phần lớn là những thứ mà chúng tôi gọi là bọn ăn cắp nước bé nhỏ - được thích nghi để đột kích nhau giành độ ẩm, nuốt lấy nuốt để một chút sương còn sót lại. Vài khu vực của sa mạc tràn ngập sự sống. Nhưng tất cả bọn chúng đã học được cách sống còn dưới những điều kiện khắc nghiệt như thế. Nếu cậu bị mắc
kẹt ở dưới đấy, cậu sẽ phải sống theo cách đó nếu không cậu sẽ chết.” “Ông định nói là phải ăn cắp nước của nhau?” Paul hỏi. Lối nghĩ ấy đã xúc phạm cậu, giọng nói của cậu lộ rõ cảm xúc đó. “Phải thế thôi,” Kynes nói, “nhưng đó không hẳn là ý tôi muốn nói. Mọi người thấy đấy, khí hậu của tôi đòi hỏi người ta phải có thái độ đặc biệt đối với nước. Người ta có ý thức về nước mọi nơi mọi lúc. Người ta không lãng phí bất cứ thứ gì chứa hơi ẩm.” Và Công tước nghĩ: “... khí hậu của tôi!”
“Vòng về hướng Nam lệch thêm hai độ nữa, thưa Chúa công,” Kynes nói. “Có một ngọn gió thổi từ hướng Tây đến.” Công tước gật đầu. Ông đã nhìn thấy bụi nâu cuồn cuộn ở đằng kia. Ông chao một vòng, để ý thấy cánh của các tàu hộ tống phản chiếu màu cam sữa từ ánh sáng khúc xạ của bụi khi họ quay đầu để theo kịp ông. “Lái như thế sẽ tránh được rìa bão,” Kynes nói. “Đám cát đó hẳn là rất nguy hiểm nếu ta bay vào trong,” Paul nói. “Nó cắt được
những kim loại bền nhất thật sao?” “Ở độ cao này thì không phải cát mà là bụi,” Kynes nói. “Hiểm họa ở đây là mất tầm nhìn, nhiễu loạn, đường hút khí bị tắc.” “Hôm nay chúng ta sẽ nhìn thấy mỏ hương dược thực sự à?” Paul hỏi. “Rất có khả năng,” Kynes nói. Paul ngồi lùi lại. Cậu đã sử dụng những câu hỏi và siêu ý thức để làm điều mẹ cậu gọi là “vào sổ” con người này. Giờ thì cậu đã có Kynes - âm điệu của giọng nói, từng chi tiết của nét mặt và điệu bộ.
Một nếp gấp không tự nhiên của ống tay áo choàng bên trái tiết lộ rằng ông ta có một con dao nằm trong vỏ giấu ở cánh tay. Chỗ thắt lưng phồng ra lạ thường. Người ta nói dân sa mạc thường đeo một mảnh vải dài làm thắt lưng và nhét vào đó những món đồ nhỏ cần thiết. Có lẽ những chỗ cộm lên kia là do một dây thắt lưng như thế - chắc chắn không phải do giấu thắt lưng đeo tấm chắn. Một chiếc ghim đồng chạm trổ hình giống như con thỏ rừng cài trên cổ áo choàng của Kynes. Một chiếc ghim khác nhỏ hơn có hình tương tự cài nơi góc chiếc mũ trùm đầu được lật ra đằng sau, rũ xuống hai vai.
Halleck vặn vẹo người trên ghế bên cạnh Paul, vươn người ra phía sau để lấy chiếc đàn baliset ra khỏi ngăn sau. Kynes nhìn quanh khi Halleck lên dây đàn, rồi lại hướng sự chú ý vào lộ trình bay. “Cậu muốn nghe gì, cậu chủ?” Halleck hỏi. “Tùy thầy chọn, Gurney,” Paul nói. Halleck ghé tai xuống sát miếng gỗ tăng âm, vừa gảy đàn vừa khẽ hát: “Cha ông chúng con uống dịch tần bì trong sa mạc,
Ở những nơi thiêu đốt có cơn lốc thổi. Ôi Chúa công, xin hãy bảo vệ chúng con khỏi chốn khủng khiếp kia! Bảo vệ chúng con... ôi ôi ôi, bảo vệ chúng con Khỏi mảnh đất cháy khát cằn khô.” Kynes liếc Công tước, nói: “Ngài du hành với một đội hộ tống đầy đủ mà gọn nhẹ thật, thưa Chúa công. Tất cả họ đều nhiều tài đến thế sao?” “Gurney hả?” Công tước tủm tỉm.
“Gurney là người độc nhất vô nhị. Ta thích ông ấy đi cùng ta là do cặp mắt ông ấy. Đôi mắt ông ấy hiếm khi bỏ sót cái gì.” Nhà hành tinh học cau mày. Không bỏ lỡ nhịp trong điệu hát, Halleck ngắt lời: “Tôi như một con cú sa mạc, ô! À á! tôi như một con cú sa ma...a...ạc!” Công tước với tay xuống, nhặt chiếc micro từ bảng thiết bị, bật lên rồi nói: “Chỉ huy gọi Hộ tống Gemma. Vật thể
đang bay hướng chín giờ, Khu B. Các anh có nhận dạng được không?” “Chỉ là một con chim thôi,” Kynes nói và thêm vào: “Mắt ngài tinh thật.” Loa phóng thanh kêu tanh tách, rồi sau đó: “Đội hộ tống Gemma. Vật thể được nghiên cứu dưới sự khuếch đại đầy đủ. Nó là một con chim lớn.” Paul nhìn theo hướng đã xác định, thấy một đốm nhỏ phía xa: một chấm nhỏ chuyển động liên tục, và nhận ra cha cậu hẳn căng thẳng đến thế nào. Mọi giác quan đều ở trạng thái cảnh giác cao độ.
