Xứ Cát

phần vách trong

phần vách trong

phần vách trong suốt của căn lều về phía những khối đá đổ bóng dưới ánh trăng bao quanh nơi

này - nơi Idaho giấu họ. Phải lẩn trốn như một đứa trẻ trong khi bây giờ ta là Công tước, Paul nghĩ. Cậu cảm thấy ý nghĩ đó xúc phạm đến lòng tự ái của cậu, nhưng không thể phủ nhận rằng họ đang hành động sáng suốt. Đêm nay có một điều gì đó xảy ra trong ý thức cậu - cậu nhìn thấy mọi tình huống và sự kiện xung quanh mình một cách thật rõ ràng, sắc nét. Cậu cảm thấy không thể chặn cái dòng dữ liệu đang chảy dồn dập vào trong tâm trí cậu hay sự chính xác đến lạnh lùng khi mỗi một điều mới được thêm vào vốn hiểu biết của cậu và sự tính toán được đặt vào giữa ý thức

cậu. Đó là năng lực Mentat và còn hơn thế nữa. Paul nghĩ lại khoảnh khắc giận dữ bất lực khi con tàu lạ từ trong bóng đêm bổ nhào về phía họ, chúi xuống như một con chim ưng khổng lồ trên sa mạc với tiếng gió rít qua đôi cánh. Khi đó, điều Paul nghĩ đến đã xảy ra. Con tàu trượt đi rồi chệch hướng đâm qua một đụn cát về phía những người đang chạy - mẹ và cậu. Paul nhớ lại mùi lưu huỳnh khét lẹt xộc vào mũi họ khi con tàu miết trên cát. Cậu biết mẹ đã quay lại, cứ ngỡ sẽ nhìn thấy một khẩu súng laze trong tay bọn lính Harkonnen, nhưng rồi mẹ nhận ra

Duncan Idaho nhoài người ra ngoài cánh cửa tàu đang mở mà hét: “Nhanh lên! Có vết sâu cát ở phía Nam hai người đó!” Nhưng Paul đã biết ai lái con tàu ngay khi cậu quay người lại. Dựa vào những chi tiết cực nhỏ trong cách nó bay, cú va chạm mạnh khi hạ cánh - những manh mối nhỏ đến mức ngay mẹ cậu cũng không phát hiện ra - đã cho Paul biết chính xác ai ngồi bên bảng điều khiển con tàu. Ngồi phía bên kia lều đối diện Paul, Jessica cựa quậy nói: “Chỉ có thể có một cách giải thích. Bọn Harkonnen giam giữ vợ Yueh. Ông ấy căm thù bọn

Harkonnen! Mẹ không thể nhầm được. Con đã đọc bức thư ngắn của ông ấy. Nhưng tại sao ông ấy lại cứu mẹ con mình thoát khỏi vụ tàn sát đó?” Bây giờ mẹ mới nhìn ra điều đó, mà cũng chỉ nhìn được đến thế, Paul nghĩ. Ý nghĩ này là một cú sốc. Cậu đã tình cờ biết sự thật này trong khi đọc bức thư ngắn có kèm ấn công tước trong cái bọc. “Đừng cố gắng tha thứ cho thầy,” Yueh viết. “Thầy không muốn con tha thứ cho thầy. Thầy đã có đủ gánh nặng rồi. Việc thầy làm không hề có ác ý và thầy cũng không hy vọng người khác hiểu cho mình. Đó là thử thách tối hậu, thử thách cuối

cùng của thầy. Thầy trao cho con ấn công tước Atreides như một bằng chứng cho thấy những gì thầy viết là sự thật. Khi con đọc bức thư này, Công tước Leto hẳn đã chết rồi. Nhưng ta đảm bảo rằng ông ấy không chết một mình, kẻ mà chúng ta căm thù hơn tất cả những kẻ khác cũng sẽ phải chết cùng ông ấy. Con hãy lấy điều đó làm an ủi.” Bức thư không có địa chỉ hay chữ ký, nhưng nét chữ nguệch ngoạc quen thuộc thì không thể nhầm được - thư của Yueh. Nhớ lại bức thư, Paul lại trải qua cảm giác đau đớn trong khoảnh khắc đó - một điều rõ nét và kỳ lạ dường như xảy ra

