Xứ Cát

Phần mở đầu thường gặp trong lời

Phần mở đầu thường gặp trong lời

Phần mở đầu thường gặp trong lời nguyền rủa kẻ thù của người Fremen này, Wallah chuyển ngược sự nhấn mạnh vào bản thân hai chữ Mu zein, làm cho cả câu có nghĩa: “Chẳng có gì tốt đẹp, không bao giờ tốt đẹp, chẳng tốt cho bất cứ cái gì.” N NAIB: người đã thề sẽ không bao giờ để cho kẻ thù bắt sống; lời tuyên thệ truyền

thống của một lãnh tụ Fremen. NGÀI TẠO: xem Shai-hulud. NGÀI TẠO BÉ: những vật chủ nửa cây nửa thú của loài sâu cát trên Arrakis, sống sâu dưới cát. Phân của Ngài tạo bé tạo thành khối quặng tiền hương dược. NGÔN NGỮ CHIẾN TRẬN: bất cứ loại ngôn ngữ đặc biệt nào, với vốn từ hạn chế, dành riêng cho việc giao tiếp rõ ràng, dễ hiểu trong chiến tranh. NGƯỜI GÓP SƯƠNG: những công nhân chuyên dùng thiết bị thu sương hình dáng như chiếc hái để “gặt” sương đọng trên

cây cối ở Arrakis. NGƯỜI MÓC: một người Fremen trang bị lưỡi móc bắt Ngài tạo, sẵn sàng bắt sâu cát. NGƯỜI NÓI SỰ THẬT: một Mẹ Chí tôn đủ tư cách để thể nhập vào tình trạng Xuất thần Truy Sự thật và phát hiện sự không thành thật hay giả dối. NGƯỜI XỨ CÁT: tên dùng để gọi những người làm việc ngoài trời trên cát, người săn hương dược và những người tương tự trên Arrakis. Công nhân cát. Công nhân hương dược.

NÓN LẶNG: trường của một bộ phận gây nhiễu có tác dụng hạn chế độ vang xa của giọng nói hay bất cứ vật rung nào khác bằng cách làm giảm độ rung với một chấn động ảnh lệch pha 180 độ. NOUKKER: sĩ quan đội cận vệ của Đế quốc, có quan hệ huyết thống với Hoàng đế. Con trai các tì thiếp của Hoàng đế thường được phong chức này. NỔI DẬY LỚN, (CUỘC): từ thường dùng để gọi cuộc Thánh chiến Butler. NƯỚC CỦA SỰ SỐNG: một chất độc “khai sáng” (Xem Mẹ Chí tôn). Cụ thể là chất lỏng do một con sâu cát (Xem Shai-

hulud) thở ra khi nó chết đuối; chất này được chuyển hóa trong cơ thể một Mẹ Chí tôn để trở thành thuốc mê dùng trong cuộc truy hoan tập thể của người Fremen sống trong sietch. Thuốc mê “quang phổ nhận thức”. O OPAFIRE: một trong những loại ngọc opan hiếm của hành tinh Hagal. OUT-FREYN: theo tiếng Galach có nghĩa là “kẻ ngay bên ngoài ta”; nghĩa là: không thuộc cộng đồng gần gũi nhất của ta, không nằm trong số người được lựa chọn.

ỐNG DẪN NƯỚC: ống bên trong sa phục hay lều sa mạc, có chức năng vận chuyển nước đã tái chế vào túi hứng hoặc từ túi hứng đến người mặc. ỐNG THÔNG HƠI CÁT: thiết bị thở dùng để bơm không khí trên bề mặt vào một lều sa mạc bị cát vùi. P PAN: trên hành tinh Arrakis, từ dùng để gọi một vùng đất thấp hay đất trũng hình thành do sự sụt lún của tầng địa chất bên dưới. (Trên những hành tinh có đủ nước, một vùng pan cho thấy ngày xưa khu vực

đó từng bị nước bao phủ. Người ta tin rằng Arrakis có ít nhất một khu vực như vậy, tuy nhiên điều này vẫn còn gây tranh cãi). PANOPLIA PROPHETICUS: thuật ngữ bao hàm các tín ngưỡng dị đoan mà dòng Bene Gesserit dùng để lợi dụng những khu vực còn sơ khai (Xem Missionaria Protectiva). PHÁN QUAN PHỤ TRÁCH THAY ĐỔI: một chức vụ do Hội đồng Tối cao Landsraad và Hoàng đế bổ nhiệm để giám sát sự thay đổi của một thái ấp, một cuộc đàm phán về kanly, hay một trận đánh hợp pháp trong Chiến tranh Sát thủ.