“Ta không biết có những con chim lớn đến thế từ xa bay vào sa mạc,” Công tước nói. “Có khả năng đó là chim đại bàng,” Kynes nói. “Rất nhiều sinh vật đã thích nghi với nơi này.” Chiếc tàu chim lướt bên trên vùng đá trơ trụi. Paul nhìn xuống từ độ cao hai ngàn mét, thấy cái bóng gấp nếp của chiếc tàu và đội hộ tống. Mặt đất bên dưới họ dường như bằng phẳng, song những nếp gấp của cái bóng nói lên điều khác hẳn. “Đã từng có ai đi ra khỏi sa mạc chưa?” Công tước hỏi.
Halleck ngừng chơi nhạc. Ông ngả người về phía trước để đón câu trả lời. “Từ sâu trong sa mạc thì không,” Kynes nói. “Đã vài lần có người đi ra từ vùng thứ hai. Họ sống sót nhờ vượt những vùng núi đá mà sâu cát ít khi lui tới.” Âm sắc trong giọng nói của Kynes làm Paul chú ý. Cậu cảm thấy giác quan của mình trở nên cảnh giác theo đúng cách chúng đã được huấn luyện. “À, sâu cát,” Công tước nói. “Một lúc nào đó chắc ta sẽ nhìn thấy một con.”
“Hôm nay ông có thể nhìn thấy,” Kynes nói. “Ở đâu có hương dược, ở đó có sâu cát.” “Luôn luôn sao?” Halleck hỏi. “Luôn luôn.” “Có mối quan hệ giữa hương dược và sâu cát à?” Công tước hỏi. Kynes quay lại, và Paul nhìn thấy môi ông ta mím lại khi nói. “Bọn chúng bảo vệ những vùng cát có hương dược. Mỗi con sâu cát có một... lãnh thổ. Vì với hương dược... ai biết được? Những mẫu sâu cát mà chúng tôi đã nghiên cứu khiến
chúng tôi ngờ rằng có những sự trao đổi hóa học phức tạp bên trong chúng. Chúng tôi tìm thấy dấu vết của axit clohyđric trong các ống dẫn của chúng, nhiều dạng axit phức tạp hơn ở những chỗ khác. Tôi sẽ đưa cho các vị xem công trình nghiên cứu của tôi về vấn đề này.” “Không dùng tấm chắn để bảo vệ được sao?” Công tước hỏi. “Tấm chắn á!” Kynes cười nhếch mép. “Kích hoạt tấm chắn trong vùng sâu cát là ngài bít luôn đường sống của mình đó. Bọn sâu cát phớt lờ những tuyến phòng ngự, chúng đi vòng quanh từ xa để tấn công tấm chắn. Không người nào đeo tấm
chắn mà sống sót được trước sự tấn công như thế.” “Người ta bắt sâu cát bằng cách nào?” “Cú giật điện áp cao chém đứt từng khúc tròn là cách giết và bảo quản sâu cát duy nhất mà người ta biết,” Kynes nói. “Chất nổ có thể khiến chúng choáng váng và cắt chúng đứt ra, nhưng mỗi khúc tròn lại có cuộc sống riêng. Trừ vũ khí nguyên tử ra, tôi biết không một chất nổ nào đủ mạnh để phá hủy hoàn toàn một con sâu cát lớn. Chúng sống dai một cách đáng kinh ngạc.” “Tại sao không thử tiêu diệt chúng hoàn
toàn?” Paul hỏi. “Quá đắt,” Kynes nói. “Có quá nhiều khu vực nên không kham nổi.” Paul ngả người vào trong góc. Năng lực khám phá sự thật của cậu, ý thức về sắc thái giọng nói, cho cậu biết Kynes đang nói dối và chỉ chia sẻ một nửa sự thật. Cậu nghĩ: Nếu có mối quan hệ giữa hương dược và sâu cát, thì đó là giết sâu cát sẽ phá hủy luôn hương dược. “Sẽ không ai phải rời sa mạc sớm,” Công tước nói. “Hãy cài bộ thu phát nhỏ này vào cổ, nhờ vậy nếu ai gặp sự cố thì sẽ có người đến cứu. Tất cả thợ của
chúng ta sẽ được đeo chúng ngay bây giờ. Chúng ta đang cài đặt một dịch vụ giải cứu đặc biệt.” “Rất đáng khen,” Kynes nói. “Giọng của ông cho thấy ông không đồng tình,” Công tước nói. “Đồng tình? Tất nhiên là tôi đồng tình, nhưng thiết bị đó không có ích lắm đâu. Tĩnh điện từ những cơn bão cát che chắn rất nhiều tín hiệu. Bộ thu phát sẽ bị chập mạch. Ngài biết là trước đây người ta cũng đã thử dùng ở đây rồi. Điều kiện ở Arrakis rất khắc nghiệt đối với thiết bị. Và nếu một con sâu cát săn đuổi ngài thì
sẽ không có nhiều thời gian đâu. Thông thường, ngài có không quá mười lăm hoặc hai mươi phút.” “Ông muốn khuyên ta điều gì?” Công tước hỏi. “Ngài hỏi lời khuyên của tôi là gì à?” “Đúng vậy, với tư cách nhà hành tinh học.” “Ngài sẽ làm theo lời khuyên của tôi chứ?” “Nếu ta thấy hợp lý.”