bên ngoài tinh thần minh mẫn mà cậu vừa mới có. Cậu đọc được thông tin cha mình đã chết, biết sự thật từ những câu chữ, nhưng cậu cảm thấy chúng chẳng là gì ngoài một dữ liệu khác được nhập vào tâm trí cậu để sử dụng. Mình yêu cha, Paul nghĩ, cậu biết đó là sự thật. Mình nên khóc than thương tiếc cha. Mình nên cảm thấy một điều gì đó. Nhưng cậu chẳng cảm thấy gì ngoại trừ: Đây là một sự kiện quan trọng. Đó là một trong tất cả những sự kiện khác.

Suốt khoảng thời gian đó tâm trí cậu đang tiếp nhận thêm những ấn tượng của giác quan, đang ngoại suy, tính toán. Paul nhớ lại lời Halleck: “Tâm trạng chỉ dành cho những kẻ đáng khinh hoặc khi làm tình. Con chiến đấu khi cần phải chiến đấu, chẳng liên quan gì đến tâm trạng cả.” Có thể chính là điều đó, Paul nghĩ. Ta sẽ khóc thương cho cha sau... khi đúng thời điểm. Nhưng cậu cảm thấy tâm trí mình không ngừng tính toán với sự chính xác lạnh lùng. Cậu cảm thấy cái ý thức mới của

mình mới chỉ bắt đầu, rằng nó đang lớn lên. Trong con người cậu tràn ngập cái ý thức về mục đích kinh khủng mà cậu đã trải qua lần đầu tiên trong cuộc thử thách với Mẹ Chí tôn Gaius Helen Mohiam. Bàn tay phải - bàn tay ghi nhận nỗi đau - ngứa râm ran, sau đó là đau đớn. Phải chăng sự thử thách ấy là để chứng tỏ ai là Kwisatz Haderach của bọn họ? cậu tự hỏi. “Có lúc mẹ nghĩ Hawat lại làm chúng ta thất vọng lần nữa,” Jessica nói. “Mẹ đã nghĩ có thể Yueh không phải bác sĩ tốt nghiệp trường Suk.”

“Chúng ta từng nghĩ ông ấy là thế nào thì ông ấy chính là như thế... và còn hơn thế nữa,” Paul nói. Và cậu nghĩ: Tại sao mẹ nhận ra những điều này chậm vậy? Cậu nói, “Nếu Idaho không đến được chỗ Kynes, chúng ta sẽ...” “Anh ta không phải hy vọng duy nhất của chúng ta,” mẹ cậu nói. “Đó không phải ý kiến của con,” Paul tiếp. Nàng nghe thấy sự đanh thép trong giọng con, ý thức về quyền chỉ huy trong đó, nàng nhìn cậu chằm chằm qua bóng tối xám xịt của căn lều. Paul là một cái bóng

trên nền những khối đá khoác ánh trăng trông như một lớp băng giá khi nhìn xuyên qua vách lều trong suốt. “Trong đám thuộc hạ của cha con sẽ có người trốn thoát được,” nàng nói. “Chúng ta phải tập hợp họ lại, tìm...” “Chúng ta phải dựa vào chính mình,” cậu nói. “Mối quan tâm trước mắt của chúng ta là vũ khí nguyên tử của Gia tộc. Chúng ta phải giành lấy chúng trước khi bọn Harkonnen có thể mò ra.” “Bọn chúng sẽ không tìm thấy,” nàng nói, “những vũ khí đó được giấu rất kỹ.”

“Không thể trông vào vận may.” Nàng nghĩ: Tống tiền bằng vũ khí nguyên tử của gia tộc, dùng nó như là mối đe dọa đối với hành tinh này cùng hương dược của nó - thằng bé nghĩ thế đấy. Nhưng nếu vậy thằng bé chỉ còn hy vọng duy nhất là trốn thoát bằng cách giấu tên rồi sống ngoài vòng pháp luật. Những lời mẹ nói đã gợi lên một chuỗi suy nghĩ khác trong Paul - mối quan tâm của một Công tước đối với tất cả những người họ đã mất trong đêm nay. Những người thân thuộc là sức mạnh đích thực của Gia tộc, Paul nghĩ. Cậu nhớ lại lời Hawat: “Chia tay người thân mới đáng

