hồi còn ở Sietch Tabr trước khi họ chạy trốn cuộc thảm sát. Tuy nhiên, nơi này có những tấm thảm dày trên sàn, những chiếc gối mềm để ngồi, một chiếc bàn cà phê thấp ngay trong tầm tay, những tấm rèm nhiều màu treo trên tường, trên đầu là những chiếc đèn cầu màu vàng. Căn phòng thấm đẫm mùi lông thú găn gắt đặc thù cho một sietch của người Fremen mà bà đã bắt đầu đồng nhất với cảm giác an toàn. Thế nhưng bà biết mình sẽ không bao giờ
thắng nổi cảm giác đang ở một nơi xa lạ. Ấy chính là sự xù xì thô ráp mà những tấm thảm và tấm rèm kia cố che đi. Một tiếng leng keng-thì thùm-đôm đốp xuyên thấu vào buồng nghỉ. Jessica biết đó là buổi lễ đón đứa bé sắp chào đời, có lẽ là con của Subiay. Gần đến lúc nó ra đời rồi. Và Jessica biết chẳng mấy chốc nữa bà sẽ thấy đứa bé - một thiên thần bụ bẫm mắt xanh mà người ta đưa tới để Mẹ Chí tôn ban phước lành. Bà cũng biết rằng con gái bà, Alia, sẽ có mặt ở buổi lễ rồi về thuật lại với bà. Vẫn chưa đến giờ cầu nguyện buổi tối dành cho cuộc chia ly. Người ta sẽ chỉ
bắt đầu buổi lễ sinh thành vào gần thời điểm tiến hành nghi lễ than khóc những cuộc vây bắt nô lệ ở Poritrin, Bela Tegeuse, Rossak và Harmonthep. Jessica thở dài. Bà biết bà đang cố tự ngăn mình đừng nghĩ đến đứa con trai cùng những mối nguy mà nó đang đối mặt - những cái bẫy sập tua tủa gai tẩm độc dược, những cuộc đột kích của bọn Harkonnen (dù các cuộc đột kích đó ngày càng ít bởi người Fremen ngày càng tiêu diệt nhiều tàu bay và tàu chiến của chúng nhờ có những vũ khí mới Paul trao cho họ), và những hiểm họa tự nhiên của sa mạc - sâu cát, cái khát và những vực cát sâu.
Bà nghĩ đến việc gọi cà phê, và cùng với ý nghĩ đó là cái nhận thức luôn hiện hữu về nghịch lý trong lối sống Fremen: họ sống trong những hang động sietch này dễ chịu biết bao so với dân pyon sống trong các graben; nhưng những gì họ phải chịu đựng trong cảnh lang thang trên sa mạc cũng nhiều hơn bất cứ điều gì đám lê dân của nhà Harkonnen phải chịu. Một bàn tay đen đúa lùa qua đám rèm bên cạnh bà, đặt một chiếc tách lên bàn rồi rút lui. Từ chiếc tách dậy lên mùi cà phê pha hương dược. Một món đồ cúng dâng cho buổi lễ sinh
thành, Jessica nghĩ. Bà cầm tách nhấp từng ngụm, tự mỉm cười với mình. Trong vũ trụ của chúng ta liệu có xã hội nào khác nơi một người ở cương vị ta có thể chấp nhận một thứ đồ uống vô danh rồi nốc cạn mà không hề sợ hãi? Giờ thì ta có thể làm thay đổi bất cứ thứ độc dược nào trước khi nó gây hại cho ta, dĩ nhiên, nhưng người dâng không biết điều này. Bà uống cạn tách, cảm thấy sinh lực và sự lâng lâng chứa trong tách - nóng và ngon. Và bà tự hỏi có xã hội nào khác biết tôn
trọng sự riêng tư và tự do thoải mái của bà một cách tự nhiên đến nỗi người phục vụ chỉ len vào vừa đủ để đặt quà xuống mà không buộc bà phải tiếp kẻ dâng quà. Lòng tôn trọng cùng tình yêu thương đã đưa món quà đến, chỉ nhuốm thêm chút nào đó nỗi e sợ. Một yếu tố khác của sự kiện này khiến bà buộc phải nhận thức ra: bà vừa nghĩ tới cà phê thì nó liền xuất hiện. Ở đây chẳng có gì là thần giao cách cảm cả, bà biết. Đó là tau, tính đồng nhất thể của cộng đồng sietch, một sự đền bù có được nhờ thứ chất độc tinh tế của thực đơn hương dược mà họ cùng sử dụng. Đám đông quần chúng không bao giờ có thể mong
đạt tới sự khải ngộ mà hạt mầm hương dược đem tới cho bà; họ không được huấn luyện, không được chuẩn bị sẵn sàng cho việc đó. Tâm trí họ khước từ những gì họ không thể hiểu hay lĩnh hội. Thế nhưng đôi khi họ vẫn cảm nhận và phản ứng như thể là một sinh vật đơn nhất. Và ý nghĩ về sự trùng hợp ngẫu nhiên không bao giờ nảy ra trong tâm trí họ. Paul đã vượt qua cuộc sát hạch trên cát chưa? Jessica tự hỏi. Nó có khả năng, nhưng tai biến có thể hạ gục ngay cả người có khả năng nhất.
