính là mùi em ngửi thấy khi mở cửa sổ hả?
Cô vừa ngắm cảnh hồ ngoài cửa sổ, vừa ăn hết cả gói kẹo, trong lòng rất khâm phục em trai út.
Em trai út có dũng khí giết người.
Cô cũng muốn giết phứt phát thanh viên.
Có ve.
Mùa hạ nóng nực, vùng đất nhỏ lâu lắm rồi không mưa, kênh nước khô cạn, đất nông nghiệp hưu canh nứt nẻ, nhà nhà đều đang hóa vàng mã, trước mỗi nhà đều có một lò lửa, ngọn lửa rừng rực khiến mùa hè càng oi gắt, mặt đất là chiếc chảo đáy bằng đun nóng, ve đực trên cây dốc hết sức lực phát ra tiếng kêu, bầu trời không mây, nắng như rang. Tôi là ma, tôi không có tóc, da, nội tạng, không có cơ thể, không cần điều tiết nhiệt độ, nóng lạnh đều chẳng liên quan đến tôi. Nhưng tôi “ở” vùng đất nhỏ này. Tôi “ở” dưới sàn đá mài của dãy nhà phố, qua khe nứt trên sàn, nhìn đứa con gái cả, nó cảm thấy rất nóng, nên tôi biết hiện giờ rất nóng. Tôi “ở” trong căn phòng tối tăm của Bạch Cung, thấy con gái tư gọi điện thoại cho từng người, toàn thân nó đẫm mồ hôi, nên tôi biết hiện giờ rất nóng. Tôi cũng “ở” trước xưởng nước tương, thấy con trai út đang nhìn chân dung anh nó, nó cho rằng mình nóng váng cả đầu nên mới lạc đường, một mạch lạc từ nhà tù ở Berlin về đến quê nhà, khi nó rời Berlin, 15 độC, lúc đến Vĩnh Tĩnh, 38 độC. Hôm nay là ngày nhiệt độ cao nhất trong năm nay.
Nhưng bất kể “ở” đâu, tôi đều không nhớ ra khuôn mặt đứa con gái thứ năm. Tôi cho rằng, sau khi biến thành ma tôi sẽ tìm thấy con gái út của mình. Song tôi lang thang khắp chốn làng quê này mà vẫn không tìm thấy nó, cũng không tìm thấy bất cứ con ma nào khác, nó không “ở” đây. Khi còn sống, tôi cho rằng người chết rồi thành ma thì sẽ gặp được những con ma khác. Thật sự làm ma mới nhận ra, ma chính là một dạng tồn tại hiu quạnh nhất, không thể gặp gỡ bất cứ con người, sự việc, sự vật nào trong không gian và thời gian. Tôi chỉ có thể di động trong kẽ hở giữa giây và phút đồng hồ, yên tĩnh treo ngược mình ngủ cùng lũ dơi trên ngọn cây, yên tĩnh ngủ đông với lũ ve trong đất, không có hình dạng, mùi vị, nhiệt độ, màu sắc cố định, không thể thăm dò, không có trọng lượng không có thực thể. Người ta bày đầy cả bàn đồ cúng, nói là cho cô hồn dã quỷ ăn, nhưng đồ cúng chính là ham muốn ích kỷ của loài người, càng không có cảm giác an toàn, càng sợ chết, càng cảm thấy không đủ, đồ cúng trên bàn càng phong phú. Càng phong phú, lại càng cô độc.
Xe tuyên truyền chính sách từ trụ sở xã chạy ra, âm lượng vặn mức lớn nhất, đọ đề xi ben với tiếng ve kêu, xe chạy vào tất cả đường ngõ của vùng đất nhỏ, tiếng nói của xã trưởng xộc vào tai từng người dân: “Bà con thân mến, tôi là xã trưởng, hôm nay là rằm tháng Bảy, trời khô hanh, bà con cô bác cúng kiếng phải cẩn thận củi lửa. Xin ân cần nhắc nhở bà con, Vĩnh Tĩnh lâu rồi không mưa, theo báo cáo khí tượng sắp tới cũng sẽ không có mưa, mong mọi người tiết kiệm nước, xin nhờ cả mọi người đấy. Bà con xin cứ yên tâm, xã trưởng nhất định sẽ cùng mọi người vượt qua khó khăn thiếu nước này.”
Đây là xe tuyên truyền chính sách con trai lớn của tôi phát minh ra khi làm xã trưởng, mấy đời xã trưởng sau này đều tiếp tục sử dụng. Con trai lớn đến xưởng in in áp phích chân dung mình, treo bên ngoài xe tải nhẹ, nóc xe đặt loa phóng thanh, phát chính sách mà nó mất cả ngày để ghi âm trong phòng làm việc của xã trưởng. Thuở ấy, con trai lớn thường mặc com lê, lại tròng một chiếc gi lê có in dòng chữ “Xã trưởng Trần Thiên Nhất vì bạn phục vụ”, đích thân lái xe tải nhẹ, vòng vào tất cả các tuyến đường hạ tầng, suốt dọc đường mỉm cười nghe giọng mình vang vọng khắp Vĩnh Tĩnh. Con trai lớn quy định bản thân không được nói tiếng Đài, dưới sự lãnh đạo của nó, Vĩnh Tĩnh phải cất cánh, nông nghiệp nâng cấp, công nghiệp nâng cấp, trầu cau nâng cấp, di tích văn hóa nâng cấp, cùng toàn dân tiến tới quốc tế hóa, thu hút khách du lịch toàn thế giới đến thăm, nói tiếng Đài làm sao kết nối với toàn thế giới được?