“Rất tốt, thưa Chúa công. Đừng bao giờ đi một mình.” Công tước chuyển sự chú ý ra khỏi bộ điều khiển. “Chỉ thế thôi sao?” “Chỉ thế thôi. Đừng bao giờ đi một mình.” “Điều gì sẽ xảy ra nếu người ta bị tách khỏi đội vì bão và lực ép?” Halleck hỏi. “Không thể làm bất cứ điều gì sao?” “Bất cứ điều gì cũng sẽ choán quá nhiều không gian,” Kynes nói. “Nếu là ông thì ông sẽ làm gì?” Paul hỏi.
Kynes quay người nhìn chằm chằm vào cậu bé một cách nghiêm khắc, rồi lại chuyển sự chú ý về phía Công tước. “Tôi sẽ chú ý giữ gìn bộ sa phục nguyên vẹn. Nếu đang ở bên ngoài vùng sâu cát hoặc trong vùng đá, tôi sẽ ở lại tàu. Nếu đã bước xuống một vùng cát trống trải, tôi sẽ chạy ra xa tàu càng nhanh càng tốt. Cỡ một nghìn mét là khá ổn. Sau đó tôi sẽ trốn trong áo choàng. Sâu cát sẽ ăn chiếc tàu, song nó có thể bỏ quên tôi.” “Sau đó thì sao?” Halleck hỏi. Kynes nhún vai. “Chờ đến khi sâu cát đi khỏi.”
“Chỉ thế thôi sao?” Paul hỏi. “Khi sâu cát đã rời đi, người ta có thể ra khỏi chỗ trốn,” Kynes nói. “Các vị phải đi thật khẽ, tránh cát trống, trũng cát có sa triều - đi về phía vùng đá gần nhất. Có rất nhiều vùng như thế. Làm thế các vị sẽ thoát.” “Cát trống?” Halleck hỏi. “Là cát ở thể kết chặt lại,” Kynes nói. “Ngay cả bước chân nhẹ nhất cũng khiến nó phát ra tiếng động như tiếng trống. Bọn sâu cát luôn di chuyển đến nơi đó.”
“Thế còn trũng cát có sa triều?” Công tước hỏi. “Một số chỗ lún trong sa mạc bị bụi tràn vào trong suốt nhiều thế kỷ. Có vài chỗ lún lớn đến nỗi chúng phân thành nhiều dòng và nhiều ngọn triều. Ai không thận trọng mà bước vào đấy là sẽ bị nuốt chửng.” Halleck ngồi lùi về phía sau, lại tiếp tục gảy đàn. Ngay sau đó, ông hát: “Thú hoang sa mạc rình sẵn đó, Đợi những người vô tội đi qua.
À...í...a, đừng có nhử những vị thần sa mạc, Vì e bạn tìm một mộ bia cô độc Những hiểm nguy của...” Ông chợt ngừng hát, chúi người ra phía trước. “Phía trước có mây bụi, thưa Chúa công.” “Ta thấy rồi, Gurney.” “Đó là cái chúng ta tìm kiếm,” Kynes nói. Paul ngồi thẳng người lên quan sát hướng
trước mặt, cậu nhìn thấy một đám mây vàng dâng lên cuồn cuộn ở dưới thấp trên bề mặt sa mạc, cách tàu hơn ba mươi ki lô mét về phía trước. “Một trong các con bọ khai thác của ngài,” Kynes nói. “Nó nằm trên bề mặt kia, thế có nghĩa là trên hương dược. Đám mây là cát thải cuộn lên khi hương dược đã được lấy ra bằng lực ly tâm. Không có đám mây nào khác giống nó.” “Phía trên nó có tàu lượn,” Công tước nói. “Tôi thấy hai... ba... bốn tàu cảnh vệ,” Kynes nói. “Họ đang chờ vết sâu cát.”
“Vết sâu cát?” Công tước hỏi. “Một gợn cát di chuyển về phía con bọ khai thác. Họ cũng sẽ đặt những máy dò địa chấn trong khu vực đó. Lũ sâu cát thỉnh thoảng lại trườn quá sâu làm nổi lên gợn cát.” Kynes liếc ngang liếc dọc khắp bầu trời. “Lẽ ra phải có một chiếc tàu thồ bay vòng quanh, nhưng tôi không nhìn thấy.” “Bọn sâu cát luôn luôn xuất hiện chứ?” Halleck hỏi. “Luôn luôn.”