phải buồn; nơi ở chỉ là nơi ở.” “Bọn chúng sử dụng lính Sardaukar,” Jessica nói. “Chúng ta phải đợi cho đến khi quân Sardaukar rút lui.” “Bọn chúng nghĩ chúng ta mắc kẹt giữa sa mạc và quân Sardaukar,” Paul nói. “Bọn chúng định tiêu diệt tận gốc rễ gia tộc Atreides không để người nào sống sót. Đừng hy vọng ai đó trốn thoát được.” “Bọn chúng không thể cứ tiếp tục liều lĩnh phơi bày sự can thiệp của Hoàng đế trong chuyện này được.”

“Bọn chúng không thể ư?” “Vài người của chúng ta chắc chắn thoát được.” “Những ai chứ?” Jessica quay đi, hoảng sợ trước nỗi cay đắng cùng cực trong giọng con, lắng nghe sự đánh giá chính xác về những khả năng có thể xảy ra. Nàng cảm thấy đầu óc nó đã vượt xa nàng, trong một số khía cạnh nó hiểu rõ hơn nàng. Nàng đã giúp huấn luyện thằng bé để nó đạt được trí tuệ như ngày nay, nhưng giờ đây nàng nhận ra mình sợ nó. Những suy nghĩ của nàng quay trở lại, tìm về nơi ẩn náu đã mất

của Công tước, và những giọt lệ thiêu đốt mắt nàng. Mọi việc phải diễn ra theo đúng chiều hướng này, Leto ạ, nàng nghĩ. “Khoảnh khắc cho tình yêu, khoảnh khắc cho nỗi tiếc thương.” Nàng đặt tay lên bụng, tập trung ý thức vào cái mầm sống ở đó. Ta đang mang thai đứa con gái của dòng họ Atreides đúng như mệnh lệnh, nhưng Mẹ Chí tôn sai rồi: một đứa con gái cũng không cứu được Leto của ta. Đứa bé này là mạng sống duy nhất đang vươn tới tương lai giữa bốn bề chết chóc. Ta thụ thai theo bản năng chứ không phải do phục tùng.

“Hãy thử lại máy thu tin tức,” Paul nói. Trí óc thằng bé hoạt động liên tục bất kể chúng ta có cố thế nào hòng ngăn nó lại, nàng nghĩ. Jessica tìm thấy cái máy thu bé xíu mà Idaho để lại cho họ, bật công tắc lên. Một ánh sáng màu xanh rực lên trên bề mặt thiết bị. Có tiếng rít nhỏ phát ra từ loa. Nàng giảm âm lượng xuống, dò tìm qua các dải tần số. Một giọng nói dùng ngôn ngữ chiến trận Atreides vang lên trong lều. “... quay lại tập hợp tại dải đất hẹp trên đỉnh núi. Fedor báo rằng không còn ai

sống sót ở Carthag và Ngân hàng Hiệp hội vừa bị cướp phá.” Carthag! Jessica nghĩ. Đó là căn cứ của bọn Harkonnen. “Bọn chúng là lính Sardaukar,” giọng nói cất lên. “Coi chừng lính Sardaukar mặc đồng phục Atreides. Bọn chúng...” Có tiếng hét trong loa, sau đó thì im lặng. “Thử dò dải tần số khác xem,” Paul nói. “Con có hiểu ý nghĩa những câu vừa nghe không?” Jessica hỏi.

“Con đã nghĩ là chúng sẽ làm thế. Bọn chúng muốn Hiệp hội kết tội chúng ta phá hoại ngân hàng của họ. Một khi Hiệp hội cũng chống lại chúng ta thì chúng ta không còn đường thoát ở Arrakis. Hãy thử những dải tần số khác xem.” Nàng cân nhắc lời nói của cậu: Con đã nghĩ là chúng sẽ làm thế. Chuyện gì đã xảy ra với thằng bé? Chầm chậm, Jessica quay lại với chiếc máy thu. Khi nàng dịch chuyển thanh trượt dò kênh, họ bắt gặp những khoảnh khắc ác liệt thông qua vài lời chật vật thốt lên bằng ngôn ngữ chiến trận Atreides: “... ngã về phía sau ...” “... cố gắng tập hợp lại ở...” “... bị bẫy trong một hang động ở...”

