1 Kẻ Thù

chương

chương

chương vậy. “Người dùng dao thuận tay phải”, viên khám nghiệm nói. “Còn thanh sắt?” “Cũng vậy”. “OK”, tôi bảo. “Thứ dịch kia là sữa chua”, anh ta nói. “Vị dâu hay mâm xôi?” “Tôi có nếm thử đâu”. Bên cạnh mấy lọ thủy tinh là bốn tấm ảnh polaroid. Chúng đều là ảnh chụp cận cảnh các vết thương trí mạng. Tấm đầu tiên như lúc phát hiện xác chết. Tóc nạn nhân khá dài và bẩn và bết máu nên tôi không nhìn ra được chi tiết. Tấm thứ hai chụp sau khi đã chùi rửa hết máu và đất bẩn. Tấm thứ ba chụp sau khi dùng kéo cắt bớt mớ tóc. Tấm thứ tư thì khi tóc tai đã gọt sạch, bằng dao cạo. “Nếu hung thủ dùng xà beng thì sao?” tôi hỏi. “Có thể” chuyên viên khám nghiệm đáp. “Chắc là tốt hơn tuýp sắt. Dù gì tôi cũng đúc mẫu thạch cao vết đánh rồi. Anh đem hung khí đến đây, tôi sẽ cho biết có phải hay không”. Tôi bước tới để nhìn kỹ hơn. Tử thi sạch sẽ. Da có màu xám trắng điểm chút hồng. Từ người tỏa ra hương xà phòng, cũng như mùi máu và các mùi cơ thể khác. Phía hạ bộ be bét cả. Như ở lò mổ vậy. Vết dao cắt trên hai tay và hai vai rất sâu và rõ. Tôi thấy cả cơ và xương bên dưới. Mép vết cắt có màu xanh và lạnh. Lưỡi dao cắt xuyên qua lớp hình xăm ở bắp tay trái nạn nhân. Hình một con đại bàng cắp dải băng ghi chữ Mẹ. Nhìn chung, cái xác không đẹp đẽ gì. Nhưng vẫn đỡ kinh khủng hơn tôi đã tưởng tượng. “Tôi tưởng còn nhiều vết bầm và sưng hơn nữa mà”, tôi bảo. Chuyên viên khám nghiệm liếc mắt nhìn tôi. “Tôi bảo anh rồi”, anh ta nói. “Những trò kinh dị được gây ra sau khi nạn nhân đã chết. Tim hết đập, không còn huyết áp, máu không lưu thông, nên làm gì có vết sưng hay bầm giập nào. Máu rỉ cũng ít. Do trọng lực mà thôi. Nếu nạn nhân còn sống khi hung thủ băm người anh ta, hẳn máu đã tung tóe như suối”.

Chuyên viên khám nghiệm quay trở lại bàn mổ và kết thúc việc xét não tử thi rồi úp chóp sọ vào chỗ cũ. Anh ta gõ hai lần lên đó cho nó dính chắc lại rồi dùng miếng mút xốp lau qua vết cắt đang rỉ nước. Rồi anh ta lật da mặt nạn nhân về lại chỗ cũ. Vừa xê dịch vừa chỉnh lại vùng da ấy bằng ngón tay, rồi khi anh ta nhấc tay lên tôi chợt nhận ra gương mặt của tay trung sĩ Lực lượng Đặc nhiệm mà mình đã trò chuyện tại quán bar thoát y, đang giương mắt vô hồn nhìn ánh đèn sáng rọi bên trên. * * * Tôi lái chiếc Humvee qua trường huấn luyện tác chiến tâm lý của Andrea Norton tới trụ sở Lực lượng Delta. Khu này tương đối độc lập từ thời còn là trại giam, trước khi quân đội gom hết bọn vô lại trong ấy tới trại Leavenworth tại Kansas. Hàng dây thép gai cũ kỹ cùng bốn thành tường xưa vẫn hợp với mục đích sử dụng hiện tại. Bên cạnh còn có cả một nhà chứa máy bay khổng lồ từ thời Thế chiến thứ hai. Có vẻ như nó bị lôi ra từ một căn cứ cổ xưa nào đó và được lắp ráp lại để cất quân nhu xe cộ cùng những chiếc Humvee bọc thép và có khi là vài chiếc trực thăng phản ứng nhanh nữa. Viên gác cổng trong cho tôi vào và tôi tới thẳng văn phòng sĩ quan phụ tá. Dù mới bảy giờ rưỡi sáng, nhưng nơi này đã xôn xao náo động, điều này khiến tôi để ý. Viên phụ tá ngồi ở bàn làm việc. Anh ta là đại úy. Trong thế giới lộn ngược của Lực lượng Delta thì trung sĩ cấp dưới mới là những ngôi sao đích thực, còn các sĩ quan chỉ ở nhà làm giấy tờ mà thôi. “Bên anh có ai mất tích không?” tôi hỏi. Anh ta quay mặt đi, khiến tôi càng để ý hơn. “Tôi đoán là anh biết rồi”, anh ta đáp. “Chứ khi không anh đến đây làm gì?” "Anh cho tôi cái tên được không?” “Tên à? Tôi tưởng anh đã bắt anh ấy vì tội nào đó”. “Đây không phải việc bắt bớ”, tôi bảo. “Vậy chứ việc gì?” “Tay này hay bị bắt lắm à?” “Không. Anh ấy là một quân nhân gương mẫu”. “Tên anh ta là gì?” Tay đại úy không trả lời. Mà chỉ cúi xuống mở ngăn kéo lấy ra một tập hồ sơ. Rồi đưa cho tôi. Như tất cả lý lịch của bên đội Delta mà tôi từng đọc, tập hồ sơ ấy được chiết lọc từng chi tiết để tiện khoe người ngoài.

