1 Kẻ Thù

phần lớn thập

phần lớn thập

phần lớn thập niên bảy mươi và toàn bộ thập niên tám mươi rồi. Vậy thì tại sao bây giờ mới gặp chuyện? Thời buổi khác biệt, không còn kỳ thị nhiều như trước, anh ta cũng giỏi che giấu hơn, cũng biết đi vũ quán thoát y cùng bạn bè. Chẳng lý gì mà tự nhiên anh ta gặp nạn lúc này cả. Nếu là trước đây thì còn có lý. Bốn năm trước, hoặc tám năm, hoặc mười hai, hoặc mười sáu. Khi anh ta chuyển vào đơn vị mới và người ta phát hiện con người thật của anh ta chẳng hạn”. “Vậy động cơ gây án thật sự là gì?” “Tôi chịu”. “Dù gì chăng nữa, vụ này có thể sẽ là một bê bối lớn. Như vụ Kramer trong quán trọ ấy”. Tôi gật đầu lần nữa. “Trại Bird có vẻ là một nơi bê bối”. “Sếp nghĩ đó là nguyên nhân mà sếp có mặt ở đây à? Vì Carbone sao?” “Cũng có thể. Tùy việc anh ta tượng trưng cho điều gì đã”. * * * Tôi nhờ Summer chuyển lại cho mình toàn bộ thông tin lẫn các bản báo cáo cần thiết rồi trở về văn phòng. Tin đồn lan truyền rất nhanh. Tôi gặp ba trung sĩ đội Delta đang đợi mình, để hỏi thông tin. Bọn họ đặc chất lính Đặc nhiệm. Cả ba đều nhỏ con, gọn người, dẻo dai, hơi nhếch nhác, rắn rỏi vô cùng. Trong nhóm có hai người có vẻ lớn tuổi hơn người còn lại. Tay trẻ nhất có râu quai nón. Da anh ta rám nắng, như vừa từ một nơi nào đó nóng gắt trở về vậy. Cả ba rảo qua lại trước văn phòng tôi. Cô trung sĩ có đứa con trai nhỏ đang tiếp họ. Tôi đoán cô trực ca chiều nay. Thái độ của cô như thể đang bị bọn họ vừa đảo bước qua lại vừa tán tỉnh vậy. Trông cô rất văn minh, so với ba người kia. Đến mức đài các là khác. Tôi đưa bọn họ vào văn phòng của mình rồi đóng cửa lại, đoạn ngồi xuống bàn và mặc kệ ba người nọ đứng đó. “Tin về Carbone có chính xác không?” một gã hỏi. “Anh ta bị sát hại”, tôi đáp. “Không biết thủ phạm là ai, không biết nguyên nhân vì sao”. “Vào lúc nào?” “Đêm qua, khoảng chín hay mười giờ tối”. “Ở đâu?” “Ở đây”.