Chờ đợi. Chờ đợi thật u uất ảm đạm, bà nghĩ. Người ta không thể đợi quá lâu. Nếu đợi quá lâu, cái u uất ảm đạm của sự chờ đợi sẽ hạ gục ta. Có đủ cách chờ đợi trong đời họ. Mẹ con ta ở đây đã hơn hai năm, bà nghĩ, và ít nhất còn cần gấp đôi khoảng thời gian đó trước khi ta có thể mong giành lại được Arrakis từ tay thống đốc Harkonnen, Mudir Nahya, Rabban Thú dữ. “Bẩm Mẹ Chí tôn.”
Giọng nói từ ngoài các tấm rèm che cửa phòng bà là giọng Harah, người đàn bà khác trong nhà Paul. “Ta đây, Harah.” Rèm vén lên và Harah như lướt xuyên qua chúng. Chị mang dép xăng đan dùng trong sietch, quấn quanh người chiếc áo choàng màu vàng pha đỏ để lộ hai cánh tay hầu như đến tận vai. Mái tóc đen của chị rẽ ngôi chính giữa, chải lật về phía sau như đôi cánh côn trùng, phẳng lì và bóng loáng ép chặt vào đầu. Những đường nét gồ lên, như của loài ăn thịt, hằn rõ thành một cái cau mày chăm bẳm.
Sau lưng Harah là Alia, một đứa bé-cô gái chừng hai tuổi. Nhìn thấy con gái, lòng Jessica lại bị xâm chiếm bởi cái cảm giác thường gặp trước sự giống nhau giữa Alia với Paul khi thằng bé ở tầm tuổi này: cũng cái vẻ nghiêm trang qua cặp mắt mở to đáp lại cái nhìn dò hỏi của bà, cũng mái tóc sẫm màu và nét miệng kiên quyết. Nhưng cũng có những khác biệt tinh tế, và chính ở những khác biệt đó mà hầu hết người lớn cảm thấy Alia khiến họ bất an. Đứa trẻ này, dù chỉ lớn hơn đôi chút so với đứa bé mới lẫm chẫm tập đi, có một vẻ đĩnh đạc và hiểu biết vượt xa độ tuổi nó.
Người lớn phát hoảng khi thấy nó bật cười trước một trò chơi chữ tinh tế giữa đàn bà với đàn ông. Hoặc họ bất chợt thấy mình đang lắng nghe giọng nói nửa ngọng nghịu của đứa trẻ, cái giọng hãy còn chưa rõ ràng mạch lạc do vòm miệng mềm chưa định hình, và phát hiện trong lời nó nói có những nhận xét ranh mãnh vốn chỉ có thể dựa trên những kinh nghiệm mà không đứa trẻ lên hai nào từng trải được. Harah buông mình xuống một chiếc đệm, thở dài tức tối, cau mày nhìn đứa bé. “Alia,” Jessica ra hiệu cho con gái.