Quyền phán xử của Phán quan này chỉ có thể bị bãi miễn bởi Hội đồng Tối cao với sự có mặt của Hoàng đế. PHÍCH LỌC: bộ lọc đeo bên trong sa phục để thu giữ hơi ẩm trong hơi thở người. PHIM MINIMIC: làm bằng shigawire với đường kính một micrômet, thường dùng để chuyển thông tin tình báo và phản gián. PHƯƠNG PHÁP BENE GESSERIT: sự lưu ý đến những chi tiết cực nhỏ khi quan sát.

PLENISCENTA: một loài hoa màu xanh độc nhất vô nhị của hành tinh Ecaz, nổi tiếng với mùi thơm ngọt. PORITRIN: hành tinh thứ ba của hệ Epsilon Alangue, được nhiều Phiêu dân Zensunni coi là hành tinh gốc của mình, mặc dù ngôn ngữ và huyền thoại của họ chứa đựng những manh mối cho thấy hành tinh cội nguồn của họ còn cổ xưa hơn nhiều. PORTYGUL: Quả cam. PRANA (hệ cơ-Prana): hệ cơ của thân thể, với hàm ý coi đó là những đơn vị cần thiết cho sự tu tập tối hậu (Xem

Bindu). PYON: các nông dân hoặc công nhân bị gắn chặt vào một hành tinh nhất định; một trong các giai cấp cơ bản theo hệ thống giai cấp Faurefluches. Thuật ngữ pháp lý: “những người được hành tinh bảo trợ”. Q QANAT: một con kênh lộ thiên dẫn nước tưới cây xuyên qua sa mạc, trong những điều kiện được kiểm soát. QIRTAIBA: xem Ibn Qirtaiba.

QUẶNG TIỀN HƯƠNG DƯỢC: giai đoạn tăng trưởng mạnh của khối mầm hương dược, khi nước tràn vào bãi phân của các Ngài tạo bé. Ở giai đoạn này, hương dược Arrakis hình thành một “cú nổ” đặc trưng, trong đó vật chất nằm sâu dưới đất được trao đổi với vật chất trên mặt đất. Chất “quặng” này, sau khi được phơi dưới ánh nắng và không khí, sẽ trở thành melange (Xem thêmMelange và Nước của Sự sống). QUÂN ĐOÀN ĐẾ CHẾ: đơn vị gồm mười lữ đoàn (khoảng 30.000 người). QUIZARA TAFWID: tu sĩ Fremen (theo Muad’Dib).

R RACHAG: loại đồ uống có tính kích thích kiểu như cà phê, làm từ loại quả mọng akarso màu vàng (Xem Akarso). RAMADHAN: thời kỳ ăn chay và cầu nguyện theo tôn giáo cổ; thường là tháng thứ chín theo lịch âm-dương. Người Fremen thì tiến hành nghi thức này vào chu kỳ thứ chín khi mặt trăng thứ nhất lên thiên đỉnh. RAZZIA: một cuộc đột kích nửa cướp bóc của quân du kích.

RECATH: ống chức năng cơ thể nối hệ bài tiết của người với các bộ lọc tái chế của sa phục. RICHESE: hành tinh thứ tư của Eridani A, được xếp hạng Ix bởi nền văn hóa cơ khí đạt mức tối cao. Đáng chú ý bởi nghệ thuật vi tiểu hóa (Muốn tìm hiểu chi tiết về việc Richese và Ix đã thoát khỏi những hậu quả nghiêm trọng hơn của Thánh chiến Butler, xemCuộc Thánh chiến cuối cùng của Sumer và Kautman). S SA CHỦ: người phụ trách tối cao các

hoạt động khai thác hương dược. SA HÀNH GIẢ: bất cứ người Fremen nào đã được huấn luyện để sống sót trên sa mạc. SA PHỤC: bộ quần áo bọc kín người, được phát minh ở Arrakis. Được may bằng chất liệu micro-sandwich có chức năng tản nhiệt và lọc các chất thải của cơ thể. Hơi ẩm do cơ thể thải ra, sau khi tái chế, sẽ được trữ lại trong các túi hứng để uống. SÁCH PHIM: bản in shigawire được dùng trong huấn luyện, mang một xung ghi nhớ.