Bên trong chỉ có hai trang giấy. Từ đầu tiên ghi tên, cấp bậc, số thứ tự và một khung tóm tắt thành tích của một gã có tên Christopher Carbone. Anh ta chưa kết hôn và là quân nhân đã mười sáu năm. Anh ta dành bốn năm trong một sư đoàn bộ binh, bốn năm trong một sư đoàn dù, bốn năm tiếp trong một đại đội biệt động, và bốn năm cuối trong Lực lượng Đặc nhiệm chi đội D. Anh ta hơn tôi năm tuổi. Cấp trung sĩ nhất. Không thêm chi tiết màu mè nào khác cũng như không có giải thưởng hay huân chương gì. Tờ thứ hai chứa mười dấu vân tay đen màu mực và một tấm ảnh màu của người tôi từng nói chuyện trong quán bar mà giờ đây đang nằm trong nhà xác. “Anh ấy đang ở đâu?” tay đại úy hỏi. “Chuyện gì đã xảy ra?" “Có người giết anh ta rồi”, tôi đáp. “Sao?” “Một vụ giết người, tôi bảo. “Lúc nào?” “Đêm qua. Chừng chín hay mười giờ tối”. “Ở đâu?” “Ngay bìa rừng”. “Rừng nào?” “Rừng của ta chứ đâu. Trong khuôn viên doanh trại”. “Lạy Chúa. Vì sao?” Tôi thu hồ sơ lại rồi cắp nó trong tay. “Tôi chưa biết vì sao”, tôi đáp. “Chưa thôi”. “Chúa ơi”, anh ta lại kêu. “Ai là thủ phạm?” “Tôi chưa biết”, tôi bảo: “Chưa thôi”. “Chúa ơi”, anh ta lại kêu, lần thứ ba. “Gia quyến thế nào?” tôi hỏi. Tay đại úy ngừng lại. Thở ra một hơi. “Hình như anh ấy có mẹ sống ở đâu đó”, anh ta nói. “Tôi sẽ báo lại với anh sau”. “Khỏi”, tôi bảo: “Anh tự mà điện cho bà ấy”. Anh ta không nói gì. “Tay Carbone này có thù hằn với ai ở đây không?” tôi hỏi. “Theo tôi biết thì không”. “Có mâu thuẫn với ai không?” “Mâu thuẫn thế nào?”

“Về lối sống chẳng hạn?” Tay đại úy nhìn tôi chằm chằm. “Anh ám chỉ gì vậy?” “Anh ta là người đồng tính à?” “Cái gì? Đương nhiên là không rồi”. Tôi không đáp. “Anh muốn nói Carbone là pê đê sao?” tay đại úy thì thầm. Tôi nhớ lại điệu bộ của Carbone, cách anh ta ngả ngớn ngồi cách sân khấu thoát y sáu bộ, xem cô gái nào đó lăn lê bò toài bằng tứ chi với cặp mông vểnh lên trời còn cặp vú quết sàn sân khấu, miệng anh ta nhoẻn cười còn chai bia cầm trên tay. Có vẻ là một cách giải trí kỳ quặc đối với một người đồng tính. Nhưng rồi tôi nhớ lại ánh mắt lảng tránh và cách anh ta ngượng ngùng từ chối cô ả tóc nâu. “Tôi có biết Carbone là người thế nào đâu”, tôi đáp. “Không biết thì câm mẹ mồm anh lại đi”, tay đại úy nói. “Sếp ạ”. * * * Tôi cầm tập hồ sơ của Carbone về nhà xác và đón Summer tới ăn sáng tại nhà ăn sĩ quan. Chúng tôi ngồi riêng một góc, tránh xa mọi người. Tôi ăn một phần trứng với thịt xông khói và bánh mì nướng. Summer ăn ngũ cốc cùng trái cây trong khi đảo qua tập hồ sơ. Tôi uống cà phê. Summer uống trà. “Chuyên viên khám nghiệm cho rằng đây là một vụ kỳ thị đồng tính, cô bảo. “Anh ta nghĩ chắc chắn là như vậy”. “Anh ta lầm to”. “Carbone chưa kết hôn”. “Tôi cũng thế”, tôi bảo. “Cô cũng vậy. Thế cô có đồng tính không?” “Không”. “Thì đó”. “Nhưng trò tung hỏa mù này phải được dựa trên điều gì đó có sẵn chứ, phải không? Ý tôi là, thí dụ hung thủ biết nạn nhân là một kẻ cờ bạc, chẳng hạn, thì hẳn chúng đã nhét đầy giấy nợ vào mồm nạn nhân hoặc rải bài khắp nơi rồi. Để chúng ta nghĩ rằng đây là một vụ do nợ nần bài bạc. Sếp hiểu ý tôi không? Nếu chẳng dựa trên điều gì thì làm sao được. Dàn cảnh mà vừa nhìn vào chừng năm phút đã phủ định được ngay thì ngớ ngẩn, chứ đâu có thông minh”. “Giả thuyết của cô là gì?” “Carbone đồng tính, có người biết điều ấy, nhưng đó không phải động cơ gây án”.

Tôi gật đầu. “Đó không phải động cơ gây án”, tôi đáp. “Giả thử anh ta đồng tính thật đi. Anh ta tại ngũ cũng mười sáu năm. Hắn vượt qua được

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 123

Đang tải bình luận...