Đứa bé đi về phía chiếc đệm bên cạnh mẹ, ngồi xuống, ôm chặt bàn tay mẹ. Sự động chạm của da thịt làm phục hồi ý thức tương thông từng có giữa hai mẹ con từ trước khi Alia chào đời. Đó không phải chuyện hai bên cùng có chung ý nghĩ - mặc dù cũng có những lúc đột khởi như vậy nếu họ chạm vào nhau trong khi Jessica đang chuyển hóa chất độc hương dược cho một nghi lễ. Đó là một cái gì đó lớn hơn thế, cái nhận thức tức thời về một tia sáng sự sống khác, một thực thể rõ ràng sắc cạnh, một sự tương đồngvề thần kinh khiến họ tuy hai mà như một về cảm xúc. Bằng sự trang trọng thích hợp với một
thành viên trong gia đình con trai, Jessica nói: “Subakh ul kuhar, Harah. Tối nay chị khỏe chứ?” Với sự trang trọng tương tự, chị nói: “Subakh un nar. Tôi khỏe.” Những lời nói gần như thiếu sinh khí. Lại một lần nữa, chị thở dài. Jessica cảm thấy sự thích thú của Alia. “Ghanima của anh con đang phát điên lên với con đấy,” Alia nói bằng giọng nửa ngọng nghịu. Jessica chú ý đến chữ Alia thường dùng để ám chỉ Harah - ghanima. Trong sự
tinh tế của ngôn ngữ Fremen, từ đó có nghĩa là “cái gì đó giành được trong cuộc chiến” và với ngụ ý thêm rằng nó không được sử dụng cho mục đích nguyên thủy nữa. Một món trang trí, một mũi giáo dùng làm vật nặng giữ yên rèm cửa. Harah quắc mắt nhìn đứa trẻ. “Đừng cố lăng mạ ta, bé con. Ta biết vị trí của mình.” “Lần này thì con làm gì hở Alia?” Jessica hỏi. Harah trả lời: “Hôm nay nó chẳng những không chịu chơi với những đứa trẻ khác
mà còn xâm nhập vào nơi...” “Con trốn sau rèm quan sát đứa bé của Subiay đang được sinh ra,” Alia nói. “Nó là con trai. Nó cứ khóc mãi khóc mãi. Bộ phổi mới khỏe làm sao! Khi nó khóc đủ lâu rồi...” “Con bé bước ra chạm vào thằng bé,” Harah nói, “thế là thằng bé nín khóc. Mọi người đều biết, nếu sống trong sietch thì đứa trẻ Fremen nào cũng phải khóc trong ngày sinh, bởi vì nó không bao giờ có thể khóc nữa kẻo rồi nó sẽ làm chúng tôi bị lộ trong hajr.” “Nó khóc đủ rồi,” Alia nói. “Con chỉ
muốn cảm thấy tia sáng của nó, cuộc sống của nó. Chỉ có vậy. Và khi nó cảm thấy con, nó không muốn khóc thêm nữa.” “Chuyện đó chỉ khiến cho mọi người thêm bàn tán,” Harah nói. “Thằng bé con Subiay có khỏe không?” Jessica hỏi. Bà nhận ra có gì đó làm Harah rất lo lắng và bà lấy làm băn khoăn về điều đó. “Khoẻ như bất kỳ người mẹ nào có thể mong chờ,” Harah nói. “Họ biết Alia không làm đứa bé đau. Họ không phiền lòng lắm về việc Alia chạm vào đứa bé.