Và không nghi ngờ gì nữa, tràn ngập các kênh khác là những lời bô lô ba la chứa đựng niềm hân hoan chiến thắng của bọn Harkonnen. Những mệnh lệnh rõ ràng, những bản tin chiến trận. Tuy những câu nói đứt quãng không trọn nghĩa khiến Jessica khó mà ghi nhận và hiểu được ngôn ngữ này, nhưng âm điệu thì quá rõ. Bọn Harkonnen đã thắng. Paul lắc cái bọc ở bên cạnh, nghe thấy tiếng nước óc ách trong hai cái bình literjon. Cậu hít một hơi sâu, ngước mắt qua vách lều trong suốt nhìn vách đá dựng đứng nổi bật dưới những vì sao.

Tay trái cậu sờ vào miếng van bịt ở cửa trước căn lều. “Trời sắp sáng rồi,” cậu nói. “Chúng ta có thể đợi Idaho suốt cả ngày, nhưng không thể đợi thêm một đêm nữa. Trong sa mạc, người ta phải di chuyển vào ban đêm, nghỉ ngơi trong bóng râm vào ban ngày.” Những tri thức mà Jessica đã tiếp nhận từ trước tự động hiện lên trong tâm trí nàng: Nếu không có sa phục, một người ngồi trong bóng râm trên sa mạc cần năm lít nước mỗi ngày để duy trì trọng lượng cơ thể. Nàng cảm thấy bề mặt mềm mại trơn mượt của bộ sa phục cọ

vào cơ thể, nghĩ đến việc cuộc sống của họ phụ thuộc đến mức nào vào những bộ quần áo này. “Nếu chúng ta rời khỏi đây, Idaho không thể tìm thấy chúng ta,” nàng nói. “Có nhiều cách để buộc bất cứ kẻ nào cũng phải nói,” cậu nói. “Nếu đến sáng mà Idaho không trở về, chúng ta phải tính đến khả năng anh ta đã bị bắt. Mẹ nghĩ anh ta có thể chịu đựng được trong bao lâu?” Câu trả lời đã quá rõ, và nàng ngồi im lặng.

Paul mở nắp bọc, lấy ra một quyển sách bé xíu có phím sáng và bộ khuếch đại. Những chữ cái màu xanh và cam trong các trang sách nhảy múa trước mặt cậu: “bình đựng nước, lều sa mạc, mũ năng lượng, recath, ống thông hơi cát, ống nhòm, bộ dụng cụ sa phục, súng lục baradye, sơ đồ sink, phích lọc, cận la bàn, móc bắt sâu cát, dùi gọi, bộ công cụ Fremen, cột lửa...” Rất nhiều thứ giúp con người sống sót trên sa mạc. Ngay sau đó, cậu đặt quyển sách sang một bên trên nền căn lều.

“Chúng ta có thể đi đâu?” Jessica hỏi. “Cha đã nói về sức mạnh sa mạc,” Paul nói. “Bọn Harkonnen không thể cai trị hành tinh này nếu không có nó. Bọn chúng chưa và sẽ không bao giờ cai trị được hành tinh này. Ngay cả khi chúng có mười ngàn quân đoàn Sardaukar trong tay.” “Paul, con không thể nghĩ rằng...” “Chúng ta có tất cả bằng chứng trong tay,” cậu nói. “Ngay tại đây, trong căn lều này - chính căn lều này, cái bọc này và những thứ trong đó, những bộ sa phục này. Chúng ta biết Hiệp hội muốn bán vệ

tinh thời tiết với giá cắt cổ. Chúng ta biết...” “Vệ tinh thời tiết thì liên quan gì chứ?” nàng hỏi. “Chúng không có khả năng...” Nàng bở dở câu nói. Paul cảm thấy khả năng phán đoán siêu nhanh trong đầu cậu đang đọc phản ứng của mẹ, tính toán dựa trên những chi tiết nhỏ nhặt. “Giờ thì mẹ thấy rồi đấy,” cậu nói. “Các vệ tinh quan sát địa hình ở dưới kia. Trong sa mạc sâu có nhiều thứ không bị kiểm tra thường xuyên.” “Con đang ám chỉ rằng chính Hiệp hội kiểm soát hành tinh này?”

