hồi lâu. “Các anh xóa hết chứng cứ rồi chứ?” Coomer hỏi, “Ở hiện trường ấy?” Tôi gật đầu. “Chúng tôi thu hồi đồ đạc của ông ta rồi”. “Tốt”. “Tôi cần bản chương trình của hội nghị tại trại Irwin”, tôi nói tiếp. Thêm một thoáng im lặng nữa. “Làm gì có”, Vassell đáp. “Chắc chắn phải có”, tôi nói. “Đây là quân đội. Đâu phải Hiệp hội Diễn viên. Ta đâu tự dưng mở lớp dạy ứng biến miễn phí”. Một thoáng im lặng. “Không có gì trên giấy tờ cả”, Coomer nói. “Tôi bảo cậu rồi, Thiếu tá ạ, không quan trọng đâu”. “Hôm nay các ông làm gì?” “Truy theo tin đồn về tướng Kramer”. “Các ông từ Thủ đô xuống đây bằng cách nào?” “Bọn tôi mượn xe và tài xế của Lầu Năm Góc”. “Hai ông trả phòng khách sạn Jefferson rồi à?”
“Đúng vậy”. “Vậy đồ đạc hai ông đang cất trên chiếc xe của Lầu Năm Góc phải không?” “Đúng vậy”. “Chiếc xe này đang ở đâu?” “Đang đợi ngoài trụ sở chỉ huy trại của anh đó”. “Không phải trụ sở chỉ huy trại của tôi”, tôi đáp”. Tôi chỉ công tác tạm thời tại nơi này mà thôi”. Tôi quay sang bảo Summer đi lấy đồ đạc của họ từ chiếc xe vào đây. Hai người kia nhảy chồm lên phản đối, nhưng họ biết rõ chẳng cách nào ngăn tôi được. Những khái niệm của dân thường về việc khám xét tịch thu vô lý và trát lệnh với lý do chính đáng đều không còn được áp dụng sau cánh cửa doanh trại quân đội. Tôi quan sát ánh mắt của họ khi Summer đi khỏi. Dù có khó chịu, nhưng không ai có vẻ lo lắng gì. Vậy có nghĩa hoặc bọn họ đã nói thật về hội nghị tại trại Irwin hoặc họ đã thủ tiêu các loại giấy tờ liên quan rồi. Nhưng tôi vẫn diễn tới cùng. Summer trở lại với hai chiếc cặp táp giống nhau như đúc. Y hệt chiếc cặp thấy trong mấy tấm ảnh lồng khung bạc của gã Kramer. Đúng là mấy lão dưới quyền nịnh bợ cấp trên bằng đủ mọi cách. Tôi lục soát hai chiếc cặp ngay trên bàn làm việc. Trong cả hai đều có hộ chiếu, vé máy bay, giấy đi đường, và lịch trình. Nhưng không có giấy tờ nào về trại Irwin. “Thứ lỗi vì đã làm phiền hai vị”, tôi nói. “Vừa lòng chưa hả nhóc con?” Vassell hỏi. “Vợ Kramer cũng chết rồi, tôi nói tiếp. “Hai ông có biết chuyện này không?” Tôi quan sát họ thật chăm chú, và thấy rõ rằng họ hoàn toàn không biết. Hai người họ trân trân hết nhìn tôi lại quay sang nhìn nhau, sắc mặt tái dần đi, bàng hoàng.
“Chết thế nào?” Vassell hỏi. “Chết khi nào?” Coomer hỏi. “Đêm qua”, tôi đáp. “Bà ấy bị sát hại”. “Ở đâu?” “Chết tại nhà. Có kẻ đã đột nhập vào”. “Ta có biết thủ phạm là ai không?” “Không, ta không biết. Đó không phải vụ của ta. Quyền hạn thuộc sở dân sự khu vực”. “Sự thể ra làm sao? Do đột nhập cướp của à?” “Có thể ban đầu là vậy”. Bọn họ không nói gì thêm. Summer và tôi hộ tống bọn họ ra đến vỉa hè phía trước trụ sở chỉ huy trại và nhìn họ trèo lên chiếc xe của Lầu Năm Góc. Một chiếc Grand Marquis hiệu Mercury, mẫu năm mới hơn chiếc của vợ Kramer, và màu đen thay vì màu xanh giống xe kia. Tay tài xế khá cao to trong bộ đồ dã chiến. Hắn đeo phù hiệu cấp bậc tối màu và vì trời tối nên tôi không nhìn rõ tên cũng như cấp bậc của hắn. Nhưng rõ ràng hắn trông khác kiểu lính đăng ký nhập ngũ. Tay đó trở đầu xe đánh một vòng khá mượt trên con đường vắng tanh rồi đưa Vassell và Coomer đi luôn. Bọn tôi trông theo ánh đèn đuôi xe biến mất về hướng Bắc, qua cổng chính doanh trại, và tiến vào bóng tối mịt mù. “Sếp nghĩ sao ạ?” Summer hỏi. “Tôi nghĩ cả hai lão già ấy đều ruồi bu cả”, tôi đáp. “Ruồi bu cấp cao hay ruồi bu cấp thấp?” “Bọn họ nói láo”, tôi nói. “Cả hai đều bồn chồn, họ nói láo, và ngu si đến khó tin. Vì sao tôi phải bận tâm đến chiếc cặp táp của gã Kramer nào?”