Hô hào “nâng cấp”, chứng tỏ những cái ban đầu, vốn có, lưu truyền đều không tốt, kém chất lượng, phải đào thải hoặc cải tiến. Con trai lớn dẫn đoàn khảo sát đi Paris, New York, sau khi trở về dùng xe tuyên truyền chính sách báo cáo với nhân dân, phải xây dựng Vĩnh Tĩnh thành Paris nhỏ, New York nhỏ của phương Đông. Tiệm tạp hóa không phù hợp với thời đại, nó phải đưa siêu thị lớn của Mỹ vào, đập bỏ nhà cũ, xây nhà cao tầng. Chợ Lớn cũ kỹ quá, nó phải mời nhà thiết kế đến thiết kế sạp rau sạp cá sạp thịt lợn, đưa vào thiết kế tối giản phong cách châu Âu, kín đáo mà xa hoa, tạo ra nét quyến rũ như chợ truyền thống Pháp. Tường bao trăm năm tuổi của tam hợp viện đơn điệu quá, nó phải mời nghệ sĩ graffiti quốc tế đến vẽ tranh. Hội miếu giết lợn cúng thần làm tổn hại hình tượng, sẽ bị hiệp hội bảo vệ động vật lên án, nên thông báo cấm chỉ. Tất cả tên đường, biển chỉ đường đều phải có song ngữ Trung-Anh, thế thì du khách các nước đến mới có thể nhận biết đường. Trụ sở xã mở lớp dạy tiếng Anh, xã trưởng cùng học tiếng Anh với mọi người. Ruộng trầu, ruộng cúc, ruộng lúa, vườn cây cảnh đều bắt đầu biển hình thành nông trường tham quan, mời toàn thế giới đến Vĩnh Tĩnh làm khách. Muốn giữ khách ở lại tiêu dùng thì phải xây dựng khách sạn lớn đẳng cấp quốc tế, trưng thu đất nông nghiệp hưu canh, xây khách sạn lớn năm sao, để du khách các nước đến Vĩnh Tĩnh nghỉ qua đêm, ban ngày nghe ve ngân làm spa, ban đêm nghe ếch kêu uống cocktail.
Đó là thời gian vui vẻ nhất trong cả đời A Thiền. Con trai trưởng đắc cử xã trưởng với số phiếu cao, bà ấy là mẹ xã trưởng, dường như toàn thân được rắc bột vàng, bất kể đi đến đâu người cũng tỏa ra ánh vàng. Chúng tôi cố đẻ năm đứa con gái mới sinh được hai mụn con trai, con trai lớn giống mẹ, mặt tròn phúc hậu, con trai út giống tôi, mặt gầy thanh tú. Con trai lớn trở thành quan chức cao nhất vùng đất nhỏ, bước tiếp theo là chủ tịch huyện, sau đó sẽ tới Đài Bắc, nó nói với A Thiền: “Mẹ ơi, chờ con nhé, rồi sẽ có một ngày con làm tổng thống”
A Thiền nghe xong, cười như chuông ngân. Mùa hè năm tôi quen A Thiền, có tiếng ve, có mùi nước tương.
Trước khi chết, tôi dùng khứu giác đánh dấu những người xung quanh, mỗi người đều có mùi đặc thù, ví như mẹ tôi là mùi cao Thanh Thảo, người làm quan tài là mùi vụn gỗ, con gái cả là mùi vải, Cây Cau là mùi khế, con trai út là mùi sách. Con trai lớn vốn là mùi quan tài, sau khi bị tay bán bánh quy kéo đi làm xã trưởng, biến thành mùi com lê.
A Thiền hồi mười tám tuổi, khắp người là mùi nước tương.
Bà mai nói với mẹ tôi, đối tượng là con gái cả của xưởng nước tương, bà mẹ ở góa, vừa tròn mười tám, cần cù khôn ngoan, mặt tròn mông mẩy, thoạt nhìn biết ngay là sẽ mang lại may mắn cho nhà chồng, chắc chắn mắn đẻ con trai. Cô con gái cả tên Lâm A Thiền, biệt hiệu “Thiền Dầu Nành”, là người đẹp nhất làng đó, không biết chữ nhưng tiết kiệm chăm chỉ, sinh ra đã định sẵn sẽ làm vợ hiền dâu thảo. Bà mai chỉ vào nước tương trên bàn ăn nói, mọi nhà ở Vĩnh Tĩnh đều ăn nước tương hiệu này, nước tương Phương Cống Cống, nhà bên kia khả năng kinh tế không tồi, của hồi môn hẳn khá lắm, hơn nữa bát tự cầm tinh đều hợp nhau, trưởng nam nhà họ Trần và trưởng nữ nhà họ Lâm kết hôn, là duyên lành trời định đấy.