Nàng hiểu quá chậm. “Không!” cậu nói. “Là người Fremen! Họ đang trả tiền cho Hiệp hội để mua sự riêng tư, trả bằng loại tiền mà bất kỳ ai có sức mạnh sa mạc đều có - hương dược. Đây không chỉ là một câu trả lời thuộc phép tính xấp xỉ bậc hai; đó là tính toán tuyến tính. Mẹ tin nó đi.” “Paul,” Jessica nói, “con vẫn chưa phải là Mentat; con không thể biết chắc chắn...” “Con sẽ không bao giờ là Mentat,” cậu nói. “Con là một cái gì đó khác... một

người bất thường.” “Paul! Sao con có thể nói như thế...” “Hãy để con một mình!” Cậu quay đi, nhìn ra ngoài bóng đêm. Tại sao mình không thể khóc thương? cậu tự hỏi. Cậu cảm thấy mọi đường gân thớ thịt trong mình đều khao khát sự giải thoát này, nhưng mãi mãi bị cậu từ chối. Jessica chưa bao giờ nghe thấy nỗi đau đớn nhường ấy trong giọng nói con trai. Nàng muốn đến bên con, ôm con vào lòng, an ủi, giúp đỡ con - nhưng nàng cảm thấy nàng không thể làm gì được. Nó

phải tự mình giải quyết vấn đề này. Cái phím sáng của cuốn sách chỉ dẫn sử dụng bộ công cụ Fremen nằm trên nền lều đập vào mắt nàng. Nàng nhấc cuốn sách lên, liếc vào trang bìa rồi đọc: “Sách về ‘Sa mạc thân thiện’, nơi tràn đầy sự sống. Ở đây có ayat và burhan của cuộc sống. Hãy tin tưởng, và al-Lat sẽ không bao giờ thiêu cháy bạn.” Nội dung giống Sách Azhar, nàng nghĩ, nhớ lại các nghiên cứu của mình về Những Bí mật Vĩ đại. Từng có một Người Vận dụng Tôn giáo sống trên Arrakis chăng?

Paul lấy cận la bàn trong bọc ra, vặn lại rồi nói: “Hãy xem những loại công cụ Fremen có ứng dụng đặc biệt này. Độ tinh vi không gì sánh được. Phải công nhận thế. Nền văn hóa đã chế tạo ra những thứ này để lộ những chiều sâu mà không ai có thể hoài nghi.” Ngập ngừng, vẫn lo lắng vì sự gay gắt trong giọng điệu của con, Jessica lại quay ra đọc sách, nghiên cứu hình minh họa một chòm sao trên bầu trời Arrakeen: “Muad’Dib: Con chuột”, và để ý thấy cái đuôi chỉ về phương Bắc. Trong bóng tối căn lều, Paul nhìn chằm chằm vào những cử động lờ mờ của mẹ

dưới ánh sáng phát ra từ cái phím sáng trên cuốn sách. Bây giờ là lúc thực hiện ước muốn của cha, cậu nghĩ. Ngay bây giờ ta phải trao cho mẹ thông điệp của cha trong lúc mẹ có thời gian khóc than. Nếu sau này mới khóc than thì sẽ rất phiền hà. Cậu nhận ra mình bị sốc vì cái logic chính xác này. “Thưa mẹ,” cậu nói. “Gì thế con?” Nàng thấy giọng nói của con có sự thay đổi, cảm thấy trong lòng buốt giá khi nghe lời con nói. Nàng chưa từng thấy sự điều khiển khắc nghiệt đến thế.

“Cha chết rồi,” cậu nói. Nàng tìm kiếm trong bản thân mình sự móc nối giữa sự kiện này với sự kiện nọ rồi với sự kiện kia - phương pháp đánh giá dữ liệu của Bene Gesserit - và nó đã xuất hiện trong nàng: cảm giác về sự mất mát khủng khiếp. Jessica gật đầu, không nói lên lời. “Một lần cha đã giao cho con nhiệm vụ truyền đạt cho mẹ một thông điệp nếu có bất kỳ chuyện gì xảy ra với cha,” Paul nói. “Cha lo mẹ có thể nghĩ là cha nghi ngờ mẹ.”