“Vì thứ giấy tờ quan trọng nào đó”, cô đáp. “Tất tần tật những gì Kramer mang theo đến California”. Tôi gật đầu. “Hai lão già kia vừa xác nhận giùm tôi chuyện đó. Gã Kramer đã mang theo bản chương trình của hội nghị đó trong cặp”. “Sếp chắc chắn là nó có tồn tại?” “Lúc nào cũng phải có chương trình nghị sự. Nó luôn được viết thành văn bản. Cái gì cũng phải có chương trình nghị sự. Cô muốn thay đổi thực đơn của nhóm chó nghiệp vụK-9, thì ít nhất cũng phải có bốn mươi bảy cuộc họp khác nhau với bốn mươi bảy chương trình nghị sự riêng. Vậy nên chắc chắn phải có một bản cho hội nghị ở trại Irwin kia. Phải ngu si lắm mới chối rằng không có. Nếu muốn giấu tôi, thà hai lão ấy cứ nói rằng đó là thông tin mật tôi không được phép xem”. “Có khi hội nghị ấy không quan trọng thật”. “Ruồi bu nốt. Cực kỳ quan trọng là khác”. “Vì sao?” “Bởi vì có một tướng hai sao tới dự chứ sao. Cả một tướng một sao nữa. Và vì Giao thừa nữa, Summer ạ. Có ai nhè đúng ngày ấy mà lên đường rồi còn qua đêm ở một quán trọ cà tàng chứ? Và năm nay tình hình ở Đức khá nóng đấy. Bức tường Berlin sắp đổ rồi. Phe ta đã thắng, sau bốn mươi lăm năm. Hẳn bên đó phải ăn mừng to lắm. Có gì bỏ lỡ dịp vui lớn như vậy để dự một cuộc họp không quan trọng? Để lôi được ba lão già kia lên máy bay trong đêm Giao thừa, thì vụ Irwin này chắc chắn nặng ký”. “Trông bọn họ có vẻ bàng hoàng về bà Kramer. Bàng hoàng hơn chuyện xảy ra với chính Kramer nữa”. Tôi gật đầu. “Chắc họ thích bà ta hơn”. “Ắt cũng thích cả Kramer chứ”. “Không, gã chỉ là một vấn đề chiến lược đối với bọn họ. Ở cấp bậc trên đó,
sự thương cảm không có chỗ tồn tại. Hai lão ấy từng bám dính lấy gã, và giờ gã chết rồi thì bọn họ đang lo cho tương lai của mình”. “Chắc đang chuẩn bị để được thăng chức”. “Có thể lắm”, tôi đáp. “Nhưng nếu chuyện Kramer lộ ra thành một vụ bê bối lớn, thì có thể bọn họ cũng đổ theo gã”. “Vậy hai người đó nên được trấn an. Sếp đã hứa sẽ che đậy vụ việc”. Giọng cô có vẻ gì đó nghiêm nghị. Như thể cô muốn ám chỉ rằng đáng lẽ tôi không nên hứa hẹn như vậy với hai người kia. “Chúng ta bảo vệ quân đội, Summer ạ”, tôi đáp. “Như bảo vệ chính gia đình mình vậy. Đó là phận sự của chúng ta”. Rồi tôi ngưng lại. “Nhưng cô có để ý thấy hai người kia không hề ngậm lời sau đó không? Đáng lẽ nói thế là phải hiểu ý nhau rồi chứ. Họ yêu cầu che đậy, tôi đồng ý che đậy. Truy hỏi rồi trả lời, xong nhiệm vụ”. “Bọn họ muốn biết đồ đạc của ông ta ở đâu”. “Phải”, tôi đáp. “Đúng vậy. Mà cô biết điều đó nghĩa là gì không? Có nghĩa là chính bọn họ cũng đang truy tìm chiếc cặp táp của Kramer. Vì chính bản chương trình nghị sự kia. Bản của Kramer là bản sao duy nhất ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của bọn họ. Bọn họ xuống đây để kiểm tra xem tôi có nó không”. Summer nhìn theo hướng chiếc xe nọ. Tôi vẫn ngửi thấy mùi khói xe vương lại. Mùi hăng acid từ khí thải xe. “Đội y tế bên dân sự thường làm việc ra sao nhỉ?” tôi hỏi cô. “Thí dụ cô là vợ tôi, rồi tự dưng thấy tôi lăn ra đau tim? Cô xử lý thế nào?” “Tôi gọi tổng đài 911”. “Sau đó thì sao?” “Xe cứu thương tới. Rồi đưa sếp tới phòng cấp cứu”.
