phần câu hỏi tình huống ở đầu chương này là B, bạn có khuynh hướng Ấp Ủ Ưu Tư. Nếu mẫu người Đóng Chai thường là đàn ông thì kiểu Ấp Ủ thường là phụ nữ. Khi bị mắc vào những cảm giác không thoải mái, người Ấp Ủ đắm chìm trong nỗi đau khổ của mình, không ngừng khơi lại “vết thương” hết lần này đến lần khác trong tâm trí. Người Ấp Ủ không thể buông vấn đề xuống và họ gặp khó khăn trong việc tách bản thân ra khỏi nỗi ám ảnh về một tổn thương, thất bại, thiếu sót hay nỗi bất an nào đó. “Ấp ủ ưu tư” khá giống với lo lắng. Cả hai quá trình này đều tập trung vào bản thân chủ thể và đều liên quan đến việc cố gắng không sống trong thực tại. Tuy nhiên, nỗi lo lắng hướng đến những chuyện trong tương lai, còn sự ấp ủ thì luôn ngoái nhìn quá khứ - một hành động thậm chí còn vô nghĩa hơn lo lắng. Người Ấp Ủ mất khả năng nhìn nhận bản chất vấn đề vì họ làm cho việc bé xé ra to và những sai lầm nhỏ trở nên không khác gì tội ác tày trời. Tuy nhiên, không giống như khuynh hướng Đóng Chai, trong quá trình nỗ lực giải quyết vấn đề, người Ấp Ủ ít ra cũng “cảm nhận được cảm xúc của mình”, tức là họ nhận thức được mình đang cảm thấy như thế nào. Tuy hiếm khi gặp nguy cơ rò rỉ cảm xúc, nhưng người Ấp Ủ có thể bị nhấn chìm trong cơn lũ cảm xúc. Với người Ấp Ủ, cảm xúc trở nên mạnh hơn theo cùng một cách của các cơn cuồng phong: cuộn xoáy và tích thêm năng lượng sau mỗi bước di chuyển. Nhà tâm lý học Brad Bushman đã thực hiện một nghiên cứu mà trong đó, ông yêu cầu các sinh viên trải lòng vào một tiểu luận. Sau đó, ông yêu cầu “một sinh viên khác” cho một lời bình gay gắt. Trong thực tế, “sinh viên khác” chính là Bushman và nhận xét là như nhau trong tất cả các bài viết: “Đây là một trong những bài luận tệ nhất mà tôi từng đọc”.
37 Lời bình này đã phát huy hiệu quả như Bushman mong muốn khi khiến những người tham gia nghiên cứu thật sự nổi giận. Sau đó, Bushman yêu cầu họ dành ít phút để đấm bao cát. Ông đề nghị nhóm đầu tiên nghĩ về cơn giận của họ (cũng chính là hành vi Ấp Ủ) trong khi đấm. Ông thậm chí còn cho họ một bức ảnh giả của “người phê bình” để “bơm” thêm sức mạnh cho các cú đấm. Đối với nhóm thứ hai, Bushman khuyến khích họ vừa đấm bao cát vừa tự khiến bản thân xao nhãng cơn giận bằng cách nghĩ đến những biện pháp cải thiện sức khỏe thể chất (đây chính là kiểu Đóng Chai). Nhóm thứ ba là nhóm đối chứng và các thành viên trong nhóm này chỉ việc ngồi yên trong vài phút khi Bushman giả vờ sửa máy vi tính của mình. Sau khi đấm đá bao cát, mỗi người tham gia được phát một cái còi hơi và được yêu cầu hãy hướng về người bên cạnh họ để thổi còi - đây là một cách đo mức độ hung hăng của chủ thể (người thổi còi). Kết quả cho thấy cả ba nhóm vẫn còn tức giận, nhưng nhóm đối chứng có biểu hiện ít hung hăng nhất, thể hiện qua việc ít thổi còi hơi nhất. Nhóm “đóng chai” hung hăng hơn nhóm đối chứng (và thổi còi nhiều hơn). Nhưng nhóm “ấp ủ” mới là những người giận dữ nhất và “trút giận” sang những người xung quanh một cách hung hăng nhất bằng những tiếng còi đinh tai nhức óc. Giống như mẫu người Đóng Chai, người Ấp Ủ cũng chọn cách phản ứng mà họ cho là tốt nhất. Quá trình trầm ngâm suy nghĩ về các cảm xúc khó chịu giúp họ có một ảo tưởng dễ chịu rằng họ đang hết sức nỗ lực giải quyết vấn đề. Chúng ta muốn giải quyết sự bất hạnh của bản thân hoặc tìm cách đương đầu với nghịch cảnh, vì vậy chúng ta cố gắng lý giải vấn đề cho thật thông suốt, sau đó lại suy nghĩ và suy nghĩ thêm nữa. Cuối cùng, khoảng cách giữa chúng ta và giải pháp vẫn không rút ngắn thêm chút nào và chúng ta vẫn chưa giải quyết được căn nguyên gây ra khốn cảnh của mình. Phản ứng theo kiểu “ấp ủ” còn khiến bạn dễ đổ lỗi cho bản thân hơn với những câu hỏi như “Tại sao tôi luôn phản ứng như thế này?” và “Tại sao tôi không thể xử lý vấn đề tốt hơn?”. Giống như kiểu “đóng chai”, quá trình ấp ủ này tiêu tốn một lượng năng lượng trí não khổng lồ. Đó thật sự là một quá trình khiến bạn kiệt sức mà không mang lại hiệu quả tương xứng. “Ấp ủ” không phải lúc nào cũng là hành động mà bạn làm một mình. Khi đi chơi với bạn bè và than vãn về khả năng quản lý tài chính kém cỏi của cha mình hoặc khi đang than phiền với đồng nghiệp về thái độ của sếp, tức là bạn đang “lan truyền sự ấp ủ”. Có thể bạn cho rằng những lần than thở này sẽ giúp bản thân cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng thực tế là bạn không có bước tiến hay giải pháp nào cả, hậu quả là bạn càng khó chịu hơn về cha mình hoặc bực bội với sếp đến mức không thể tập trung làm việc của mình.