Sự nghi ngờ vô ích đó, nàng nghĩ. “Cha muốn mẹ biết rằng cha không bao giờ nghi ngờ mẹ,” Paul nói, giải thích về mưu mẹo của cha, rồi nói thêm: “Cha muốn mẹ biết rằng lúc nào cha cũng tuyệt đối tin tưởng mẹ, luôn yêu thương mẹ. Cha nói chẳng thà nghi ngờ chính bản thân mình còn hơn và cha có một điều ân hận, rằng cha chưa bao giờ đưa mẹ lên làm Công tước Phu nhân.” Nàng quệt hàng nước mắt chảy xuống má, thầm nghĩ: Sự lãng phí nước trong cơ thể mới ngu ngốc làm sao chứ! Nhưng nàng biết ý nghĩ này thật ra là gì - cố

gắng chuyển nỗi thương tiếc thành sự tức giận. Leto, Leto của em, nàng nghĩ. Chúng ta làm những điều quá ư khủng khiếp với những người chúng ta yêu thương! Bằng một động tác mạnh mẽ, nàng tắt cái phím sáng trên cuốn sách nhỏ. Người nàng rung lên trong tiếng nức nở. Paul cảm nhận được nỗi đau của mẹ qua tiếng khóc và thấy trong lòng trống rỗng. Ta không đau buồn, cậu nghĩ. Tại sao? Tại sao? Cậu cảm thấy việc mình không có khả năng đau buồn là một lỗi lầm khủng khiếp.

“Một thời có được và một thời đánh mất,” Jessica nghĩ, trích dẫn cho chính mình từ Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam.“Một thời gìn giữ và một thời vứt bỏ; một thời yêu và một thời hận; một thời chiến tranh và một thời hòa bình.” Tâm trí Paul tiếp tục hoạt động với sự chính xác lạnh lùng. Cậu thấy những con đường phía trước họ trên cái hành tinh thù địch này. Không có ngay cả một chiếc van an toàn của giấc mơ, cậu tập trung vào nhận thức tiên tri, nhìn nó như một ước tính về những tương lai có nhiều khả năng xảy ra nhất của mình, nhưng còn có một điều gì đó nữa, một mép vực bí ẩn - như thể tâm trí cậu chìm vào một

tầng vô thời gian nào đó và lấy mẫu những ngọn gió của tương lai. Đột ngột, như thể cậu đã tìm thấy chiếc chìa khóa cần thiết, tâm trí Paul leo lên một mức nữa trong nhận thức. Cậu cảm thấy mình bám chặt vào cái mức mới này, bám chặt vào một chỗ dựa bấp bênh mà nhìn quanh bốn phía. Như thể cậu đang hiện hữu trong một địa cầu có những con đường tỏa ra mọi hướng... tuy nhiên cũng chỉ gần đúng với cảm giác ấy thôi. Cậu nhớ lại đã có lần nhìn thấy một chiếc khăn mỏng đang bay trong gió, và lúc này cậu cảm nhận được tương lai như

thể nó đang quấn quanh một bề mặt nào đó cũng lượn sóng và bất định giống như bề mặt chiếc khăn bay trong gió. Cậu nhìn thấy mọi người. Cậu cảm thấy cái nóng cái lạnh của những khả năng không tính được. Cậu biết những cái tên và địa điểm, trải qua vô số xúc cảm, xem xét lại dữ liệu của vô vàn vết nứt chưa ai dò. Có thời gian để thăm dò, kiểm tra và nếm thử, nhưng không có thời gian để tạo hình hài. Cả khung cảnh đó là một chuỗi những sự kiện có khả năng xảy ra từ quá khứ xa

xăm nhất đến tương lai xa xăm nhất - từ sự kiện nhiều khả năng xảy ra nhất đến sự kiện ít khả năng xảy ra nhất. Cậu thấy cái chết của chính mình theo vô số cách. Cậu thấy những hành tinh mới, những nền văn hóa mới. Con người. Con người. Cậu nhìn thấy họ đông đến nỗi không thể liệt kê cho hết, tuy nhiên tâm trí cậu vẫn lập danh mục họ. Thậm chí cả người của Hiệp hội.