“Thí dụ tôi chết trên đường cấp cứu. Cô sẽ ở đâu?” “Lúc đó tôi phải theo xe cứu thương đưa sếp đến bệnh viện chứ”. “Thế cặp táp của tôi sẽ ở đâu?” “Ở nhà”, cô đáp. “Chỗ sếp cất nó thôi”. Rồi cô chợt khựng lại. “Sao cơ? Sếp nghĩ đêm qua có người đột nhập vào nhà Kramer để tìm chiếc cặp táp à?” “Một tình huống khả thi”, tôi đáp. “Ai đó được tin gã vừa chết vì đau tim, cho rằng gã chết trong xe cứu thương hoặc phòng cấp cứu, cho rằng nếu trước đó gã đang ở với ai thì người đó cũng đi theo gã tới bệnh viện, thế là tưởng nhà kia vắng người mà mò tới để tìm chiếc cặp”. “Nhưng Kramer vốn có ở đó từ trước đâu?” “Vào lúc ấy thì đột nhập nhà gã là phương án thiết thực nhất”. “Sếp đoán là Vassell và Coomer à?” Tôi không nói gì. “Hoang đường quá”, Summer nói. “Bọn họ trông đâu có giống dạng đó chứ”. “Đừng để vẻ ngoài đánh lừa. Họ bên Thiết giáp đấy. Những kẻ dành cả đời đè bẹp bất kỳ thứ gì ngáng đường mình. Nhưng tôi nghĩ thời gian là bằng chứng ngoại phạm của họ. Giả sử đại tá Garber điện thoại cho Quân đoàn XII tại Đức lúc mười giờ hai mười lăm là sớm nhất đi. Rồi giả sử Quân đoàn XII điện cho khách sạn ở Mỹ đây lúc mười hai giờ rưỡi là sớm nhất. Green Valley cách Thủ đô bảy mươi phút đi lại và bà Kramer chết vào khoảng hai giờ. Nghĩa là bọn họ chỉ có tối đa hai mươi phút để phản ứng. Cả hai lại vừa đáp xuống sân bay, nên không có sẵn xe, mà muốn thuê thì phải mất thêm thời gian. Và đương nhiên họ cũng không có thanh xà beng nào. Không ai lên máy bay vác theo xà beng trong hành lý để phòng hờ bao giờ. Mà tôi đoán nếu họ muốn mua một thanh thì cũng chẳng cửa hàng nào mở cửa lúc nửa đêm Giao thừa đâu”. “Vậy nghĩa là có ai khác cũng đang truy tìm chiếc cặp táp?”
“Ta phải tìm được bản chương trình đó”, tôi nói. “Ta phải kiếm ra nó ngay”. * * * Tôi cử Summer đi làm ba việc sau: đầu tiên, liệt kê toàn bộ số quân nhân được cấp xe Humvee riêng tại trại Bird này, thứ hai, liệt kê bất cứ ai trong số đó có thể đã từng gặp Kramer tại trại Irwin ở bang California, thứ ba, liên lạc ngay với khách sạn Jefferson tại Thủ đô để xác nhận chính xác giờ nhận và trả phòng của Vassell và Coomer, cùng lịch sử các cuộc gọi đến và đi của bọn họ. Tôi trở lại văn phòng để cất mẩu giấy ghi lời nhắn của Garber và sau đó gọi tới số điện thoại trên mẩu giấy của anh tôi. Anh nhấc máy ngay khi chuông vừa đổ. “Chào Joe”, tôi nói. “Jack hả?” “Có gì không anh?” “Anh nhận được tin báo”. “Từ ai thế?” “Từ bác sĩ đang chăm cho mẹ”, anh đáp. “Có việc gì sao?” “Mẹ sắp mất rồi”.