Ngay lúc đó thằng bé nguôi khóc và trông nó rất vui vẻ. Đó là...” Harah nhún vai. “Đó là sự kỳ lạ của con gái ta, phải thế không?” Jessica hỏi. “Đó là cái kiểu nó nói về những chuyện vượt quá lứa tuổi nó và những chuyện mà một đứa trẻ bằng tuổi nó không thể biết - những chuyện về quá khứ.” “Làm sao nó biết một đứa bé ở Bela Tegeuse trông thế nào?” Harah gặng hỏi. “Nhưng thằng bé giống thật mà!” Alia nói, “con của Subiay trông giống hệt đứa con mà Mitha sinh ra trước cuộc chia
ly.” “Alia!” Jessica nói. “Mẹ đã nhắc con rồi mà.” “Nhưng, thưa mẹ, con nhìn thấy thế, đó là sự thật và...” Jessica lắc đầu, nhận ra những dấu hiệu lo âu trên khuôn mặt Harah. Ta đã sinh ra cái gì thế này? Jessica tự hỏi. Một đứa con gái mà ngay khi ra đời đã biết mọi thứ ta biết... và còn hơn thế nữa: mọi thứ từ những hành lang của quá khứ đã được Mẹ Chí tôn ở trong ta mở ra cho nó.
“Không chỉ những chuyện nó nói,” Harah nói. “Mà còn các động tác nữa: cái kiểu nó ngồi nhìn chằm chằm vào một tảng đá, chỉ cử động một cơ cạnh mũi, hoặc một cơ ở mặt sau một ngón tay, hay...” “Đó là cách huấn luyện Bene Gesserit,” Jessica nói. “Chị biết đấy, Harah. Chị phủ nhận quyền thừa kế của con gái ta sao?” “Bẩm Mẹ Chí tôn, bà biết rằng đối với tôi những chuyện này không quan trọng,” Harah nói. “Ấy là do đám người kia và cái kiểu bọn họ thì thầm với nhau. Tôi cảm thấy mối nguy hiểm trong đó. Họ nói con gái bà là một con quỷ, rằng những
đứa trẻ khác không chịu chơi đùa với nó, rằng nó...” “Nó cũng còn bé như những đứa trẻ khác vậy,” Jessica nói. “Nó không phải con quỷ. Đó chỉ là...” “Tất nhiên nó không phải!” Jessica nhận ra mình ngạc nhiên trước sự sôi nổi trong giọng Harah, liền liếc xuống Alia. Đứa bé dường như chìm đắm trong suy nghĩ, bộc lộ một ý thức... chờ đợi. Jessica chuyển sự chú ý sang Harah. “Ta tôn trọng việc chị là một thành viên
trong gia đình con trai ta,” Jessica nói. (Alia ngọ nguậy sát bên tay bà.) “Dù phiền muộn vì những chuyện gì thì chị cũng đều có thể nói thẳng thắn cho ta nghe.” “Tôi sắp không còn là thành viên trong gia đình con trai bà nữa,” Harah nói. “Tôi đã đợi lâu đến độ này là vì các con tôi, vì sự huấn luyện đặc biệt mà chúng được hưởng do là con của Usul. Tôi chỉ có thể cho chúng ngần đó mà thôi, bởi ai cũng biết tôi không được chung chăn gối với con trai bà.” Alia lại ngọ nguậy bên cạnh Jessica, nửa thức nửa ngủ, người ấm áp.
“Tuy nhiên chị là người bạn đồng hành tốt của con ta,” Jessica nói. Và bà nói thêm với chính mình bởi những ý nghĩ như vậy luôn luôn canh cánh trong bà: Bạn đồng hành... không phải vợ. Rồi những ý nghĩ của Jessica tiến thẳng vào tâm điểm, vào nỗi đau xuất phát từ những lời đồn cửa miệng trong sietch rằng sự gần gụi giữa con bà với Chani đã trở thành một điều thường trực, một mối hôn nhân. Ta yêu Chani, Jessica nghĩ, nhưng bà tự nhắc mình rằng tình yêu phải nhường chỗ cho nhu cầu của hoàng gia. Hôn nhân của hoàng gia có những lý do khác ngoài tình
yêu. “Bà nghĩ tôi không biết bà trù tính những gì cho con trai bà sao?” Harah hỏi. “Ý chị là gì?” Jessica gặng hỏi. “Bà có kế hoạch thống nhất các bộ tộc dưới quyền lãnh đạo của Người,” Harah nói. “Như thế không nên ư?” “Tôi thấy nguy hiểm cho anh ấy... và Alia là một