Paul chúi người ra phía trước, chạm vào vai Kynes. “Mỗi con sâu cát chiếm cứ một vùng đất rộng cỡ nào?” Kynes cau mày. Cậu bé đặt những câu hỏi như người trưởng thành. “Tùy kích thước của từng con sâu cát.” “Dao động trong khoảng nào?” Công tước hỏi. “Những con lớn có thể kiểm soát một vùng rộng cỡ ba, bốn trăm ki lô mét vuông. Những con nhỏ...” Ông bỏ lửng câu nói khi Công tước nhấn phanh tàu. Con tàu giật nảy lên khi bộ phận đuôi của
nó kêu xì xì rồi im lặng. Những mẩu cánh cụt vươn dài ra, khum thành hình chén trong không khí. Máy bay trở thành một tàu chim hoàn chỉnh khi Công tước lái nó chao nghiêng, vừa giữ cho bộ cánh vỗ nhẹ nhàng vừa chỉ tay trái về hướng Đông cách xa bọ khai thác hương dược. “Kia có phải vết sâu cát không?” Kynes nghiêng người sang chỗ Công tước nhìn vào điểm đó. Paul và Halleck xúm lại, nhìn về cùng một hướng, và Paul để ý thấy đội hộ tống do động tác đột ngột của tàu chỉ huy nên đã vọt lên phía trước, nhưng bây giờ họ
đang quành trở lại. Bọ khai thác hương dược nằm phía trước họ, cách vài ba ki lô mét. Ở chỗ Công tước chỉ, các cồn cát hình lưỡi liềm lan tỏa những gợn sóng tối thẫm về phía chân trời, một cái gò di động kéo dài - một sóng cát dồi lên có đỉnh - như đường thẳng cắt ngang qua chúng, trải dài về phía xa. Nó gợi Paul nhớ đến đường đi của một con cá lớn làm nước xáo động khi bơi ngay dưới mặt nước. “Sâu cát,” Kynes nói. “Một con lớn.” Ông ngả người ra sau, chộp lấy chiếc micro trên bảng điều khiển, chọn một tần
số mới. Liếc về phía bản đồ hệ thống đường dây trên những con lăn bên trên đầu họ, ông nói vào micro: “Gọi con bọ ở Delta Ajax chín. Cảnh báo vết sâu cát. Con bọ ở Delta Ajax chín. Cảnh báo vết sâu cát. Xin đáp lại.” Ông chờ đợi. Loa trên bảng điều khiển phát ra những tiếng lách cách do nhiễu khí quyển, sau đó có một giọng nói: “Ai gọi Delta Ajax chín? Hết.” “Họ có vẻ khá bình tĩnh,” Halleck nói. Kynes nói vào micro: “Phi đội ngoài danh sách - cách phía Bắc và phía Đông của các anh khoảng ba ki lô mét. Vết sâu
cát đang tiến về phía vị trí các anh, theo ước lượng sẽ tiếp xúc với nó trong khoảng hai mươi lăm phút nữa.” Một giọng nói trầm sâu phát ra từ loa: “Đây là Chỉ huy Tàu cảnh vệ. Xác nhận đã trông thấy. Sẵn sàng cho tình thế khó khăn khi đụng độ.” Ngừng một lát, rồi lại tiếp: “Đụng độ trong khoảng hai mươi trừ sáu phút nữa. Đó là ước lượng rất sát. Ai ở trên phi đội ngoài danh sách đó? Hết.” Halleck tắt thiết bị rồi lao vào giữa Kynes và Công tước. “Đây có phải tần số hoạt động hợp thức không, Kynes?”
“Đúng. Có chuyện gì à?” “Ai đang nghe chúng ta nói?” “Chỉ có nhóm thợ trong vùng này. Giảm độ nhiễu xuống đi.” Loa lại kêu lách cách, rồi: “Đây là Delta Ajax chín. Ai sẽ nhận được tiền thưởng vì phát hiện ra cái vết đó? Hết.” Halleck liếc Công tước. Kynes nói: “Căn cứ vào khối lượng hương dược, có một khoản tiền thưởng dành cho bất cứ người nào đưa ra cảnh báo đầu tiên về sâu cát. Họ muốn biết...”
“Nói cho họ biết ai là người đầu tiên phát hiện dấu vết của con sâu cát này,” Halleck nói. Công tước gật đầu. Kynes ngập ngừng, rồi cầm micro lên: “Tàu cảnh vệ xác nhận là Công tước Leto Atreides. Công tước Leto Atreides. Hết.” Giọng nói phát ra từ loa đều đều và hơi méo vì đột ngột xuất hiện nhiễu khí quyển: “Chúng tôi biết và cám ơn.” “Giờ thì hãy bảo họ chia nhau số tiền
thưởng đó,” Halleck ra lệnh. “Bảo họ Công tước muốn thế.” Kynes hít một hơi sâu rồi nói: “Công tước muốn các anh chia tiền thưởng cho mọi người trong nhóm. Các anh nghe thấy không? Hết.” “Chúng tôi xác nhận và xin cám ơn,” giọng trong loa phát ra. Công tước nói: “Ta quên chưa nói là Gurney rất có năng khiếu trong những mối quan hệ công chúng.” Kynes hướng cái cau mày khó hiểu về phía Halleck.
“Việc này tỏ rõ cho nhóm người đó biết rằng Công tước quan tâm đến sự an toàn của họ,” Halleck nói. “Tin tức sẽ lan truyền. Nó có mặt trên dải tần số hoạt động - bọn gián điệp Harkonnen không có khả năng nghe được.” Ông nhìn lướt qua đội yểm trợ bên ngoài. “Chúng ta là một đội khá mạnh. Một sự mạo hiểm tốt.” Công tước chao nghiêng tàu, hướng về phía đám mây cát đang phun lên từ chỗ con bọ khai thác. “Bây giờ điều gì sẽ xảy ra?” “Có một chiếc tàu thồ đâu đó gần đây,”
Kynes nói. “Nó sẽ đến cẩu con bọ đi.” “Nếu tàu thồ bị hỏng thì sao?” Halleck hỏi. “Sẽ mất vài thiết bị,” Kynes nói. “Hãy bay sát bên trên con bọ, thưa Chúa công; ngài sẽ thấy chuyện này thú vị đấy.” Công tước quắc mắt, bận rộn với những bộ điều khiển khi họ bay vào bầu khí quyển hỗn loạn bên trên con bọ. Paul nhìn xuống, thấy cát vẫn phun ra từ con vật khổng lồ làm bằng chất dẻo và kim loại ở bên dưới họ. Trông nó giống như một con bọ cánh cứng lớn màu xanh
và nâu vàng có nhiều băng chuyền trên những cánh tay tỏa ra khắp xung quanh. Cậu nhìn thấy một cái đầu vòi khổng lồ hình phễu lộn ngược thọc vào trong bãi cát sẫm màu phía trước nó. “Xét theo màu sắc thì lớp đất này có hàm lượng hương dược cao,” Kynes nói. “Họ sẽ tiếp tục làm việc đến phút cuối.” Công tước nạp thêm năng lượng cho các cánh, làm chúng cứng hơn để hạ tàu chếch xuống và lượn tròn thâm thấp bên trên con bọ. Một cái liếc mắt về phía trái và phía phải cho thấy đội yểm trợ vẫn giữ vững độ cao và đang lượn tròn trên đầu.