38 Bạn còn nhớ chúng ta đã nói thế nào về tác động của người Đóng Chai đối với những người thương yêu họ không? Người Ấp Ủ cũng “khó đối phó” không kém, nhưng lý do là vì họ có khuynh hướng trút những cảm xúc chân thực và nặng nề của họ lên người khác. Họ muốn trút bầu tâm sự với những người thân thiết, nhưng ngay cả những người gần gũi và thân thiết nhất cũng sẽ dần dần cảm thấy mệt mỏi với nhu cầu nói liên tục về nỗi sợ hãi, lo lắng và những khó khăn của người Ấp Ủ. Hơn nữa, người Ấp Ủ chỉ quan tâm đến bản thân nên không thể quan tâm đến nhu cầu của người khác. Chính vì vậy, sau cùng thì những người lắng nghe họ thường sẽ rời đi, để lại cho họ cảm giác vừa thất vọng vừa cô đơn. Tất nhiên, người Ấp Ủ có thể rơi vào cái bẫy của những nỗi bất an “khổ sở vì mình khổ sở”, tức là họ lo lắng về tất cả những lo lắng của mình. Nếu tư duy có Hệ thống 1 và Hệ thống 2 thì trong tâm lý học, chúng ta có những suy nghĩ được phân thành Loại 1 và Loại 2. Suy nghĩ Loại 1 là những lo lắng bình thường của con người trong cuộc sống hằng ngày, chẳng hạn như nỗi lo về một dự án lớn trong công việc, một lịch trình bận rộn quá mức, trận cãi vã đêm qua, những mối bận tâm trong quá trình nuôi dạy con. Suy nghĩ Loại 1 rất rõ ràng và cụ thể: “Tôi lo lắng về X” hoặc “Tôi buồn vì Y”. Suy nghĩ Loại 2 phát sinh khi bạn bước vào mê cung của những tấm gương phản chiếu và bắt đầu tạo ra tầng tầng lớp lớp những suy nghĩ vô ích về những suy nghĩ của mình. “Tôi lo là mình đang lo lắng quá nhiều” hoặc “Tôi căng thẳng vì cứ bị căng thẳng”. Đối với những cảm xúc khiến mình phiền não, chúng ta cảm thấy có lỗi vì đã để chúng xuất hiện. “Tôi không chỉ lo lắng về X hay buồn vì Y, mà tôi còn không có quyền để lo lắng hoặc buồn phiền như vậy.” Chúng ta tức giận vì đã giận dữ, lo lắng về các nỗi lo lắng và không vui vì những chuyện không vui của mình. Bạn càng vùng vẫy trong các cảm xúc của mình thì bạn càng chìm sâu vào đó hơn, hệt như khi đứng giữa một bãi cát lún vậy. * Cho dù chúng ta nghĩ mình sẽ đạt được gì khi phản ứng theo cách Đóng Chai hoặc Ấp Ủ, cả hai phương pháp này đều không có lợi cho sức khỏe hay hạnh phúc của chúng ta. Việc này rất giống với khi bạn uống một viên thuốc aspirin để xoa dịu cơn đau đầu. Viên thuốc làm cơn đau biến mất trong vài giờ, nhưng nếu nguyên nhân gây ra chứng đau đầu của bạn là thiếu ngủ, sưng hạch bạch huyết ở cổ hoặc một cơn cảm lạnh nghiêm trọng thì ngay khi thuốc giảm đau hết tác dụng, cơn đau đầu sẽ quay lại và khiến bạn đau đớn như cũ. Đóng chai cảm xúc và ấp ủ ưu tư là viên thuốc cảm xúc ngắn hạn mà chúng ta sử dụng vì cho rằng đó là giải pháp tốt nhất. Nhưng nếu không truy đến tận cùng gốc rễ của các cảm xúc khó chịu, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội xử lý rốt ráo vấn đề.