NĂM Tôi cúp máy và điện ngay cho văn phòng Garber. Ông ta không có ở đó. Nên tôi nhờ họ thông báo giùm với ông ta về chuyến đi khẩn của tôi và nhắn rằng tôi sẽ vắng mặt trong vòng bảy mươi hai giờ. Tôi không nêu nguyên nhân. Tôi cúp máy rồi ngồi xuống bàn làm việc, đờ ra. Năm phút sau Summer vào phòng. Trên tay cô là một xấp giấy tờ từ bãi đậu xe. Tôi đoán cô toan kiểm tra chúng ngay lúc đó, trước mặt tôi. “Tôi phải đi Paris gấp”, tôi lên tiếng. “Paris ở bang Texas hả sếp?” Cô hỏi. “Hay Paris bang Kentucky, hay Paris bang Tennessee?" “Paris ở Pháp ấy”, tôi đáp. "Vì sao thế?” “Mẹ tôi ốm”. “Mẹ sếp sống ở Pháp sao?” “Ở Paris”, tôi nói. “Vì sao vậy?” “Vì bà là người Pháp”. “Sao thế ạ?” “Sao bà lại là người Pháp á?” “Không, ý là bệnh của bà ra sao?”
Tôi nhún vai. “Tôi thật tình không biết nữa. Nhưng chắc nghiêm trọng”. “Tôi rất tiếc”. “Tôi cần một chiếc xe”, tôi nói. “Tôi cần phải đến sân bay Dulles, ngay bây giờ”. “Để tôi lái cho”, cô đáp. “Tôi thích lái xe mà”. Cô đặt mớ giấy tờ lên bàn làm việc của tôi và đi lấy chiếc Chevrolet bọn tôi đã đi. Tôi về phòng riêng mở tủ gói ghém mỗi thứ một món vào ba lô quân dụng. Rồi tôi khoác áo măng tô dài. Trời ở đây lạnh, nên tôi nghĩ châu Âu cũng sẽ không ấm hơn chút nào. Nhất là khoảng đầu tháng Giêng này. Summer đánh xe lên trước cửa phòng tôi. Cô giữ tốc độ chừng ba mươi dặm một giờ cho đến khi rời khỏi doanh trại. Sau đó cô đạp lút ga khiến chiếc xe bay như tên lửa về phía Bắc. Mi mắt cô hấp háy liên hồi. “Ta nên báo sở dân sự Green Valley”, cô lên tiếng. “Nếu ta cho rằng bà Kramer bị giết vì chiếc cặp táp kia”. Tôi lắc đầu. “Có bảo thì bà ta cũng chết rồi. Và nếu bà ta thực sự bị giết vì chiếc cặp táp đó thì ta sẽ phải truy tìm hung thủ từ phía mình”. “Sếp muốn tôi làm gì khi sếp đi vắng?” “Kiểm tra bản danh sách kia đi”, tôi đáp. “Kiểm tra nhật ký ra vào cổng. Tìm người phụ nữ bí ẩn kia, tìm chiếc cặp táp, giấu bản chương trình nghị sự ở một nơi an toàn. Rồi tra xem Vassell và Coomer đã gọi điện cho ai tại khách sạn kia. Có thể bọn họ đã cử một người khác ra tay trong đêm ấy”. “Sếp nghĩ việc ấy có thể xảy ra lắm à?” “Ở đời có gì mà không thể xảy ra”. “Nhưng làm sao họ biết Kramer ở đâu chứ?” “Vậy nên bọn họ mới tới nhầm nơi”.