Paul quan sát đám mây vàng phun ra từ những miệng vòi con bọ, nhìn ngang qua sa mạc về phía vết sâu cát đang tới gần. “Chúng ta không nghe thấy họ gọi tàu thồ sao?” Halleck hỏi. “Họ thường bay trên một tần số khác,” Kynes nói. “Chúng ta không có hai tàu thồ trực chiến cho mỗi con bọ sao?” Công tước hỏi. “Có hai mươi sáu người trên cái máy dưới kia, chưa nói đến giá trị của thiết bị.”
Kynes nói: “Người ta không có đủ...” Ông bỏ lửng câu nói khi chiếc loa phát ra giọng giận dữ: “Có ai thấy chiếc tàu thồ không? Nó không trả lời.” Chiếc loa phát ra tiếng lách cách do méo tạp âm, bị một tín hiệu đột ngột át đi, sau đó thì im lặng, rồi giọng nói đầu tiên cất lên: “Lần lượt báo cáo! Hết.” “Đây là Chỉ huy Tàu cảnh vệ. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy thì chiếc tàu thồ ở khá cao, đang vòng về phía Tây Bắc. Giờ thì tôi không thấy. Hết.” “Tàu cảnh vệ một: không thấy. Hết.”
“Tàu cảnh vệ hai: không thấy. Hết.” “Tàu cảnh vệ ba: không thấy. Hết.” Im lặng. Công tước nhìn xuống. Bóng con tàu của ông đang vượt qua con bọ. “Chỉ có bốn Tàu cảnh vệ, đúng không?” “Chính xác,” Kynes nói. “Toán chúng ta có năm tàu,” Công tước nói. “Tàu của chúng ta lớn hơn. Ta có thể chứa thêm mỗi tàu ba người. Mấy tàu cảnh vệ của họ thì phải chở thêm được
mỗi chiếc hai người.” Paul nhẩm tính rồi nói: “Còn sót ba người.” “Tại sao họ không có hai tàu thồ cho mỗi con bọ hả?” Công tước quát ầm lên. “Người ta không có đủ thiết bị bổ sung,” Kynes nói. “Lại càng thêm lý do để ta nên bảo vệ những gì ta đang có!” “Cái tàu thồ đó đi đâu mới được chứ?” Halleck hỏi.
“Có lẽ nó buộc phải hạ cánh xuống nơi nào đó ngoài tầm nhìn,” Kynes nói. Công tước chộp lấy micro, ngón tay cái ngập ngừng trên công tắc. “Làm sao họ để lạc mất con tàu đó được chứ?” “Họ mải chú ý vào mặt đất để tìm vết sâu cát,” Kynes nói. Công tước bật công tắc, nói vào micro: “Công tước đây. Chúng tôi đang bay xuống để đưa nhóm Delta Ajax chín đi. Yêu cầu tất cả Tàu cảnh vệ tuân theo. Đội Tàu cảnh vệ hạ cánh xuống mặt phía Đông. Chúng tôi sẽ phụ trách phía Tây. Hết.” Ông với tay xuống dưới, ấn tần số
chỉ huy riêng của ông, nhắc lại mệnh lệnh cho đội tàu yểm trợ, rồi đưa micro lại cho Kynes. Kynes trở lại tần số hoạt động và một giọng nói như nổ tung ra từ chiếc loa: “... gần đầy hương dược rồi! Chúng tôi lấy gần đầy hương dược rồi! Chúng tôi không thể rời chỗ đó vì con sâu cát khốn khiếp! Hết.” “Hương dược khốn khiếp!” Công tước quát lên. Ông lại chộp lấy micro nói: “Hương dược thì bao giờ chúng ta cũng có thể lấy thêm. Đội tàu của chúng tôi chứa được tất cả các anh trừ ba người. Hãy bốc thăm hoặc quyết định kiểu gì
cũng được, để xem ai sẽ đi. Nhưng các anh phải đi, đó là lệnh!” Ông dập mạnh micro vào tay Kynes, lầm bầm: “Xin lỗi,” khi Kynes lắc lắc một ngón tay bị đau. “Còn bao nhiêu thời gian?” Paul hỏi. “Chín phút,” Kynes đáp. Công tước nói: “Tàu này mạnh hơn các tàu khác. Nếu chúng ta cất cánh bằng phản lực với độ mở ba phần tư các cánh thì có thể nhét thêm một người nữa.” “Cát ấy mềm lắm,” Kynes nói.