Trước khi cưới Thiền Dầu Nành, tôi chỉ gặp mặt cô ấy hai lần. Lần thứ nhất, ở xưởng nước tương Phương Cống Cống, gia tộc hai bên gặp nhau, bà mai dẫn A Thiền vào, bưng trà ô long và cau đãi khách. Thiền Dầu Nành cúi đầu im lìm, tôi không cách nào nhìn rõ mặt cô ấy. Trong xưởng nước tương có mùi đậu nành lên men rất nồng, chua chua mằn mặn, sân bày những chum nước tương, nghe nói phải phơi nửa năm mới có thể đóng chai thành phẩm. Ve[11] trên cây ngoài xưởng kêu râm ran, họ hàng đằng gái kể, hôm A Thiền chào đời, ve cũng kêu rộn như thế, cả xưởng không ai nghe thấy mẹ A Thiền kêu đau bụng đẻ, nên đặt tên là Thiền. Nước tương Phương Cống Cống là xưởng nước tương gia truyền, lính Nhật thua trận chuẩn bị rời Đài Loan còn cất công đến xưởng mua những mấy chai, nói phải mang về Tokyo chấm sushi. A Thiền từ nhỏ theo mẹ học làm nước tương, tay nghề thành thạo, lựa đậu, nấu đậu, rắc mốc đều rất giỏi, nhưng con gái dù sao cũng phải lấy chồng, sản nghiệp gia đình chỉ truyền cho con trai, phải nhanh chóng tìm một mối tốt để gả đi.
Lần thứ hai gặp A Thiền, chúng tôi chụp một tấm ảnh đen trắng. Hôm đó tôi mặc sơ mi quần tây, A Thiền mặc đầm liền thân in hoa ôm sát người, tay cầm chiếc túi xách nhỏ. Mẹ tôi ra hiệu ảnh duy nhất trong xã mời thợ chụp ảnh, bảo chúng tôi đứng trước xưởng nước tương, chụp một tấm ảnh chung trước khi cưới. Khi chụp ảnh, thân thể chúng tôi cuối cùng cũng dựa sát vào nhau, tôi nhìn rõ mặt cô ấy, mắt to mặt tròn tóc xoăn, cô ấy nhận ra tôi đang nhìn mình, vội vã cúi đầu. Tôi lén hít sâu, quả thật giống hệt mùi chai nước tương trên bàn ăn nhà tôi.
A Thiền vẫn không nói chuyện, cứ nhìn dưới đất. Tôi hỏi cô ấy, dưới đất có gì thế? Cô ấy nghĩ ngợi hồi lâu mới khẽ nói, khi ve vừa bò khỏi đất, trăng trắng, be bé, bắt một nắm thả vào dầu rán, ngon lắm, chấm nước tương càng ngon, nhiều người không biết đâu. Nói xong, cô ấy lại cúi đầu, im lặng chụp ảnh.
Lần thứ ba gặp mặt, chúng tôi đã là vợ chồng. Đêm tân hôn, A Thiền ngồi trên giường ngủ trong tam hợp viện, bắt đầu nói chuyện. Vừa mở miệng là cô ấy không dừng lại được.
Ve có bao giờ ngừng kêu.
Gã và Thuyền Con kề vai ngồi ngoài xưởng nước tương bỏ hoang, ăn nhục viên.
Sân xưởng nước tương ngổn ngang chum nước tương vỡ nát, mùi đậu đen lên men trong ký ức đã hoàn toàn biến mất, nóc nhà xưởng chẳng thấy đâu, chỉ còn lại cây cột sắt xiêu vẹo, hít sâu thấy có mùi hăng hắc của gỉ sắt. Hồi nhỏ chai nước tương trong nhà trơ đáy, mẹ bảo thằng út đạp xe đến nhà bà ngoại lấy nước tương, bà ngoại lấy túi vải đựng ba bốn chai nước tương Phương Cống Cống, dặn nó đạp xe cẩn thận. Hồi đó, xưởng nước tương thuê rất nhiều công nhân, kinh tế đảo bắt đầu cất cánh, nước tương Phương Cống Cống vốn chỉ bán ở vùng đất nhỏ bắt đầu bán đến các nơi trên đảo, đơn đặt hàng liên tục đổ về, nhà xưởng không ngừng mở rộng.
Hết nước tương, thông thường là chạng vạng 5 đến 6 giờ, thời khắc giằng co giữa đêm và ngày, bầu trời làng quê nhuộm màu cam lam tím, trong lòng nó nhớ lời mẹ và bà ngoại dặn, nhưng trên đường lúc hoàng hôn thực sự có quá nhiều chuyện thú vị, nó đạp xe chạy loăng quăng khắp nơi, không chịu về nhà.
Trước cây nhội có người đang cúng tạ thần cây, hóa ra là người hàng xóm giết rắn. Người giết rắn bỏ ra số tiền lớn dựng sân khấu ngoài trời dưới gốc cây, nhóm múa thoát y Ba chị em đứng trên sân khấu hướng về phía cây lắc lư thân thể, trút bỏ quần áo lóng lánh trên người, cho đến khi không còn mảnh vải che thân. Tên “Ba chị em”, thật ra là ba thế hệ bà, mẹ và cháu nội, thoát y truyền từ đời này sang đời khác, đám hiếu đám hỷ ở vùng đất nhỏ đều có bóng dáng họ, cô gái vóc người nhỏ nhất trên sân khấu là bạn học cùng lớp cấp một của nó, cô bé nhìn thấy nó đứng dưới sân khấu, vừa cởi đồ vừa hét to: “Trần Thiên Hoành, bài tập toán hôm nay cậu làm xong chưa? Làm xong thì cho tớ cóp với nhé! Khó quá đi, tớ chả biết làm đâu!”