Và cậu nghĩ: Hiệp hội - hẳn sẽ là một giải pháp cho chúng ta, họ chấp nhận sự khác thường của ta như một thứ giá trị cao quen thuộc, luôn luôn kèm theo một nguồn cung ổn định thứ hương dược mà giờ đây là cần thiết. Thế nhưng, sống trọn đời trong cái tâm￾trí-mò-mẫm-về-phía-trước-xuyên-qua￾những-tương-lai-có-khả-năng-xảy-ra vốn đưa đường chỉ lối cho những con tàu vũ trụ bay vùn vụt, ý nghĩ phải sống như thế làm cậu hoảng sợ. Mặc dù đó từng là một giải pháp. Và trong sự gặp gỡ cái tương lai có khả năng xảy ra bao gồm người của Hiệp hội, cậu nhận ra sự khác thường của chính mình.

Ta có một khả năng nhìn khác. Ta thấy một loại địa hình khác: những con đường sẵn có. Nhận thức đó làm cậu vừa yên tâm vừa lo lắng - có quá nhiều nơi trên loại địa hình khác đó chìm vào hoặc vượt quá tầm nhìn của cậu. Nhẹ nhàng như khi đến, cảm giác đó chuội khỏi cậu, và cậu nhận ra toàn bộ những gì cậu vừa trải qua đó chỉ diễn ra trong khoảng thời gian tương đương với độ dài của một nhịp tim. Tuy nhiên, ý thức cá nhân của chính cậu

đã được lật đi lật lại, được làm sáng tỏ theo một cách khủng khiếp. Cậu nhìn chằm chằm xung quanh. Bóng đêm vẫn bao trùm căn lều nằm trong nơi ẩn trốn có đá bao quanh này. Cậu vẫn nghe thấy tiếng khóc than của mẹ. Cậu vẫn cảm thấy sự thiếu vắng nỗi thương tiếc trong chính mình... vùng trống rỗng này nằm ở đâu đó tách ra khỏi tâm trí cậu, cái tâm trí vẫn tiếp tục hoạt động với tốc độ bất biến - xử lý dữ liệu, đánh giá, tính toán, nêu những câu trả lời theo kiểu gì đó giống như cách thức của Mentat.

Và giờ cậu thấy mình có một nguồn dữ liệu dồi dào mà từ trước tới nay ít có trí tuệ nào như vậy từng chứa đựng được. Nhưng điều này không giúp cậu chịu đựng vùng trống trong mình dễ dàng hơn. Cậu cảm thấy phải phá hủy một cái gì đó. Như thể một cái đồng hồ hẹn giờ cho một quả bom đã được cài đặt kêu tích tắc bên trong cậu. Nó tiếp tục công việc của mình bất kể cậu muốn hay không. Nó ghi lại những sắc thái khác nhau nhỏ xíu xung quanh cậu - sự thay đổi rất nhỏ trong độ ẩm, sự hạ thấp chút xíu của nhiệt độ, bước tiến của một con sâu bò ngang qua nóc căn lều, sự hé rạng uy nghi của bình minh trên mảnh trời rạng ánh sao mà cậu

có thể nhìn qua vách lều trong suốt. Cậu không chịu đựng nổi sự trống rỗng này. Dù biết cái đồng hồ đếm giờ đã được đưa vào chuyển động như thế nào thì cũng vậy thôi. Cậu có thể nhìn vào quá khứ của chính mình và quan sát sự khởi đầu của nó - sự huấn luyện, mài giũa năng lực, sự thúc ép tinh vi của những phương pháp rèn luyện phức tạp, ngay cả việc tiếp xúc với Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam tại một thời điểm hệ trọng... và, cuối cùng, một lượng lớn hương dược đưa vào người. Và cậu có thể nhìn về phía trước - theo hướng kinh khủng nhất - để thấy cái nơi mà toàn bộ điều này dẫn tới.