“Nếu thêm bốn người trên tàu mà cất cánh bằng phản lực thì e làm gãy cánh mất, thưa Chúa công,” Halleck nói. “Tàu này thì không,” Công tước nói. Ông quay trở lại bảng điều khiển khi chiếc tàu lượn ngay sát con bọ. Những chiếc cánh cụp xuống khiến tàu khựng lại, vụng về trượt ngang cách cỗ máy không quá hai mươi mét. Con bọ giờ đã im bặt, cát không còn phụt ra từ các vòi phun. Chỉ có một tiếng ùng ục cơ khí khe khẽ phát ra từ nó, càng nghe rõ hơn khi Công tước mở cửa tàu ra.
Ngay lập tức, mùi quế - nồng nặc, cay xè - xộc vào mũi họ. Với tiếng vỗ cánh ầm ĩ, các tàu cảnh vệ lượn xuống mặt cát phía bên kia con bọ. Đội yểm trợ của Công tước thì sà xuống đỗ thành hàng cùng tàu của ông. Paul nhìn xưởng khai thác bên ngoài, nhận thấy khi đứng bên cạnh nó tất cả các tàu chim đều hóa ra nhỏ bé biết bao - những con muỗi mắt bên cạnh một con bọ chiến binh. “Gurney, ông và Paul ném cái ghế sau kia ra ngoài đi,” Công tước nói. Ông dùng tay quay cho các cánh tàu mở ra ba
phần tư, định góc cho chúng, kiểm tra các bộ điều khiển phụ phản lực. “Họ làm cái quái gì mà không chịu ra khỏi cái máy đó chứ?” “Họ hy vọng tàu thồ sẽ xuất hiện,” Kynes nói. “Họ vẫn còn vài phút nữa.” Ông liếc về phía Đông. Tất cả mọi người đều quay nhìn về một hướng, không thấy vết sâu cát, nhưng bầu không khí trĩu nặng cảm giác lo lắng. Công tước cầm micro, bấm tần số chỉ huy rồi nói: “Hai tàu ném máy phát tấm chắn bảo vệ ra. Theo thứ tự. Làm thế mỗi tàu sẽ chở thêm được một người. Chúng
ta không thể để lại bất kỳ người nào cho con quái vật đó.” Ông trở lại tần số hoạt động, quát lên: “Được rồi, nhóm Delta Ajax chín! Ra ngoài! Ngay bây giờ! Đây là lệnh của Công tước! Hai người một, nếu không ta sẽ dùng súng laze cắt con bọ đó ra thành từng khúc đấy!” Một cánh cửa sập kêu đánh tách rồi mở ra gần mặt trước con bọ, một cánh nữa đằng sau, một cánh nữa trên đỉnh. Đám người nhào ra, trượt rồi bò xuống mặt cát. Ra cuối cùng là một người cao lớn mặc chiếc áo choàng lao động vá víu. Anh ta nhảy xuống băng chuyền rồi xuống cát.
Công tước treo micro lên bảng điều khiển, lao ra ngoài bậu cánh hét to: “Mỗi tàu hai người.” Người mặc áo choàng vá víu liền tách người trong đội mình thành từng cặp hai người, đẩy họ về phía các tàu đang đợi ở phía bên kia. “Bốn người lên đây!” Công tước hét lên. “Bốn người lên tàu đằng sau!” Ông chỉ tay vào một tàu hộ tống ngay phía sau ông. Các vệ sĩ vừa vần chiếc máy phát tấm chắn ra khỏi tàu. “Bốn người nữa lên tàu đằng kia!” Ông chỉ vào một chiếc tàu hộ tống khác đã ném máy phát đi. “Những tàu khác mỗi chiếc ba người!
Chạy nhanh lên, cái đám thợ cát này!” Người đàn ông cao lớn đếm xong số người trong đội mình, liền đi băng qua cát, theo sau là ba người nữa. “Tôi nghe thấy tiếng sâu cát, nhưng không nhìn thấy nó,” Kynes nói. Khi đó những người khác cũng nghe thấy - tiếng trượt cọ vào cát, từ xa vọng lại và mỗi lúc một to hơn. “Làm ăn kiểu gì mà lôm côm quá thể,” Công tước làu bàu. Đội tàu bắt đầu vỗ cánh rời khỏi mặt cát.
Nó gợi Công tước nhớ về cái lần trong khu rừng nhiệt đới ở hành tinh quê hương ông, cái gì đó thình lình xuất hiện trong một khoảng rừng trống, và lũ chim ăn thịt thối bay vù lên từ xác một con bò rừng. Những người thợ khai thác hương dược trèo lên hông tàu, bắt đầu bò vào phía sau Công tước. Halleck giúp kéo họ vào ghế sau. “Vào đây, các cậu bé!” ông cáu kỉnh. “Hai người một!” Paul bị những người thợ đẫm mồ hôi dồn vào một góc, cậu ngửi thấy mồ hôi túa ra vì khiếp sợ, nhìn thấy hai người trong số
họ chỉnh lại cổ áo bộ sa phục quá xộc xệch. Cậu ghi thông tin này vào bộ nhớ để dành cho hành động sau này. Cha cậu sẽ phải ra lệnh siết chặt kỷ luật về sa phục hơn. Những người này có khuynh hướng trở nên cẩu thả nếu ta không giám sát những việc như thế. Người thợ cuối cùng hổn hển bước vào ghế sau, nói. “Sâu cát! Nó gần như xuất hiện cạnh chúng tôi rồi! Đồ trời đánh thánh vật!” Công tước dịch vào trong ghế, cau mày nói: “Theo ước lượng ban đầu chúng ta vẫn còn gần ba phút nữa trước khi đụng độ. Đúng không, Kynes?” Ông đóng cửa
chỗ mình lại, kiểm tra. “Gần đúng, thưa Chúa công,” Kynes nói, và ông nghĩ: Tay công tước này đúng là người điềm tĩnh. “Tất cả đều an toàn, thưa Chúa công,” Halleck nói. Công tước gật đầu, nhìn chiếc tàu hộ tống cuối cùng cất cánh. Ông điều chỉnh bộ phận đánh lửa, nhìn lướt qua các cánh và thiết bị thêm một lần nữa, ấn chuỗi nút kích hoạt động cơ phản lực. Con tàu cất cánh đẩy Công tước và Kynes lún sâu vào trong ghế, ép cả
những người ngồi ghế sau. Kynes quan sát cung cách Công tước xử lý bộ điều khiển - nhẹ nhàng, chắc chắn. Bây giờ con tàu đã thực sự cất cánh, còn Công tước quan sát các thiết bị, đưa mắt nhìn các cánh ở phía trái và phía phải. “Tàu nặng quá, thưa Chúa công,” Halleck nói. “Vẫn vừa sức chứa của con tàu này,” Công tước nói. “Ông không thực sự nghĩ rằng ta dám mạo hiểm chở lượng hàng này, phải không Gurney?” Halleck cười toét miệng nói: “Không hề dù chỉ một chút, thưa Ngài.”
