phần của vũ trụ. Nó có sự cân đối, thanh lịch và tao nhã, những phẩm tính mà ta luôn thấy ở những gì người nghệ sĩ đích thực nắm bắt được. Ta có thể tìm thấy nó vào những lúc chuyển mùa, trong dáng vẻ cát trườn dọc theo gờ đá, trong những chùm nhánh của bụi cây creosote hay trong mẫu hình những chiếc lá của nó. Chúng ta cố sao chép những mẫu hình đó trong cuộc sống và xã hội của chúng ta, tìm kiếm những tiết tấu, vũ điệu, những hình thức mang lại niềm thanh thản. Thế nhưng, cũng có thể nhìn thấy
hiểm họa ẩn trong việc đi tìm sự hoàn hảo tối hậu. Rõ ràng mẫu hình tối ưu hàm chứa sự bất biến của nó. Trong sự hoàn hảo như vậy, mọi vật đều tiến về cái chết. - trích từ “Tuyển Dụ ngôn của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Paul Muad’Dib nhớ lại rằng đã có một bữa ăn nồng đượm tinh chất hương dược. Chàng bám lấy ký ức này bởi nó là một mỏ neo và từ vị trí này chàng có thể tự nhủ rằng trải nghiệm vừa rồi của chàng ắt phải là một giấc mơ. Ta là một nhà hát của các vở diễn,
chàng tự nhủ. Ta là con mồi của sự thấu thị bất toàn, của ý thức giống nòi và cái mục đích kinh khủng của nó. Thế nhưng, chàng không thoát khỏi nỗi sợ rằng bằng cách nào đó chàng đã vượt quá chính mình, đã đánh mất vị trí của mình trong thời gian, nên quá khứ, tương lai và hiện tại đã hòa nhập vào nhau không phân biệt được. Đó là một kiểu mỏi mệt về thị giác và, chàng biết, nó bắt nguồn từ sự cần thiết phải liên tục nắm giữ tương lai tiên tri như một loại ký ức mà về thực chất là một cái thuộc về quá khứ. Chani đã sửa soạn bữa ăn cho ta, chàng
tự nhủ. Thế nhưng Chani đang ở mãi phía Nam - ở cái xứ lạnh nơi mặt trời thì nóng - náu mình ở một trong các thành trì sietch mới, an toàn cùng đứa con của hai người, Leto II. Hay đó là điều vẫn chưa xảy ra? Không, chàng tự trấn an mình, bởi AliaKẻ-Xa-Lạ, em gái chàng, đã đến đó cùng mẹ chàng và Chani - một chuyến đi dài hai mươi dùi gọi về phía Nam, ngồi trên chiếc kiệu dành cho Mẹ Chí tôn gắn chặt lên lưng một Ngài tạo chưa thuần.
Chàng gạt sang một bên ý nghĩ về việc cưỡi những con sâu khổng lồ, tự hỏi: Hay Alia vẫn chưa ra đời nhỉ? Khi đó mình đang trong cuộc razzia, Paul nhớ lại. Chúng ta đang đột kích nhằm giành lại nước của những người phe ta đã chết ở Arrakeen. Và ta tìm thấy di hài của cha ta trên giàn hỏa táng. Ta cất giữ sọ cha ta vào một mô đá Fremen nhìn xuống Đèo Harg. Hay chuyện đó chưa xảy ra? Những vết thương của ta là thật, Paul tự nhủ. Những vết sẹo của ta là thật. Ngôi miếu thờ đầu lâu cha ta là thật.
