phần lớn người lao động Mỹ (bao gồm cả những người đọc HBR), và điều này đã thúc đẩy chúng tôi bắt đầu nghiên cứu về thói quen lao động ở Mỹ. Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng một bộ dữ liệu khổng lồ từ một công ty y tế lớn để xem xét cách công nghệ kéo dài thời gian làm việc của chúng tôi và do đó can thiệp vào việc phục hồi nhận thức cần
Vượt qua nghịch cảnh 136 thiết. Chúng tôi tin rằng điều này dẫn đến chi phí chăm sóc sức khỏe rất lớn và tỷ lệ thôi việc cao. Những quan niệm sai lầm về khả năng phục hồi thường được nuôi dưỡng ngay từ khi còn nhỏ. Các bậc cha mẹ đang cố gắng dạy con họ tính kiên cường có thể khen ngợi một học sinh trung học thức đến 3 giờ sáng để thực hiện một dự án khoa học. Thật là một sự biến dạng sai lệch về khả năng phục hồi! Một đứa trẻ kiên cường là một đứa trẻ được nghỉ ngơi đầy đủ. Khi một học sinh kiệt sức đến trường, cậu ta có nguy cơ làm tổn thương mọi người trên đường với khả năng lái xe kém của mình, cậu ta không có đủ nguồn lực nhận thức để làm tốt bài kiểm tra tiếng Anh, cậu ta kém tự chủ với bạn bè và ở nhà, cậu ta ủ rũ và khó chịu với bố mẹ. Làm việc quá sức và kiệt sức là khái niệm đối lập hoàn toàn với khả năng phục hồi. Và những thói quen xấu mà chúng ta học được khi còn trẻ chỉ ngày càng nghiêm trọng hơn khi chúng ta bắt đầu đi làm.
137 Dừng làm việc để phục hồi Trong cuốn sách xuất sắc The Sleep Revolution (tạm dịch: Cuộc cách mạng về giấc ngủ) của mình, Arianna Huffington đã viết: “Chúng ta lựa chọn hy sinh giấc ngủ nhân danh năng suất làm việc, nhưng trớ trêu thay, việc chúng ta mất ngủ, mặc dù chúng ta dành thêm nhiều giờ tại nơi làm việc, lại khiến mỗi người lao động mất thêm 11 ngày năng suất mỗi năm, tương đương khoảng 2.280 đô-la.” Chìa khóa của khả năng phục