Công tước cho tàu chao nghiêng theo một đường vòng dài nhàn nhã, cất lên cao phía trên con bọ. Paul chen vào một góc cạnh cửa sổ, nhìn chằm chằm xuống cỗ máy im lìm trên cát. Vết sâu cát đột ngột bị cắt ngang cách con bọ bốn trăm mét. Lúc này xung quanh con bọ hình như có sự nhiễu động trong cát. “Bây giờ con sâu cát đang ở dưới con bọ,” Kynes nói. “Mọi người sắp được chứng kiến một sự kiện ít ai được thấy.” Lúc này bụi đã che mờ lớp cát quanh con
bọ. Cỗ máy to lớn bắt đầu nghiêng sang bên phải. Một xoáy cát khổng lồ bắt đầu định hình ở đó, bên phải con bọ. Nó di chuyển càng lúc càng nhanh hơn. Cát và bụi mù mịt trong không gian hàng trăm mét xung quanh. Rồi họ nhìn thấy nó! Một cái lỗ to xuất hiện trên cát. Ánh mặt trời lóe lên từ những cái răng giống như nan hoa màu trắng lấp lánh bên trong lỗ. Paul ước lượng đường kính của cái lỗ chí ít cũng gấp hai lần chiều dài con bọ. Cậu quan sát cỗ máy trượt vào cái lỗ đang mở hoác kia trong làn sóng cát bụi cuồn cuộn. Cái lỗ hút nó xuống.
“Chúa ơi, con quái vật kinh khủng quá!” người ngồi cạnh Paul thì thầm. “Chén sạch hương dược của chúng ta!” người khác làu bàu. “Ai đó sẽ phải trả giá cho chuyện này,” Công tước nói. “Ta hứa như thế.” Dựa vào vẻ kiên quyết tột độ trong giọng nói của cha, Paul cảm thấy một sự tức giận sâu sắc. Cậu nhận ra mình cũng chia sẻ điều đó. Đây đúng là sự lãng phí vô đạo đức! Trong sự im lặng nối theo đó, họ nghe
Kynes nói. “Chúa phù hộ cho Ngài Tạo và nước của Ngài,” Kynes thì thầm. “Chúa phù hộ cho việc đến và đi của Ngài. Cầu cho chuyến đi của Ngài tẩy sạch thế giới này. Cầu cho Ngài gìn giữ thế giới này cho thần dân Ngài.” “Ông đang nói gì thế?” Công tước hỏi. Nhưng Kynes lại im lặng. Paul liếc đám người đang xúm xít quanh cậu. Họ nhìn chằm chằm sợ sệt vào gáy Kynes. Một người trong bọn họ thì thầm: “Liet”.
Kynes quay người, quắc mắt giận dữ. Người đó lùi lại, bối rối. Một người khác trong số những người được cứu thoát bắt đầu ho - ho khan khù khụ. Ngay sau đó, anh ta hổn hển: “Quỷ tha ma bắt cái xó địa ngục này đi!” Người đàn ông Xứ Cát dáng cao lớn, người cuối cùng rời khỏi con bọ, nói: “Im đi, Coss. Cậu càng nói thì chỉ càng ho dữ hơn thôi.” Ông ta ngọ nguậy giữa đám người cho đến khi có thể nhìn xuyên qua họ tới gáy của Công tước. “Ngài là Công tước Leto, chắc chắn vậy rồi,” ông ta nói. “Xin gửi đến Ngài lời cảm tạ
chân thành vì đã cứu mạng chúng tôi. Chúng tôi đã sắp tận số ở chỗ đó thì vừa hay ngài tới.” “Im lặng, anh kia, để cho Công tước lái tàu,” Halleck càu nhàu. Paul liếc Halleck. Cậu cũng đã nhìn thấy những nếp nhăn căng thẳng ở góc quai hàm cha. Mọi người đều bước thật khẽ mỗi khi Công tước đang trong cơn giận dữ. Leto bắt đầu đưa tàu chầm chậm thoát khỏi đường bay vòng tròn rộng trong thế chao nghiêng, dừng lại khi thấy dấu hiệu di chuyển mới trên cát. Con sâu cát đã
rúc xuống thật sâu và bây giờ, gần chỗ con bọ đã đứng ban nãy, có thể nhìn thấy hai dáng người đang di chuyển từ chỗ cát lún ra xa về hướng Bắc. Họ dường như lướt trên mặt cát, gần như không làm bốc bụi lên khiến lộ ra dấu vết họ đi. “Ai ở dưới đó?” Công tước quát lên. “Hai gã đến dự cho vui, thưa Cung tước,” người Xứ Cát nói. “Tại sao không nghe nói gì đến họ?” “Bọn họ đã liều thì tự chịu lấy thôi, thưa Cung tước,” người Xứ Cát nói.