Nông dân trồng hoa đang mắc bóng đèn trong ruộng cúc, đường dây xảy ra sự cố, trăm ngàn bóng đèn thoắt sáng thoắt tối, sao trên trời đều rơi xuống ruộng cúc rồi.
Trong Vĩnh Nam thư cục chen chúc cả đám học sinh vừa tan học, ông chủ lại đang chửi, có người lấy cục tẩy tẩy thử, bị ông chủ chửi thậm tệ. Tiếng chửi của ông chủ cũng không đuổi khách chạy mất được, trong hiệu sách nhộn nhạo. Một đám nam sinh cử đại diện, lấy can đảm chuẩn bị vén tấm rèm phía sau hiệu sách. Mọi người móc hết tiền tiêu vặt, muốn vào phòng tối đằng sau hiệu sách, nghe nói có hàng mới, in màu toàn bộ, khỏa thân hoàn toàn. Mấy nam sinh lớn hơn nó rất nhiều tuổi hỏi nó, có muốn xem gái Nhật trần truồng không? Nếu muốn thì giao tiền tiêu vặt ra đây, nó lắc đầu đáp: “Em chỉ ra ngoài mua nước tương.”
Nó dùng tiền tiêu vặt mua que kem ở tiệm tạp hóa dưới cây đa, dựng xe đạp dưới cột đèn đường, để kem vị khoai môn từ từ tan trong miệng, thầm đếm một hai ba. Một, đèn đường từ từ thắp sáng; hai, rất nhiều côn trùng nhỏ bị nguồn sáng của đèn đường thu hút, tụ tập bay lượn dưới đèn; ba, dơi lao về phía đèn đường bắt côn trùng, trong lòng nó vang lên tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Nó rất thích dơi, ban ngày treo ngược mình ngủ khò khò giữa lá cây rậm rạp, dáng vẻ cả bầy dơi nhỏ chen nhau ngủ rất đáng yêu, đợi đến nhá nhem tối mới bay ra tìm côn trùng ăn. Dưới đèn đường, cánh dơi hiện lên trong mờ, tư thế bay bắt côn trùng như tia chớp.
Vườn khế lúc sẩm tối, Quần Đùi Đỏ đang chuẩn bị kết thúc công việc về nhà. Quần Đùi Đỏ vừa nhìn thấy nó đã nói ngay: “Nhóc chạy lung tung khắp nơi thế, mẹ nhóc ở trong bếp gọi ầm ĩ, đang tìm nhóc kia kìa, tiếng réo vọng đến tận đây rồi, còn không mau về nhà đi! Không có nước tương làm sao xào rau.
Quần Đùi Đỏ lúc chạng vạng đã đổ mồ hôi cả ngày, dãi nắng cả ngày, đi ra khỏi vườn khế, một tay vác thang, một tay cầm sách. Quần Đùi Đỏ cao lớn, so với thân thể nhỏ bé của nó, chẳng khác nào một cái cây. Mấy hôm trước nó đọc được về rừng nhiệt đới Amazon trong sách tranh, cá sấu, cá hổ, khi, chim mỏ to, nhện độc, bướm màu rực rỡ, đều là những sinh vật nó chưa nghe chưa thấy bao giờ, nó tưởng tượng vườn khế chính là rừng nhiệt đới Amazon của vùng đất nhỏ này, một con trăn to quấn trên cây khế. Quần Đùi Đỏ đặt thang xuống, tóm lấy eo nó xoay tròn tại chỗ, đến khi nó vừa cười vừa xin tha mới thôi. Nó ôm Quần Đùi Đỏ, cười kêu chóng mặt quá: “Đừng mà đừng mà, ha ha ha, thế này em sẽ nôn mất!” Nó thừa cơ hít sâu, ngửi nách Quần Đùi Đỏ, đoạn ghé sát eo anh, cái mùi đó có mùi của cây hoặc cỏ hoặc sông, hơi gay mũi một chút, ngửi lần nữa, trên người Quần Đùi Đỏ xuất hiện rừng nhiệt đới rậm rạp, cái mùi đó là cá sấu cũng là cá hổ, hàm răng sắc nhọn, ngoạm vào người nó, để lại vết răng suốt đời không thể nào quên. Trong sách viết rùa và bướm trong rừng nhiệt đới Amazon là bạn thân, bướm thích nước mắt của rùa, còn bản thân rùa không thể tự làm sạch chất bài tiết ở mắt nên để mặc bướm đậu trên đầu mình hút nước mắt, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Nó tưởng tượng mình là bướm, Quần Đùi Đỏ là rùa, vườn khế chính là rừng nhiệt đới Amazon bí mật của họ.
Thật ra Quần Đùi Đỏ là con rùa không nước mắt. Đối mặt với thời khắc tàn khốc nhất trong đời, Quần Đùi Đỏ vẫn không rơi nước mắt. Quần Đùi Đỏ chỉ cầm bút lên, viết di thư.
Thuyền Con hỏi gã: “Mùi vị nhục viên đổi khác rồi nhỉ? Khi ăn có nhận ra không?”
Gã gật đầu, nhục viên vừa vào miệng gã đã nhận ra. Vỏ ngoài quá giòn, nhai trong miệng rất lâu mới nuốt xuống được, nhân thịt bên trong không thơm mùi măng.