“Họ đã cử ai mới được?” “Chắc hẳn phải là một người quan tâm tới lợi ích của hai lão già kia”. “OK”, cô đáp. “Và nhớ tìm hiểu về tay tài xế ban nãy của hai người đó”. “OK”, cô đáp. Chúng tôi không chuyện trò gì thêm suốt chặng đường tới sân bay Dulles. * * * Tôi gặp Joe ở quầy mua vé máy bay của hãng hàng không Air France. Anh đã đặt sẵn chuyến bay sáng đầu tiên cho cả hai. Giờ anh đang xếp hàng để thanh toán. Đã ba năm tôi chưa gặp anh. Lần cuối chúng tôi gặp nhau là tại đám tang của bố. Từ khi ấy bọn tôi mỗi người mỗi ngả. “Chào buổi sáng, em trai”, anh lên tiếng. Anh mặc complê thắt cà vạt và khoác thêm áo ngoài, trông rất bảnh. Anh lớn hơn tôi hai tuổi, vẫn và sẽ luôn là như vậy. Hồi bé tôi hay quan sát anh và thầm nghĩ, lớn lên mình sẽ trông giống như anh. Và giờ tôi phát hiện mình đang làm điều đó lần nữa. Từ xa có khi người ta nhìn nhầm hai chúng tôi với nhau. Khi đứng cạnh nhau thì dễ thấy anh cao hơn tôi hai phân rưỡi và gầy hơn một chút. Nhưng dễ thấy nhất là anh trông già hơn tôi một chút. Trông như thể cả hai chúng tôi vào đời cùng một lúc, nhưng anh nhìn thấy tương lai trước tôi, vì vậy trông anh mới già dặn, và khắc khổ. “Anh khỏe không Joe?” tôi hỏi. “Không có gì phải phàn nàn”. “Bận rộn lắm hả?” “Chú không tưởng tượng nổi đâu”.
Tôi gật đầu và không nói gì thêm. Sự thật là, chính tôi cũng không rõ anh trai mình kiếm sống bằng nghề gì. Có khi anh đã kể tôi nghe vào dịp nào đó rồi. Cũng chẳng phải bí mật quốc gia gì cho cam. Hình như có liên quan thế nào đó đến Bộ Tài chính. Có khi anh đã kể tôi nghe tường tận và có khi tôi đã bỏ ngoài tai hết. Dù sao bây giờ hỏi lại có lẽ cũng quá muộn rồi. “Chú đã ở Panama”, anh nói. “Tham gia chiến dịch Chính nghĩa, phải không?” “Chiến dịch Cao hứng thì đúng hơn”, tôi đáp. “Bọn em gọi nó vậy đó”. “Là sao?” “Hứng lên thì đánh. Hứng lên thì kiếm chuyện để làm. Ông Tổng tư lệnh mới nhậm chức hứng lên muốn thị uy”. “Rồi tình hình thế nào?” “Ta với họ như xe đè châu chấu thôi. Tình hình rõ ràng rồi còn gì?” “Các chú bắt được Noriega chưa?” “Chưa”. “Thế sao họ lại chuyển chú về đây?” “Phe ta có hai mươi bảy nghìn người”, tôi đáp. “Vắng một mình em thì cũng chẳng khác mấy đâu”. Anh thoáng cười rồi lại hơi nheo nheo mắt như tôi nhớ ngày xưa. Có nghĩa là trong đầu anh đang cố giải nghĩa dòng suy luận rối rắm phức tạp nào đó. Nhưng trước khi anh kịp nói thì đã đến lượt bọn tôi ở quầy thanh toán. Anh lấy thẻ tín dụng và trả tiền vé máy bay. Có thể anh muốn tôi trả lại anh tiền vé của mình, hoặc cũng có thể là không. Dù thế nào anh cũng không thể hiện rõ ra. “Đi uống cà phê đi”, anh nói.
Joe có lẽ là người duy nhất trên thế giới này có thể sánh ngang tôi về khoản nghiện cà phê. Anh bắt đầu uống từ khi lên sáu tuổi. Tôi bắt chước anh ngay lập tức. Lúc ấy tôi mới bốn tuổi. Và đến tận bây giờ cả hai vẫn chưa ngán thứ ấy. Đám nghiện ma túy cũng chẳng bằng anh em nhà Reacher nghiện cà phê. Chúng tôi tìm thấy một tiệm với quầy thu ngân hình chữ W kéo dài từ đầu này đến đầu kia. Trong tiệm chỉ một phần tư ghế có khách. Tiệm thắp đèn tuýp sáng rực còn mặt ghế dính nhơm nhớp. Chúng tôi ngồi cạnh nhau và cả hai cùng đặt tay lên quầy theo kiểu đặc trưng của hành khách đi chuyến bay sáng sớm khắp nơi trên thế giới. Một tay quấn tạp dề đặt hai cái cốc xuống trước mặt chúng tôi mà không cần hỏi một câu. Rồi anh ta rót cà phê từ cái bình nhôm trên tay. Cà phê có mùi thơm mới pha. Tiệm đang chuyển từ phục vụ các món ăn đêm sang thực đơn sáng. Tôi nghe thấy tiếng trứng đang chiên trong chảo. “Ở Panama có chuyện gì vậy?” Joe hỏi. “Với em á?” tôi đáp. “Có gì đâu”. “Nhiệm vụ của chú ở đó là gì?” “Giám sát”. “Giám sát việc gì?” “Giám sát quy trình”, tôi đáp. “Họ muốn vụ Noriega kia phải có vẻ đúng luật. Họ muốn xử hắn ở tòa án Mỹ. Nên bọn em phải bắt hắn sao cho đúng quy trình. Cách nào đó để khi ra tòa không ai phản đối được ấy”. “Thế chú tính đọc cho hắn nghe quyền Miranda à?” “Không hẳn vậy. Nhưng cách nào không phải đọ súng là được”. “Vậy chú làm hỏng chuyện à?” “Em không nghĩ thế”. “Ai tiếp quản sau chú vậy?”