Vẫn trong trạng thái như mơ, Paul nhớ lại rằng Harah, vợ của Jamis, đã có lần xộc vào phòng chàng mà nói đang có một trận đánh nhau trong hành lang của sietch. Đó là sietch trung gian trước khi phụ nữ và trẻ em được cho tiến sâu hơn về phía Nam. Khi đó Harah đứng nơi lối vào buồng trong, những món tóc đen của chị ta cột ra phía sau bằng chuỗi vòng đếm nước. Chị ta vẹt những tấm rèm ngăn cửa buồng sang bên, bảo rằng Chani vừa giết ai đó. Điều này đã xảy ra, Paul tự nhủ. Điều này là thực, không phải sinh ra ngoài dòng thời gian của nó và có thể thay
đổi được. Paul nhớ lại chàng đã hộc tốc lao ra, thấy Chani đang đứng dưới những chiếc đèn cầu hành lang màu vàng, quấn quanh người tấm áo dài xanh rực rỡ, mũ trùm hất ra sau, khuôn mặt nhỏ nhắn của nàng đỏ bừng lên vì gắng sức. Nàng đang tra dao vào vỏ. Một nhóm người lộn xộn đang hối hả khiêng một vật nặng đi về phía cuối hành lang. Và Paul nhớ khi đó chàng tự nhủ: Mỗi khi người ta đang khiêng một cái xác đi, chỉ nhìn là biết. Những vòng đếm nước của Chani - mà
nàng mang công khai trong sietch này trên một sợi dây đeo quanh cổ - kêu lanh canh khi nàng ngoảnh lại phía chàng. “Chani, chuyện gì vậy?” chàng hỏi. “Em loại bỏ một kẻ đến thách anh đấu tay đôi, Usul ạ.” “Em đã giết anh ta?” “Vâng. Nhưng có lẽ em nên nhường hắn lại cho Harah.” (Và Paul nhớ lại khuôn mặt những người đang đứng quanh họ biểu lộ lòng cảm kích khi nghe những lời đó. Ngay cả
Harah cũng bật cười.) “Nhưng anh ta tới thách thức anh mà.” “Chính anh đã dạy em cung cách huyền thuật kia mà, Usul.” “Thì hẳn thế! Nhưng em không nên...” “Em sinh ra trong sa mạc, Usul ạ. Em biết cách dùng dao pha lê.” Chàng nén giận, cố nói ôn tồn. “Có thể đúng vậy, Chani à, nhưng...” “Em không còn là đứa trẻ săn bọ cạp trong sietch dưới ánh sáng đèn cầm tay
nữa, Usul ạ. Em không chơi trò trẻ con nữa.” Paul nhìn nàng trừng trừng, nhận thấy sự tàn bạo kỳ quặc ẩn dưới vẻ tự nhiên như không của nàng. “Hắn không xứng đáng, Usul ạ,” Chani nói. “Em sẽ không quấy rầy những lúc trầm tư mặc tưởng của anh vì những hạng người như vậy đâu.” Nàng lại gần hơn, lén nhìn chàng, hạ giọng xuống để chỉ mình chàng nghe. “Và, anh yêu ạ, khi người ta biết được rằng một kẻ thách đấu có thể sẽ phải đối mặt với em và sẽ bị đẩy đến cái chết ô
nhục bởi tay người đàn bà của Muad’Dib thì số kẻ thách đấu sẽ bớt đi.” Phải, Paul tự nhủ, nhất định điều đó đã xảy ra. Đó là quá khứ-sự thật. Và con số những kẻ thách đấu nhằm kiểm tra lưỡi dao mới của Muad’Dib quả thật đã giảm rất nhiều. Ở đâu đó, trong một thế giới không-phảicủa-giấc-mơ, dường như có gì đó chuyển động, tiếng kêu của một con chim đêm. Mình mơ, Paul tự trấn an mình. Ấy là do bữa ăn bằng hương dược. Thế nhưng, đâu đó trong chàng vẫn có
cảm giác bị bỏ rơi. Chàng tự hỏi liệu có thể nào linh hồn-ruh của chàng bằng cách nào đó đã chuồi vào cái thế giới nơi người Fremen tin rằng hiện hữu đích thực của chàng ở đấy - vào alam almithal, thế giới của những cái tương đồng, cõi siêu hình nơi mọi giới hạn vật lý đều bị triệt tiêu. Và chàng biết nỗi sợ khi nghĩ về một nơi như thế, bởi triệt tiêu mọi giới hạn cũng có nghĩa là triệt tiêu mọi điểm tham chiếu. Trong quang cảnh một huyền thoại chàng không thể xác định được vị trí của chính mình mà nói: “Ta là ta bởi ta ở đây.” Mẹ chàng từng nói: “Người ta vốn bị chia rẽ, một số người, trong cách họ nghĩ
về con.” Mình phải thức tỉnh khỏi giấc mơ, Paul tự bảo mình. Bởi điều này đã xảy ra - những lời đó từ mẹ chàng, Lệnh bà Jessica mà nay là Mẹ Chí tôn của người Fremen, những lời đó đã đi qua thực tại. Paul biết, Jessica sợ mối quan hệ tôn giáo giữa chàng với người Fremen. Bà không ưa cái sự thật rằng người dân cả vùng sietch lẫn graben đều gọi Muad’Dib là Người. Và bà đi dò hỏi khắp các bộ tộc, cử gián điệp Sayyadina của mình đi, thu thập những câu trả lời của họ rồi nghiền ngẫm về chúng.