“Doanh trại này kín cổng cao tường mà”. Tôi gật đầu. “Thì thủ phạm đâu phải là người ngoài”. “Nghe bảo anh ấy bị hành dã man lắm”. “Cũng tương đối”. “Khi nào anh mới biết được thủ phạm?” “Hy vọng là sớm thôi”. “Anh có manh mối nào chưa?” “Chưa có gì cụ thể”. “Khi anh biết thủ phạm, thì chúng tôi có được thông báo không?” “Các anh muốn vậy à?” “Chứ sao nữa”. “Để làm gì?” “Anh thừa biết mà”, gã đáp. Tôi gật đầu. Dù đồng tính hay không, Carbone cũng từng là thành viên của băng nhóm đáng gờm nhất thế giới. Đồng đội của anh ta sẽ ở bên anh ta đến cùng. Tôi thoáng có chút ghen tị. Nếu tôi là người bị thịt vào một đêm tối trời, thì chắc gì đã có ba gã đầu gấu xông thẳng đến văn phòng ai đó, vào tám giờ sáng, hừng hực sát khí, một lòng muốn báo thù cho mình. Tôi nhìn lại toán người này lần nữa và nghĩ thầm, Tên thủ phạm kia chết chắc. Tôi chỉ cần bật ra một cái tên. “Tôi cần hỏi ba người vài câu của cảnh sát”, tôi nói. Tôi hỏi họ những câu điều tra thông thường. Carbone có thù oán với ai không? Dạo gần đây liệu có xung đột nào? Có ai hăm dọa không? Có đánh nhau chăng? Bọn họ lắc đầu và cùng trả lời không cho mọi câu hỏi. “Còn gì khác nữa không?” tôi hỏi. “Việc nào đó đe dọa tính mạng anh ta chẳng hạn?” “Ví dụ như việc gì?” "Bất kể việc gì cũng được”, tôi đáp. Tôi không muốn đi quá xa. “Không”, bọn họ cùng trả lời. “Các anh có giả thuyết nào không?” “Đi soi bọn Biệt động” gã trẻ tuổi lên tiếng. “Tìm thằng nào trượt khóa huấn luyện đội Delta và vẫn muốn chứng tỏ bản thân ấy”. Rồi bọn họ bỏ về, để tôi ngồi lại ngẫm nghĩ câu nói cuối. Một lính Biệt động muốn chứng tỏ bản thân ư? Tôi không nghĩ vậy. Không hợp lý. Chẳng có tay trung sĩ Delta nào lại lặn lội vào rừng với một người mình không rõ là ai để rồi bị nện vào đầu cả. Quá trình huấn luyện vừa khổ nhọc vừa lâu dài của họ chính là để những trường hợp như vậy không

thể xảy ra. Nếu một tay Biệt động muốn gây sự với Carbone, thì cái xác dưới gốc cây phải là của tay lính Biệt động đó. Nếu có hai lính Biệt động ra cùng anh ta, thì chúng tôi đã thấy xác của hai tay lính Biệt động đó. Hoặc chí ít cũng phải có dấu vết chống trả trên người Carbone. Anh ta không thể dễ dàng bị hạ gục như vậy. Có nghĩa là anh ta đã đi cùng với người mình quen biết và tin tưởng. Tôi tưởng tượng anh ta đã rất thoải mái, có thể còn tán gẫu, hoặc tươi cười như trong quán bar kia. Có thể anh ta đang đi trước dẫn đường đến đâu đó, quay lưng về phía hung thủ, không chút nghi ngờ. Rồi tôi tưởng tượng một tuýp sắt hay xà beng gì đó xuất hiện từ dưới lớp áo khoác, vung lên, đập vào đánh bốp. Rồi một cú nữa. Và một cú nữa. Phải tới ba cú trời giáng mới hạ được anh ta. Ba cú đánh bất ngờ. Mà một người như Carbone thì hiếm khi nào bị bất ngờ. Điện thoại tôi đổ chuông. Tôi nhấc máy. Người gọi là đại tá Willard, lão khốn trong văn phòng Garber, ở Rock Creek. “Cậu đang ở đâu?” lão hỏi. “Trong văn phòng”, tôi đáp. “Không thì làm sao tôi nghe máy?” “Ngồi yên đó”, lão nói. “Không được đi đâu, không được làm gì, không được gọi ai. Đó là mệnh lệnh trực tiếp. Ngồi yên đó và đợi”. “Chi vậy?” “Tôi đang trên đường tới”. Lão tắt máy. Tôi dập điện thoại. * * * Tôi đợi. Tôi không đi đâu, không làm gì, không gọi ai. Cô trung sĩ mang cho tôi cốc cà phê. Tôi nhận nó. Lão Willard đâu ra lệnh cho tôi chết khát. Sau một tiếng đồng hồ thì tôi nghe giọng ai đó ở phòng ngoài, rồi tay trung sĩ trẻ đội Delta ban nãy trở lại, một mình. Tay có râu da rám nắng ấy. Tôi mời anh ta ngồi rồi suy ngẫm lại chỉ thị dành cho mình. Không được đi đâu, không được làm gì, không được gọi ai. Tôi đoán nói chuyện với anh ta thì cũng coi như là làm gì rồi, và vậy là vi phạm mục không được làm gì. Nhưng về căn bản, chỉ ngồi không mà thở cũng là đang làm gì thôi. Cũng như trao đổi chất. Tóc tôi đang dài ra, râu tôi đang dài ra, móng tay tôi cũng đang dài ra, cơ thể tôi đang tụt cân ngay lúc này. Chẳng cách nào mà người ta không làm gì được cả. Nên tôi quyết định rằng mục đó trong lệnh của mình chỉ mang tính ẩn dụ mà thôi.