Ta là một quái vật! cậu nghĩ. Một người khác thường! “Không,” cậu nói. Sau đó: “Không. Không! KHÔNG!” Cậu nhận ra mình đang đấm tay lên nền căn lều. (Cái phần không thể mủi lòng trong cậu ghi nhận điều này như một dữ liệu xúc cảm thú vị và đưa nó vào tính toán.) “Paul!” Mẹ ngồi bên cạnh, nắm tay cậu, khuôn mặt mẹ như một đốm màu xám nhìn cậu

chăm chú. “Paul, có chuyện gì thế?” “Mẹ!” cậu nói. “Mẹ đây, Paul,” nàng nói. “Mọi chuyện ổn rồi.” “Mẹ đã làm gì với con?” cậu gặng hỏi. Trong sự thấu suốt bất ngờ, nàng cảm nhận được một vài nguồn gốc trong câu hỏi, bèn nói: “Ta đã sinh ra con.” Dựa vào bản năng cũng như vốn kiến thức tinh tế của mình, nàng biết đó là câu trả lời chính xác để cậu bình tĩnh trở lại. Cậu cảm thấy đôi bàn tay mẹ nắm lấy

mình, chú ý vào đường nét lờ mờ trên khuôn mặt mẹ. (Một vài dấu vết di truyền trên cấu trúc khuôn mặt mẹ được cậu ghi nhận theo cách mới bằng cái tâm trí tuôn trào như nước chảy của cậu, những manh mối nhập vào nguồn dữ liệu khác, và một câu trả lời-tổng kết cuối cùng nằm ở phía trước.) “Hãy buông con ra,” cậu nói. Nàng nghe thấy sự cứng cỏi trong giọng nói của con, bèn nghe theo. “Con có muốn kể cho mẹ nghe có chuyện gì với con không, Paul?” “Khi huấn luyện con thì mẹ có biết mẹ

đang làm gì không?” cậu hỏi. Không còn chút trẻ con nào trong giọng thằng bé, nàng nghĩ. Nàng nói: “Mẹ hy vọng điều mà bất cứ người mẹ nào cũng hy vọng - rằng con sẽ trở thành... người ưu tú, thật khác biệt.” “Khác biệt?” Nàng nghe thấy sự cay đắng trong giọng con, liền nói: “Paul, mẹ...” “Mẹ không muốn một đứa con trai!” cậu nói. “Mẹ muốn một Kwisatz Haderach! Mẹ muốn một Bene Gesserit nam!”

Nàng giật mình vì sự cay đắng của con. “Nhưng Paul à...” “Mẹ đã bao giờ hỏi ý kiến cha con về việc này chưa?” Nàng nói dịu dàng do nỗi buồn vừa quay trở lại. “Dù con là gì đi chăng nữa, Paul ạ, đặc tính di truyền mà con được thừa hưởng từ cha cũng nhiều như những gì con có được từ mẹ.” “Nhưng sự huấn luyện kia thì không,” cậu nói. “Không phải những cái đã... đánh thức... người đang ngủ.” “Người đang ngủ?”

“Nó nằm ở đây.” Cậu đặt tay lên đầu rồi lên ngực. “Bên trong con. Nó đang tiếp tục trỗi dậy, trỗi dậy, trỗi dậy...” “Paul!” Nàng nghe thấy sự kích động đang mài sắc giọng cậu. “Hãy nghe con,” cậu nói. “Mẹ đã muốn Mẹ Chí tôn nghe về những giấc mơ của con: Bây giờ mẹ hãy lắng nghe trên cương vị bà ấy. Con vừa có một giấc mơ đánh thức. Mẹ biết tại sao không?” “Con phải trấn tĩnh lại,” nàng nói. “Nếu

có...” “Hương dược,” cậu nói. “Nó có trong mọi thứ ở đây - trong không khí, trong đất, trong thức ăn, cái hương dược chống lão hóa. Nó giống như thuốc của Người Nói Sự thật. Nó là chất độc!” Nàng cứng đờ người. Cậu hạ giọng xuống và lặp lại: “Một chất độc - rất tinh vi, rất xảo quyệt... không thể đảo ngược. Thậm chí nó không giết ta trừ phi ta ngừng uống nó. Chúng ta không thể rời Arrakis trừ phi mang theo một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 27

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!