39 Tôi có thể giơ hai tay thẳng ra phía trước để bưng một chồng sách và giữ vững tư thế đó trong vài phút. Nhưng sau hai phút... ba phút... mười phút, tay tôi sẽ bắt đầu run. Chuyện tương tự sẽ xảy ra khi chúng ta đóng chai cảm xúc. Gồng lên để giữ cho mọi thứ cách mình một sải tay là một việc rất mất sức. Trên thực tế, việc này gây mệt mỏi đến nỗi chúng ta thường sẽ buông tay vì kiệt sức. Nhưng khi tôi ôm chặt chồng sách vào người như thể muốn siết nát chúng, cơ cánh tay của tôi cũng sẽ bắt đầu run lên. Ở tư thế này, cánh tay và bàn tay của tôi phải ghì chặt trong một tư thế và không thể làm được gì khác. Đây là chuyện xảy ra với chúng ta khi chúng ta ấp ủ nỗi muộn phiền. Trong cả hai trường hợp, chúng ta mất khả năng sống hết mình với thế giới xung quanh, để ôm lấy những đứa con yêu quý, trò chuyện với đồng nghiệp, sáng tạo ra điều gì đó mới mẻ hoặc chỉ đơn giản là tận hưởng hương cỏ mới cắt ngoài sân. Khi chúng ta đóng chai cảm xúc hoặc ấp ủ muộn phiền, sự cởi mở và lòng nhiệt tình của chúng ta bị thay thế bằng các nguyên tắc, những câu chuyện mang tính ràng buộc từ quá khứ và những phán xét ác ý. Dần dần, khả năng giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định của chúng ta thật sự giảm sút. Những cách phản ứng cứng nhắc này khiến chúng ta không thể linh hoạt khi cần đối mặt với những tình huống căng thẳng trong cuộc sống. Nếu thỉnh thoảng bạn phản ứng theo kiểu Đóng Chai hoặc Ấp Ủ, hay thậm chí là thay đổi qua lại giữa hai trạng thái này (nói cho cùng thì quyển sách này nói về sự linh hoạt mà) thì cũng không sao cả. Thật ra, đôi khi những cách ứng phó này có thể chính là lựa chọn tốt nhất. Chẳng hạn, nếu người yêu bỗng nhiên gây sự với bạn vào đêm trước ngày thi, có lẽ cách phản ứng hiệu quả nhất mà bạn có thể đưa ra là gạt nỗi phiền muộn sang một bên để tập trung vào kỳ thi quan trọng trước mắt. (Xin gửi đến bạn sự cảm thông chân thành nhất của tôi nếu đó là tình huống thật sự xảy ra với bạn.) Chỉ khi những phương pháp này bị sử dụng như cách đối phó mặc định - một việc mà chúng ta rất thường làm - thì chúng mới trở nên phản tác dụng và khiến chúng ta vướng sâu hơn vào những chiếc “móc câu”. * Chúng ta đã học cách ấp ủ nỗi phiền muộn hoặc đóng chai cảm xúc từ rất sớm trong cuộc đời mình. Do đó, nếu bạn có con thì hãy dành thời gian ngẫm nghĩ về nội dung những cuộc trò chuyện mà bạn sẽ nói với con. Những quy tắc bất thành văn về cảm xúc (cũng như về cách đàn ông và phụ nữ phản ứng với cảm xúc) bao gồm những điều mà các nhà tâm lý học gọi là các quy tắc biểu lộ cảm xúc. Ví dụ, “Đàn ông con trai lớn rồi không được khóc” và “Không được nổi giận ở đây. Con vào phòng mình đi và chừng nào tươi cười vui vẻ được thì hãy đi ra” là những quy tắc biểu lộ cảm xúc mà người lớn áp đặt lên con trẻ. Tôi không bao giờ quên ngày tang lễ của cha. Khi đó, người thân và bạn
40 bè đã “động viên” người anh trai mười hai tuổi của tôi rằng anh không được khóc vì anh cần tập trung chăm sóc cho mẹ tôi, chị gái tôi và tôi. Chúng ta học các quy tắc biểu lộ cảm xúc từ những người chăm sóc, nuôi nấng mình, và sau đó, chúng ta thường vô thức truyền đạt các quy tắc này cho con cái. Ví dụ, chúng ta rất hay hỏi các bé trai về nhiệm vụ (“Hôm nay con làm gì ở trường?”, “Trận đấu thế nào?”, “Con có thắng không?”), trong khi đó, chúng ta lại có xu hướng hỏi các bé gái về cảm xúc (“Con cảm thấy thế nào?”, “Con có vui không?”). Trẻ em nhanh chóng tiếp thu các quy tắc bất thành văn này, nhưng như chúng ta sẽ thấy trong