“Tôi giúp gì được anh đây, Trung sĩ?” tôi hỏi. “Tôi nghĩ Carbone đồng tính”, tay trung sĩ nói. “Anh nghĩ à?” “Thôi được, anh ấy là người đồng tính”. “Còn ai khác biết không?” “Tất cả bọn tôi đều biết”. “Rồi sao nữa?” “Chả sao cả. Tôi chỉ nghĩ anh cần thông tin đó thôi”. “Anh cho rằng điều này có liên quan gì chăng?” Anh ta lắc đầu. “Bọn tôi thoải mái với điều đó. Và kẻ thủ ác không phải chúng tôi. Không phải ai trong đơn vị. Không thể nào. Chúng tôi không làm những việc như thế. Ngoài đơn vị thì không ai biết hết. Nên đó không thể là nguyên nhân được”. “Vậy anh kể với tôi làm gì?” “Thì đằng nào anh cũng phát hiện thôi. Tôi muốn anh chuẩn bị tinh thần trước. Tôi không muốn anh bị bất ngờ”. “Vì sao?” “Như thế anh có thể giữ kín chuyện đó. Vì dẫu sao đó cũng không phải nguyên nhân”. Tôi không đáp. “Thanh danh của anh ấy sẽ bị ô uế”, tay trung sĩ bảo. “Thế không được. Anh ấy là người tốt và là một người lính gương mẫu. Đồng tính không phải cái tội”. “Tôi đồng ý”, tôi đáp. “Quân đội cần phải thay đổi”. “Quân đội ghét thay đổi lắm”. “Họ cho rằng việc đó làm hỏng tính đoàn kết của đơn vị”, anh ta nói. “Họ nên tận mắt chứng kiến đội chúng tôi tác chiến. Cùng với Carbone”. “Tôi không thể giữ kín chuyện đó”, tôi bảo. “Nếu được thì tôi đã làm. Nhưng hiện trường vụ án như vậy, ai nhìn vào cũng sẽ biết mà thôi”. “Sao? Là một vụ tình dục à? Lúc trước anh có nói vậy đâu”. “Tôi muốn giữ kín chuyện đó mà”, tôi bảo. “Nhưng có ai biết đâu. Không ai ngoài đơn vị”. “Phải có người biết rồi. Nếu không thì thủ phạm nằm trong đơn vị của các anh”. “Không khả thi. Không thể nào, không cách nào được”. “Phải là một trong hai thôi”, tôi bảo. “Anh ta có gặp gỡ người nào bên

ngoài không?” “Không, không bao giờ”. “Vậy anh ta ở vậy suốt mười sáu năm trời à?” Tay trung sĩ khựng lại một chút. “Giờ tôi không chắc nữa”, anh ta đáp. “Phải có ai đó biết”, tôi bảo. “Nhưng tôi không nghĩ đó là động cơ gây án. Tôi nghĩ có người muốn dàn dựng sự việc cho giống như vậy. Ít nhất, chúng ta cũng có thể làm rõ điều đó”. Tay trung sĩ lắc đầu. “Sau này người ta sẽ chỉ nhớ về anh ấy như vậy thôi”. “Tôi rất tiếc”, tôi bảo. “Tôi không đồng tính”, anh ta nói. “Thực tình thì tôi chả quan tâm”. “Tôi có vợ con rồi”. Anh ta để lại tôi với thông tin đó và tôi quay trở lại chấp hành chỉ thị của Willard. * * * Tôi dành thời gian chờ đợi để suy nghĩ. Người ta không thu hồi được hung khí nào tại hiện trường. Không chứng cứ pháp y nào đáng kể. Không sợi vải nào vướng lại trong bụi cây, không dấu chân trên đất, không mấu da nào của hung thủ trong kẽ móng tay của Carbone. Những việc đó cũng dễ hiểu thôi. Thủ phạm đã đem hung khí đi, hắn có lẽ đã mặc bộ đồ dã chiến, thứ phục trang do Bộ Lục quân chú trọng thực hiện với mục đích không để rách và vương lại sợi vải khắp nơi. Các xưởng dệt trong nước phải đáp ứng yêu cầu chất lượng nghiêm ngặt trong việc sản xuất loại vải chéo và vải bông theo đúng tiêu chuẩn sử dụng của quân đội. Mặt đất đóng băng cũng như đá, nên không thể lưu lại dấu chân. Bắc Carolina này có một khoảng thời gian đóng băng dài đến một tháng, mà chúng tôi lại đang ở ngay giữa thời kỳ ấy. Đồng thời đó cũng là một cuộc tấn công bất ngờ. Carbone không có thời gian để quay lại cào cấu chống cự kẻ thủ ác. Vậy nên chẳng có vật chứng cụ thể nào. Nhưng chúng tôi vẫn có chút lợi thế. Chúng tôi có một rổ nghi phạm xác định. Doanh trại này kín cổng cao tường, và quân đội rất giỏi lưu lại thông tin ai đã ở đâu, mọi lúc. Chúng tôi có thể bắt đầu với hàng chồng hàng đống giấy rồi dò từng cái tên một, theo hệ nhị phân đơn giản, có khả năng hay không có khả năng. Rồi gom những kẻ có khả năng lại và lọc chúng bằng bộ ba câu