Bà đã trích dẫn một châm ngôn Bene Gesserit cho chàng: “Khi tôn giáo và chính trị đi trên cùng một cỗ xe, những người ngồi trên xe tin rằng không gì có thể cản đường họ. Chuyển động của họ trở nên nhanh đến điên rồ; nhanh nữa, nhanh nữa, nhanh hơn nữa. Họ dẹp sang bên mọi ý nghĩ về trở ngại mà quên rằng vực thẳm chỉ bày ra trước mắt kẻ đang mù quáng lao vùn vụt khi đã quá muộn.” Paul nhớ lại lúc đó chàng đang ngồi ở nhà mẹ, nơi căn buồng trong che rèm thẫm màu, bề mặt thảm có những bức dệt hoa văn lấy cảm hứng từ huyền thoại Fremen. Chàng ngồi đó, nghe mẹ nói từ đầu tới cuối, lưu ý cách mẹ chàng luôn
luôn quan sát - ngay cả khi mắt bà hạ xuống. Khuôn mặt trái xoan của bà có những nếp nhăn mới nơi khóe miệng, nhưng tóc bà vẫn giống như đồng sáng bóng. Tuy nhiên, đôi mắt to màu xanh lục của bà bị ẩn dưới lớp phủ màu xanh nước biển do hương dược. “Người Fremen có một tôn giáo đơn giản, thực tế,” chàng nói. “Chẳng có gì ở tôn giáo là đơn giản hết,” bà cảnh cáo. Nhưng Paul, nhìn thấy cái tương lai bị che phủ vẫn đang treo lơ lửng bên trên họ, thấy bừng bừng tức giận. Chàng chỉ
có thể nói: “Tôn giáo thống nhất các lực lượng của chúng ta. Nó là bí thuật của chúng ta.” “Con cố ý nuôi dưỡng cái phong thái này, cái vẻ anh hùng đảm lược này,” bà bắt bẻ. “Con chẳng bao giờ thôi tiêm nhiễm giáo điều cho kẻ khác.” “Chính mẹ dạy con như thế mà,” chàng nói. Nhưng hôm đó bà đã quá đủ những cãi cọ và tranh luận. Đó là ngày làm lễ cắt bao quy đầu cho Leto bé. Paul ít nhiều đã hiểu nguyên cớ khiến bà bứt rứt. Bà chưa bao giờ chấp nhận mối quan hệ của
chàng - cuộc “hôn nhân non trẻ” - với Chani. Nhưng Chani đã cho ra đời một đứa con trai của nhà Atreides, và Jessica nhận ra bà không đủ sức khước từ đứa con cùng với mẹ nó. Jessica cuối cùng đã xao động dưới cái nhìn đăm đăm của chàng, bà nói: “Con nghĩ ta là một người mẹ quái dị.” “Dĩ nhiên là không.” “Mẹ thấy cách con nhìn mẹ mỗi khi mẹ ở bên em gái con. Con không hiểu về em gái con.” “Con biết vì sao Alia lại khác biệt,”
chàng nói. “Nó hãy còn chưa sinh ra, vẫn là một