“Thật ra vẫn cùng một tiệm, cái tiệm bọn mình ăn từ nhỏ đến lớn ấy, cậu nhớ chứ? Trước kia bọn mình tan học bụng đói meo, thường đạp xe đến đó ăn nhục viên. Ông chủ đó chết rồi, truyền cho hai người con trai, mùi vị lộn xộn hết. Hai người con trai về sau hục hặc bất hòa, đều vì tiền cả thôi, kết quả một người sang bên kia đường mở một tiệm khác, hai tiệm cạnh tranh với nhau, xem của ai dở hơn.”
Gã và Thuyền Con ngồi trên bậc thềm ngoài xưởng ăn nhục viên, không có bát, bèn mở túi bóng đựng nhục viên, dùng đũa gắp ăn luôn. Không có thìa, bèn ngửa cổ, tay cầm túi bóng đựng canh mọc đậu phụ, chậm rãi đổ canh vào miệng. Lần trước hai người họ ngồi dưới đất ăn thế này, là năm lớp 9.
“Nhất là nước chấm, không có nước tương Phương Cống Cống, nhục viên ăn khác ngay. Nhưng có khi tớ lại muốn ăn, rõ ràng biết không ngon, không giống với nhục viên hồi nhỏ, mà vẫn chạy xe đi mua. May mà hôm nay tớ mua nhiều, kết quả gặp được cậu.”
Gã ngắm Thuyền Con, đầu húi cua, đen sạm, gầy gò, mặc áo may ô thể thao, quần đùi kaki, giày thể thao dính đầy bùn.
“Về cúng à? Sao không nghe chị cả cậu nói cậu sẽ về?” Gã không biết trả lời thế nào, chỉ lắc đầu.
“Tớ chạy xe từ xa đã nhìn thấy cậu, nhác trong bóng lưng, tướng đi liền nghĩ là người nơi khác. Tớ vốn nghĩ rằng, hôm nay Quỷ Môn Quan rộng mở, quả nhiên trên đường có ma. Chỗ chúng ta đây, không chạy ô tô thì đi xe máy, sao có thể có người cuốc bộ ven ruộng chứ, thật sự rất giống ma, may mà là ban ngày ban mặt. Cậu xem cậu mặc đồ gì thế này, áo khoác com lê à? Bạn ơi, cậu thế này thoạt trông đã biết là người nơi khác.”
Gã đang mặc một chiếc áo khoác com lê màu lam sẫm, bên trong là sơ mi trắng, quần jean đen, giày đen tất đen. Đúng là không hợp thời. Nhưng sau khi ra tù, gã thật tình không còn lại bao nhiêu quần áo, đây là mấy chiếc trong số đó.
“Cậu ra khi nào? Sao nghe chị cả cậu nói còn mấy năm nữa mà. Có phải tạm tha không?”
Gã nhìn chum nước tương vỡ trước mặt, ăn hết nhục viên và uống cạn canh trong túi bóng, gấp cái túi làm đôi rồi làm tư, liếm sạch nước chấm nhục viên trên ngón tay, động tác rất chậm. Gã biết ánh mắt của Thuyền Con này giờ vẫn dừng lại trên người mình. Anh mắt đó rất nhẹ nhàng, bướm đậu trên đầu ngón tay, tơ liễu khẽ chạm mặt sông, tơ nhện vương vào tóc bạc, dè dặt thận trọng. Quả đúng là một chiếc thuyền mà, nhẹ nhàng đong đưa, chầm chậm lắc lư, luôn khiến gã chóng mặt. Gã chậm rãi ngẩng đầu lên, nhìn trả Thuyền Con, ăn no rồi, có sức rồi, được thôi. Gã siết chặt hai năm tay, bụng vận sức, lồng ngực vận sức, cổ họng vận sức, đẩy câu chữ cứng đanh như đá đó khỏi miệng: “Ra rồi.”
Hai chữ “ra rồi” góc cạnh sắc nhọn, cạo xước cuống họng và vách khoang miệng của gã, đau. Nhưng nói rồi, người nhẹ hơn một chút.
Thuyền Con đặt tay lên vai gã, không nói gì. Gã nhìn bàn tay Thuyền Con trên vai, nếp nhăn hằn sâu, trong kẽ móng tay có đất. Ba mươi năm trôi qua rồi, bàn tay nhỏ biến thành bàn tay to, trắng mịn biến thành đen sạm.