hỏi điều tra thần thánh: cách thức, động cơ, cơ hội. Cách thức và cơ hội thường không có ý nghĩa gì nhiều. Về căn bản thì ai cũng có thể có khả năng cho đến khi chứng minh được rằng họ không có cơ hội gây án. Và ai trong quân đội cũng đủ sức để bất ngờ vung một cây sắt hay xà beng vào gáy nạn nhân. Việc đó gần như có thể coi là yêu cầu tối thiểu để nhập ngũ. Vậy nên thứ quyết định sẽ là động cơ gây án, vốn là mục tiêu tôi đã theo đuổi từ đầu. Lý do động thủ là gì? * * * Tôi đợi thêm một giờ đồng hồ nữa. Không đi đâu, không làm gì, không gọi ai. Cô trung sĩ pha thêm cà phê cho tôi. Tôi gợi ý cô gọi cho trung úy Summer và rủ cô ấy sang chơi, Summer có mặt trong vòng năm phút sau. Tôi có đủ thứ chuyện để trao đổi với cô, nhưng cô đã lường trước hết những điều tôi cần. Cô đã yêu cầu một danh sách toàn bộ sĩ quan tại trại, thêm bản ghi chép nhật ký ra vào cửa để chúng tôi dễ dàng loại trừ nghi phạm. Cô đã ra lệnh phong tỏa khu sinh hoạt của Carbone, chuẩn bị cho một cuộc điều tra. Cô đã sắp xếp một cuộc thẩm vấn sĩ quan chỉ huy của nạn nhân để thu thập thêm thông tin về đời sống cá nhân cũng như nghiệp vụ của anh ta. “Xuất sắc lắm”, tôi bảo. “Chuyện với Willard là sao vậy sếp?” cô hỏi. “Thi nắn gân nhau, chắc vậy”, tôi đáp. “Những vụ nghiêm trọng thế này, lão muốn đến tận nơi trực tiếp chỉ đạo. Và nhắc nhở là tôi vẫn nằm dưới chân lão”. Nhưng tôi đã sai. * * * Lão Willard cuối cùng cũng tới nơi sau tổng cộng chính xác bốn tiếng đồng hồ. Tôi nghe tiếng lão ở văn phòng ngoài. Tôi khá chắc cô trung sĩ sẽ không mời lão uống cà phê. Cô có mắt nhìn người mà. Cửa phòng tôi mở và lão tiến vào. Lão không buồn nhìn tôi. Chỉ đóng cửa lại sau lưng rồi quay lại ngồi phịch xuống ghế dành cho khách. Vừa đặt mông xuống đã ngay lập tức cựa quậy liên hồi. Cả người cứ nhấp nhổm rồi giật giật ống quần như thể nó đang thiêu bỏng da lão vậy. “Bắt đầu từ hôm qua”, lão bắt đầu. “Tôi muốn biết toàn bộ hoạt động của cậu. Tôi muốn nghe nó từ chính miệng cậu”. “Ông tới đây để thẩm vấn tôi á?” “Phải”, lão đáp.