“Thằng nào đó ấy mà”. “Cấp bậc ra làm sao?” “Ngang em luôn”, tôi đáp. “Một tay đang lên à?” Tôi nhấp cà phê. Rồi lắc đầu. “Em chưa gặp thằng cha ấy bao giờ. Nhưng em đoán hắn là đồ khốn”. Joe gật đầu rồi nâng cốc của mình lên. Anh không nói gì. “Sao thế?” tôi hỏi. “Trại Bird không nhỏ”, anh nói tiếp. “Nhưng cũng đâu có to lắm, nhỉ? Giờ chú đang theo vụ gì?” “Ngay bây giờ á? Một gã hai sao lăn ra chết mà em không tìm được cặp táp của gã”. “Bị giết à?” Tôi lắc đầu. “Trụy tim”. “Lúc nào thế?” “Đêm qua”. “Sau khi chú chuyển đến à?” Tôi không nói gì. “Chú có chắc mình không làm hỏng việc không đấy?” Joe hỏi. “Em không nghĩ thế”, tôi nhắc lại. “Thế sao tự dưng họ chuyển chú ra khỏi Panama? Chú đang giám sát vụ Noriega, đùng một cái chú về Bắc Carolina ngồi không? Nếu gã tướng kia
không chết thì chắc giờ chú vẫn ngồi không”. “Em nhận được lệnh”, tôi đáp. “Anh biết thế nào rồi còn gì. Mình đành coi như cấp trên có tính toán riêng của họ thôi”. “Ai duyệt lệnh cho chú?” “Em không biết”. “Chú nên tìm hiểu. Tìm hiểu xem ai cần chú đến trại Bird đến mức phải lôi chú ra khỏi Panama rồi để một thằng khốn nào đó tiếp quản. Và chú cần tìm hiểu nguyên nhân vì sao”. Tay đeo tạp dề trở lại chế thêm cà phê vào cốc. Rồi đẩy tấm thực đơn ép nhựa tới trước mặt chúng tôi. “Cho hai trứng”, Joe nói. “Chín kỹ, thêm thịt lợn muối, với bánh mì nướng”. “Cho phần bánh kếp”, tôi nói. “Thêm trứng, thêm thịt lợn muối, thật nhiều xi rô”. Tay kia đem thực đơn trở vào trong còn Joe xoay ghế ra ngoài để lưng tựa vào quầy rồi duỗi chân ra phía lối đi. “Chính xác thì bác sĩ chăm mẹ nhắn gì?” tôi hỏi anh. Anh nhún vai. “Cũng chẳng gì nhiều. Không nói chi tiết, cũng chẳng tiết lộ chẩn đoán nào. Bác sĩ châu Âu dở báo tin xấu lắm. Toàn úp úp mở mở. Với lại còn vấn đề bảo mật nữa, dĩ nhiên”. “Nhưng ta có lý do phải đến đó?” Anh gật đầu. “Bác sĩ khuyên ta nên đi. Rồi còn úp mở rằng thà sớm còn hơn muộn”. “Thế mẹ nói gì?” “Mẹ bảo sao phải chộn rộn vì việc không đâu. Nhưng hai anh em đến thì mẹ
mừng”. * * * Chúng tôi ăn xong bữa sáng và lần này tôi thanh toán. Trả xong thì anh Joe đưa tôi vé máy bay, như một cuộc giao dịch vậy. Tôi tin hầu bao của anh lớn hơn tôi, nhưng chắc chẳng lớn đến mức có thể coi một