Hồi lớp 7[12], hôm nó từ lớp lưu ban được chuyển sang lớp giỏi, Thuyền Con ngồi bên cạnh nó. Lên cấp hai, ngày đầu tiên là làm bài kiểm tra năng lực trí tuệ, nhà trường căn cứ chỉ số thông minh để chia lớp, các học sinh điểm cao nhất chia thành hai lớp hạng A+, chính là lớp 7-1 và lớp 7-2, kế đó là hai lớp hạng A-, lớp 7-3 và lớp 7-4, cứ thế suy ra độ thông minh giảm dần. Cả đời nó chưa làm bài kiểm tra năng lực trí tuệ bao giờ, hoàn toàn không biết trả lời thế nào, cả khối có mười bảy lớp, nó bị phân vào lớp 7-17. Lúc đó nó không hề biết lớp 7-17 bị quy là lớp lưu ban không thể giáo hóa, về nhà nói với các chị mình được phân vào lớp chót, các chị méo xẹo mặt, ngũ quan vẹo vọ, thiết nghĩ cu út nhà mình cũng đâu có ngốc mà bị phân đến vùng rìa nhất của giáo dục. Lớp 7-17 rất vui nhộn, mọi người đều cười ha hả, có bài kiểm tra đến nửa lớp xơi trứng ngỗng, cả bọn đọ nhau điểm thấp. Có bạn học là đồng cốt lên đồng trong tiết toán, thầy toán quỳ lạy cậu ta, hỏi xin bảng số soi cầu; có bạn học xăm mình mang kiếm võ sĩ Nhật Bản đi học, nói sau khi tan học phải đi tìm người tính sổ, tối đó bị chém chết, hôm sau lên tin thời sự; có bạn học mặt tròn xoe, động tác chậm chạp, cười hề hề suốt; có bạn học ngồi xe lăn; có bạn học mất cánh tay. Bạn nữ múa thoát y cùng lớp với nó thời tiểu học cũng ở lớp này. Lớp 7-17 lúc nào cũng náo nhiệt, thầy cô bộ môn đều không dạy mấy, thầy toán viết Tâm kinh lên bảng, cô Anh văn thẳng thắn thừa nhận cô căn bản không biết tiếng Anh, giáo viên lý hóa thường không xuất hiện, thầy sử tiết học nào cũng uống cao lương, thầy địa đến từ Tứ Xuyên luôn hô hào phản động, thầy ngữ văn chia sẻ với cả lớp tập ảnh khỏa thân của nữ thần tượng con lai Nhật Bản mà thầy mua ở Vĩnh Nam thư cục, các bạn học thường mang rất nhiều đồ ăn đến trường, bánh ú nhân thịt, bánh tổ, nhục viên, xúc xích, gà giòn lắc muối, mọi người lúc nào cũng đang ăn gì đó, cậu chia cho tớ tớ sẻ cho cậu, luôn rộn tiếng cười. Học kỳ một kết thúc, lớp có một số thay đổi, vài nữ sinh bụng to lên, cảnh sát vào trường bắt đi mấy nam sinh xăm trổ, bạn học ngồi xe lăn cắt cổ tay trong phòng vệ sinh, nền nhà lênh láng máu, có bạn học nữ đẻ con trong phòng vệ sinh. Nghỉ đông xong, nó trở lại lớp 7-17, lớp chỉ còn lại nửa sĩ số. Chủ nhiệm giáo vụ đi vào, vỗ vai nó: “Trò Trần Thiên Hoành, trò phải chuyển lớp, thu dọn cặp sách rồi đi theo tôi.”
Hóa ra, cậu học sinh lớp 7-17 là nó liên tiếp mấy lần thi tháng, thành tích môn ngữ văn và tiếng Anh đều tốt hơn các bạn ở lớp 7-1 và 7-2, thầy cô quyết định kéo nó từ vùng rìa đến vùng trung tâm, vào lớp 7-2.
Tiết học đầu tiên ở lớp 7-2 là tiếng Anh. Cô giáo vóc dáng nhỏ bé, tay cầm roi mây, ánh mắt như lưỡi dao: “Hôm nay lớp chúng ta có học sinh mới, nghe nói tiếng Anh của trò ấy rất tốt, cùng một đề thi, làm bài còn được điểm cao hơn đám đần độn các trò. Trò Trần Thiên Hoành, đứng lên. Có người mới đến, chứng tỏ có người chuyển đi, các trò nghe đây, nếu các trò không cố gắng học hành thì người tiếp theo bị đá khỏi lớp chọn chính là các trò. Trần Thiên Hoành, trò phải chăm chỉ học tập, nếu không sẽ bị ném về cái lớp kém đó bất cứ lúc nào.”
Nó đứng lên khỏi chỗ ngồi, cảm thấy mọi thứ đều rất xa lạ, lớp này yên tĩnh quá, không có ai đá bàn ghế, đánh bài poker, chơi mạt chược, mọi người trông có vẻ đều mệt nhoài, không ngủ đẫy giấc.
“Dương Hiểu Chu, trò ngồi cạnh Trần Thiên Hoành, phụ trách dẫn dắt trò ấy làm quen môi trường mới, nhắc nhở trò ấy tất cả những việc cần chú ý, lớp trước đây của trò ấy vốn là một đám lưu manh kỹ nữ.”
Nó nghe bạn học khác nói, Dương Hiếu Chu là con trai của cô chủ nhiệm kiêm giáo viên tiếng Anh, thành tích đứng nhất toàn trường, sau này muốn làm bác sĩ.
Nó nhớ mãi cái cách Dương Hiếu Chu tự giới thiệu: “Tớ tên Dương Hiếu Chu. Chữ Chu trong câu “Khinh chu dĩ quá vạn trùng sơn”,[13] thuyền nhẹ đã qua núi vạn trùng ấy.”
Nó thầm quyết định gọi cậu ấy là “Thuyền Con”. Thuyền Con cao bằng nó, mũi lân, mắt hí.