SADUS: danh hiệu người Fremen dùng để gọi các phán quan linh thiêng, tương đương với các thánh. SALUSA SECUNDUS: hành tinh thứ ba của hệ Gamma Waiping; được chỉ định là Hành tinh Ngục thất của Đế quốc sau khi Tòa án Hoàng gia dời đến Kaitain. Salusa Secundus là quê hương của Gia tộc Corrino và nơi dừng chân thứ hai trên đường di cư của các Phiêu dân Zensunni. Theo truyền thuyết Fremen, họ từng là nô lệ trên S.S. trong suốt chín thế hệ. SAPHO: chất lỏng giàu năng lượng chiết

xuất từ rễ chắn của hành tinh Ecaz. SARDAUKAR: các binh sĩ cuồng tín của Hoàng đế Padishah. Họ xuất thân từ một môi trường tàn bạo đến nỗi cứ mười ba người thì có sáu người chết khi chưa tới tuổi mười một. Khi huấn luyện quân sự cho họ, người ta nhấn mạnh tính tàn nhẫn và việc không đếm xỉa tới an toàn của bản thân đến độ gần như là tự sát. Từ nhỏ họ đã được dạy phải sử dụng sự tàn ác làm vũ khí chuẩn mực, lấy sự khủng bố làm đối phương khiếp nhược. Ở thời kỳ đỉnh cao thống trị của họ với các vấn đề trong vũ trụ, kiếm thuật của họ được cho là ngang với đệ thập đẳng Ginaz, còn khả năng dùng thủ đoạn xảo quyệt khi

tham chiến thì có tiếng là gần như tương đương một bậc thầy Bene Gesserit. Bất cứ ai trong số họ đều tương đương với mười binh sĩ thông thường của quân đội Landsraad. Đến thời Shaddam IV, tuy họ vẫn còn rất đáng sợ, song sức mạnh của họ đã suy yếu bởi sự tự tin quá đáng, và sự thần bí của thứ tôn giáo chiến binh lâu nay vẫn duy trì sức mạnh của họ đã bị xói mòn sâu sắc bởi tính hoài nghi. SARFA: hành vi xa rời Thượng đế. SAYYADINA: tăng lữ nữ giới trong hàng giáo phẩm Fremen. SÂU CÁT: xem Shaid-Hulud.

SCHLAG: loài thú quê ở Tupile, từng bị săn bắt đến gần như tuyệt chủng để lấy bộ da mỏng và chắc của nó. SELAMLIK: phòng yết kiến của Hoàng đế. SEMUTA: chất dẫn xuất gây mê thứ hai (bằng cách chiết xuất tinh thể) từ những gì sót lại sau khi đốt gỗ elacca. Hiệu quả (được mô tả là trạng thái ngây ngất phi thời gian kéo dài) được gây ra bởi những dao động phi điệu thức nhất định gọi là âm nhạc semuta. SERVOK: thiết bị định giờ dùng để thực

hiện những nhiệm vụ đơn giản; một trong những thiết bị “tự động” được phép sử dụng hạn chế từ sau cuộc Thánh chiến Butler. SHADOUT: “người múc giếng”, từ xưng hô tôn kính của người Fremen. SHAH-NAMA: cuốn Đệ Nhất Kỳ Thư có tính bán truyền thuyết của những Phiêu dân Zensunni. SHAID-HULUD: loài Sâu cát ở Arrakis; “Ông già vùng Sa mạc”, “Lão phụ Vĩnh hằng”, “Lão ông Sa mạc.” Cái tên này, khi được nhắc đến bằng một giọng điệu nhất định hoặc viết bằng chữ hoa, ám chỉ

vị thần đất trong tín ngưỡng về bếp lửa của người Fremen. Sâu cát trưởng thành có thể đạt kích thước cực lớn (người ta đã gặp những cá thể dài tới trên 400m ở sâu trong sa mạc) và sống rất lâu nếu không bị đồng loại giết hoặc chết đuối, bởi nước là chất độc đối với chúng. Người ta cho rằng hầu hết cát trên Arrakis được hình thành từ các hoạt động của loài sâu cát. (Xem Ngài tạo bé). SHAITAN: Xa Tăng. SHARI-A: một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 80

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!