“Thưa Chúa công,” Kynes nói, “những người này biết rõ, trong vùng có sâu cát, dù có làm gì để cứu những người mắc kẹt trên sa mạc đi nữa thì cũng chẳng ích gì lắm.” “Chúng ta sẽ gửi một tàu từ căn cứ đến giúp họ!” Công tước cáu kỉnh. “Xin theo ý ngài, thưa Tướng công,” Kynes nói. “Nhưng có khả năng khi tàu đến được đây thì chẳng còn ai để cứu nữa.” “Dù thế nào thì chúng ta sẽ vẫn gửi một tàu đến,” Công tước nói.
“Họ ở phía bên phải gần chỗ con sâu tới,” Paul nói. “Họ sẽ thoát ra bằng cách nào đây?” “Mép hố lún xuống khiến người ta dễ bị nhầm lẫn về khoảng cách,” Kynes nói. “Ngài đang lãng phí nhiên liệu ở đây, thưa Chúa công,” Halleck đánh bạo nói. “Ừ, Gurney.” Công tước lái tàu vòng về phía Tường Chắn. Đội hộ tống đang vòng vòng tại vị trí cảnh vệ trên cao bèn hạ xuống, chiếm giữ những vị trí bên trên và hai bên tàu Công tước.
Paul suy nghĩ về những gì người Xứ Cát và Kynes đã nói. Cậu cảm thấy những sự thật nửa vời, những lời nói dối không thể nhầm lẫn. Rõ ràng những người ở trên bãi cát đó đã lướt đi trên mặt đất, di chuyển theo một cách hiển nhiên là được tính toán sao cho không thu hút con sâu trồi lên từ trong lòng cát. Người Fremen! Paul nghĩ. Còn ai khác có thể tự tin trên cát như thế? Còn ai khác có thể ung dung làm chủ tình huống ngay cả khi bị bỏ ngoài sự quan tâm lo lắng của mọi người - bởi họ không coi đó là nguy hiểm? Họ biết cách sống ở đây!Họ biết cách đánh lừa
sâu cát! “Người Fremen đang làm gì trên con bọ đó vậy?” Paul hỏi. Kynes quay phắt lại. Người Xứ Cát cao lớn trố mắt nhìn Paul - màu xanh trong màu xanh trong màu xanh. “Cậu bé này là ai?” ông ta hỏi. Halleck bước lại đứng chắn giữa người Xứ Cát và Paul rồi nói: “Đây là Paul Atreides, người thừa kế của Công tước.” “Sao cậu ta lại bảo có người Fremen trên con bọ của chúng ta?” ông ta hỏi.
“Họ khớp với miêu tả,” Paul nói. Kynes khịt khịt mũi. “Cậu không thể nói đó là người Fremen chỉ bằng cách nhìn vào họ!” Ông ta nhìn người Xứ Cát. “Ông. Ông nói đi, những người đó là ai?” “Bạn của một trong mấy người kia,” người Xứ Cát nói. “Chỉ là những người bạn từ một thị trấn muốn nhìn thấy cát chứa hương dược.” Kynes quay đi. “Người Fremen!” Nhưng ông đang nhớ về câu trong truyền
thuyết: “Lisan al-Gaib sẽ nhìn thấu mọi ngón bịp.” “Giờ thì họ chết rồi, chắc chắn thế, cậu Cung tử à,” người Xứ Cát nói. “Chúng ta không nên nói xấu về họ.” Nhưng Paul nhận thấy sự lừa dối trong giọng họ, cảm thấy cái mối đe dọa vốn khiến Halleck lấy tư thế bảo vệ theo bản năng. Paul nói khô khốc: “Chết ở một nơi như thế thì kinh khủng quá.” Kynes nói, không quay đầu lại: “Một khi Thượng đế đã quyết định cho một kẻ
phải chết ở một nơi cụ thể, Người sẽ khiến cho những mong muốn của anh ta dẫn đường cho anh ta đến đó.” Leto quay người nhìn chằm chằm nghiêm khắc vào Kynes. Và Kynes, cũng nhìn chằm chằm đáp lại, thấy lo lắng vì một thực tế mà ông quan sát được ở đây: Vị Công tước này quan tâm đến nhóm thợ hơn là đến hương dược. Ông ta dám mạo hiểm mạng sống của mình và của con trai để cứu những người này. Ông ta cho qua việc mất con bọ khai thác hương dược chỉ bằng một cử chỉ. Mối đe dọa đối với tính mạng của nhóm thợ làm ông ta nổi cơn thịnh
nộ. Một lãnh tụ như thế xứng đáng với lòng trung thành cuồng tín. Khó mà đánh bại được ông ta. Ngược lại với ý chí và tất cả những chỉ trích trước đây của mình, Kynes thú nhận với chính mình: Ta thích vị Công tước này.
Sự cao sang là một trải nghiệm ngắn ngủi. Nó không bao giờ kiên định. Nó phụ thuộc một