Thuyền Con nói với nó, lớp 7-2 không như các lớp khác 7 giờ rưỡi sáng mới đến, cô chủ nhiệm quy định 6 giờ rưỡi phải đến trường, lập tức kiểm tra từ vựng tiếng Anh, 7 giờ kiểm tra toán. Mỗi môn dưới 90 điểm bị ăn đòn, không có ngoại lệ. Tiết mỹ thuật, tiết công nghệ, tiết gia chánh, tiết âm nhạc đều dùng để học toán hoặc tiếng Anh, xếp hạng toàn trường kỳ thi giữa kỳ, nếu lớp không có ít nhất năm bạn trong Top 10 thì cả lớp bị phạt nhảy cóc ở sân tập.
Kỳ thi giữa kỳ tiếp theo, bảng xếp hạng toàn trường được công bố, Top 10 đều là học sinh lớp 7-2. Nhưng cô chủ nhiệm hết sức không vui, vì Thuyền Con không nằm trong Top 10 toàn trường. Hôm đó tan học, thầy trò về hết rồi, cô chủ nhiệm cầm roi mây đánh vào lòng bàn tay Thuyền Con ở sân tập, Thuyền Con nửa ngồi xổm, roi mây của cô chủ nhiệm quất lên lưng cậu, Thuyền Con nhảy cóc trong sân tập, cô chủ nhiệm quát: “Dương Hiểu Chu, điểm số bết bát như này thì trò làm sao thi trường y được. Tôi không chở trò về nhà đâu, hôm nay trò tự đi bộ về nhà cho tôi.”
Nó từ đầu đến cuối nấp sau cây phượng trong sân tập, học thuộc lòng từ vựng tiếng Anh phải kiểm tra ngày hôm sau, nhìn trộm Thuyền Con chịu phạt. Nghe thấy tiếng xe máy của cô chủ nhiệm đi xa rồi, nó mới từ sau cây phượng bước ra, ngồi xuống cạnh Thuyền Con. Mặt sau sơ mi đồng phục trắng của Thuyền Con có đến mấy vết roi mây. Nó lấy kẹo khoai môn trong cặp ra đưa cho Thuyền Con: “Mẹ tớ làm đấy, ngon lắm, cho cậu.” Thuyền Con ăn sạch kẹo khoai môn, cười nói: “Đồ ngốc này, tớ quên nói với cậu, mẹ tớ quy định không được mang đồ ăn vặt đến trường. Mẹ thường nhân lúc bọn mình không ở trong lớp để lục soát cặp, nếu bị mẹ tìm thấy cái này, hì hì, cậu còn thảm hơn tớ hôm nay đấy. Trời ơi, cái này ngon tuyệt cú mèo, mẹ cậu khéo ghê!”
Nó dắt xe đạp, rời khỏi sân trường vắng vẻ với Thuyền Con, cùng lững thững thả bộ về nhà. Hoàng hôn hôm đó, vòm không nhuộm màu vàng rực, bầu trời có rất nhiều dơi.
“Ra rồi thì tốt. Cậu vẫn chưa về nhà nhỉ, khoan hẵng về, để tớ gọi điện báo với chị cả cậu, bảo chị ấy chuẩn bị bếp lò. Về rồi, phải bước qua lửa.”
“Dương Hiểu Chu, sao cậu lại ở đây? Chẳng phải cả nhà cậu đều dọn đi rồi sao? Gượm đã, không đúng, sao cậu quen chị cả tới”
Thuyền Con lấy điện thoại ra, nháy mắt phải: “Cậu từ Đức về còn được, mà tớ không về được à? Cậu đợi chút, tớ gọi cho chị cả cậu.”
Đột nhiên, cơn buồn ngủ ập đến. Bây giờ rốt cuộc là mấy giờ nhỉ? Đức và Đài Loan mùa hè chênh lệch sáu tiếng, cho nên bây giờ rốt cuộc là mấy giờ? Gã rốt cuộc ở đâu? Đây là đâu?
“Chị cả, là em đây! Lát nữa em đến thăm chị, dẫn theo một vị khách quý bí ẩn. Đừng hỏi nhiều như thế, tóm lại là khách quý bí ẩn. Chị cúng xong rồi nhỉ? Em bảo này, chị đi tìm một cái bếp lò nhỏ, loại be bé ấy, ôi dào, phiên phiến thôi, đừng lớn quá là được. A, đúng rồi, nhà chị có chân giò không? Ôi dào, thôi khỏi, để em.”
Gã nghe tiếng Thuyền Con, có ảo giác say sóng.
“Buồn ngủ đúng không? Lệch múi giờ đấy mà. Nào, lên xe tớ ngủ, tớ chở cậu về nhà.”
Gã ngồi lên xe Thuyền Con, xe nổ máy, mí mắt gã khép lại.
Ghế ngồi trên xe Thuyền Con rất êm, gã nhanh chóng rơi vào vực sâu của giấc ngủ. Vực sâu có đáy, gã cảm thấy người mình va phải một bề mặt dạng cao su mềm mại có tính đàn hồi nào đó, cơ thể bật lại, miệng hét “Á”, cả người chợt bừng tỉnh.
Á. Không phải mình đang ở trong tù sao? Đây là đâu? Người lái xe là ai? Thuyền Con? Dương Hiểu Chu? Sao cậu già đi nhiều vậy? Thuyền Con? Tớ đang ở đâu? Ruộng hoa ngoài cửa sổ kia là hoa cúc à?
“Cậu cứ ngủ đi, bọn mình đi mua miến tuyến[14]. Chị cả cậu chắc chắn đoán được rồi, chị ấy chắc chắn biết em trai đã trở về “
Út à,
Trước giờ không trả lời, nhưng chị có nhận được. Thư em viết cho chị mấy năm nay, chị đều nhận được. Em gửi đến nhà cũ, chị cả lén mang tới cho chị, anh ta không biết, anh ta thật sự không biết. Anh ta cho rằng nhà chúng ta có người ở tù, có hai người ở tù, rất mất mặt. Đồ ngu, nhà bọn họ không có sao? Đồ ngu. Đồ chết tiệt.
Không trả lời, chị không trả lời thư em, không trả lời. Bởi vì chị không biết. Em biết chị tư của em rất ngốc mà, viết thư khó quá, chị không biết. Chị ngốc, ngốc đến nỗi lấy nhầm người. Ngốc chết đi được, ngốc chết đi được, ngốc chết đi được, ngốc, đúng là ngốc.
Bây giờ trả lời thư, rất chậm, quá chậm rồi. Nhưng những lá thư em viết cho chị, chị có đọc cả. Em viết sách chị cũng có đọc. Chị bây giờ không ra ngoài, chỉ đọc mãi. Đọc báo lúc trước, đọc sách của em. Có lúc chị sẽ đoán xem, những tiểu thuyết em viết đó có viết về chị không. Chị đã đọc tận mấy lần, cuốn nào cũng đọc. Người phụ nữ ngốc nhất định là chị, đúng không? Nhưng lại hình như không phải. Út à, sách của em rất hay, chị đọc thường không hiểu. Đọc không hiểu, là tại chị ngốc. Em không ngốc, họ nói em đã giết người, phải ở tù mấy năm trời. Chị nghe mà ước ao lắm. Ước ao em có hiểu không? Em chắc chắn hiểu, em thông minh như thế, không giống chị tư em.
Chị tư em đúng là ngốc. Những lá thư em viết cho chị, chị đều nhận được, cất giữ kỹ. Rất nhiều giấy trong phòng chị lên mốc cả rồi, nhưng chị không muốn thư của em lên mốc, chị hỏi người làm vườn ở Bạch Cung làm thế nào, hắn đi kiếm một cái hộp chống ẩm cho chị, loại cắm điện ấy, thư của em đều trong đó. Thư ngoan ngoãn, không lên mốc, sau khi em ra chị sẽ trả cho em, trả hết cho em, em có thể sắp xếp lại một chút, cuốn sách tiếp theo chính là những lá thư này. Chị đã đọc rất nhiều lần, thật tình không gạt em, sách của em chị đều có mua đều có đọc, thư của em chị vẫn luôn đọc.
Mẹ đâu mất rồi, nói cho em hay nhé, mẹ đâu mất rồi ấy. Chị liên tục gọi điện cho những người khác, chị cả phớt lờ chị, chị hai phớt lờ chị, chị ba phớt lờ chị, tất cả đều phớt lờ chị. Chị muốn gọi cho chị năm của em, nhưng chị ngốc, chị đúng là ngốc, chị không biết tức là không biết.
Chúng ta phải tìm thấy mẹ, thế thì nhà chúng ta sẽ ổn thôi, không sao nữa, Bạch Cung
Vừa rồi chị cả gọi điện, nói em về rồi.
Trong điện thoại chị ấy nói, Tố Khiết em mau ra đây, em trai về rồi. Em trai từ Đức về rồi.
Đồ ngốc này, em về làm gì. Em về cái vùng đất quỷ tha ma bắt này, muốn làm gì chứ.
Em ngốc chết đi được.
Chị
Xong đời, chị xong đời rồi. Tiêu tùng rồi. Chị như này. Chị ngốc chết đi được. Không đi được nữa. Chị không đi được nữa. Chị những muốn châm một mồi lửa thiêu Bạch Cung này. Thiêu rồi thì không còn trắng nữa. Đốt thành than, than đen, trắng biến thành đen, những thứ vàng kim đều cháy sạch sành sanh.
Có một lá thư.
Còn có một lá thư.
Hai lá thư.
Bên trong hộp chống ẩm của chị, ngoài thư em viết cho chị, còn có hai lá thư. Thư cũ mèm, thư lâu lắc rồi. Viết tay. Chị tìm thấy trong nhà họ Vương. Họ đều không biết chị có những lá thư này. Nghe nói bây giờ chẳng ai viết thư nữa. Ý chị là viết tay ấy. Tuy chị không ra ngoài, nhưng chị biết hết, chị biết hết chị biết mà, chị đâu có ngốc đến thế. Tiểu Vương. Không không không, là người làm vườn. Có cho chị điện thoại di động mẫu mới.
Út à, lá thư đó. Di thư, cậu ta viết trước khi chết. Chị đã đọc mấy năm rồi, đọc mãi đọc mãi. Chẳng ai biết về hai lá thư này. Có vài người biết về hai lá thư này. Em không biết về hai lá thư này.
Em phải, thật đó, em phải đọc, lá, những lá, di thư này.
Đó là do Cây Cau viết. Em không quên cậu ta đâu nhỉ, chính là người trồng khế đó. Cao cao. Ở sát vách.
Chị cả lại gọi điện, bảo chị mau mau về nhà. Về nhà về nhà về nhà, chị không về đâu. Chị không dám chị không muốn ngốc quá không biết cách. Chị không muốn.
Mẹ đâu mất rồi.
Em về rồi. Vì sao em phải về.
Chị tư, Tố Khiết