Tôi nhún vai. “Tôi ở trên máy bay đến hai giờ”, tôi bảo, “Rồi gặp ông đến năm giờ”. “Rồi sao nữa?” “Lúc tôi về đến đây đã mười một giờ”. “Cậu đi mất sáu tiếng sao? Tôi đi chỉ bốn tiếng thôi mà”. “Thì chắc ông tự lái. Tôi bắt hai chuyến buýt rồi đi nhờ xe mà”. “Sau đó thì sao?” “Tôi gọi điện cho anh trai mình”, tôi đáp. “Tôi biết anh trai cậu”, lão Willard nói. “Tôi từng làm việc với anh ta”. Tôi gật đầu. “Anh tôi có nhắc đến”. “Rồi sau đó?” “Tôi nói chuyện với trung úy Summer”, tôi đáp. “Chuyện xã giao thôi”. “Tiếp đó?” “Xác Carbone được tìm thấy vào khoảng nửa đêm”. Lão gật đầu rồi cựa quậy ra chiều khó ở lắm. “Cậu còn giữ cuống vé xe buýt không?” lão hỏi. “Hình như không”, tôi đáp. Lão mỉm cười. “Vậy còn nhớ ai đưa cậu về doanh trại không?” “Hình như không. Để làm gì?” “Vì có thể tôi cần biết. Để xác nhận rằng tôi không phạm sai lầm nào”. Tôi không đáp. “Cậu đã phạm sai lầm đấy”, lão Willard nói. “Tôi sao?” Lão gật đầu. “Tôi không rõ cậu bị đần hay cố tình như vậy nữa”. “Như thế nào cơ?” “Cậu đang cố bôi nhọ quân đội à?” “Hả?” “Mục đích của cậu là gì đây, hả Thiếu tá?” lão hỏi. “Nhờ Đại tá giải đáp luôn giùm tôi”. “Chiến tranh lạnh sắp kết thúc rồi. Sẽ có những chuyển biến lớn. Mọi thứ có thể sẽ không còn như cũ. Do đó chúng tôi muốn mọi thành phần trong quân đội phải có chứng tỏ được bản thân mình để khỏi bị loại bỏ. Và cậu biết gì không?” “Gì cơ?” “Lục quân chúng ta luôn nằm bét. Không quân thì có những chiến đấu cơ hoành tráng. Thủy quân thì đầy tàu ngầm lẫn tàu chuyên chở. Thủy quân lục chiến vẫn luôn bất khả xâm phạm. Còn mỗi chúng ta lẫn trong

bùn đây thôi, theo đúng nghĩa đen. Nằm dưới đáy. Lục quân quá chán, Reacher ạ. Các quan lớn ở Washington nghĩ vậy đấy”. “Thì sao?” “Thằng Carbone này là pê đê. Một thằng bóng, vì Chúa. Biệt đội tinh nhuệ lại chứa chấp thứ biến thái ấy sao? Cậu nghĩ quân đội muốn người ngoài biết điều đó chắc? Vào thời điểm nhạy cảm này sao? Đáng lẽ cậu phải báo cáo rằng hắn chết do tai nạn khi tập luyện chứ”. “Như vậy đâu có đúng sự thật”. “Ai quan tâm đâu?” “Nạn nhân đâu bị giết vì khuynh hướng tính dục của mình”. “Lại còn không phải sao”. “Điều tra là nghề kiếm ăn của tôi”, tôi bảo. “Và tôi cam đoan không phải vậy”. Lão lườm tôi. Rồi nín thinh một lúc. “OK”, lão nói. “Chuyện đấy tính sau. Còn ai ngoài cậu thấy cái xác?” “Người của tôi”, tôi đáp. “Thêm một chuyên viên huấn luyện tác chiến tâm lý mà tôi tham khảo ý kiến. Và một chuyên viên giám định pháp y nữa”. Lão gật đầu. “Cậu đi mà lo người của cậu. Để tôi nói chuyện với giảng viên tâm lý và bác sĩ pháp y kia”. “Nói chuyện gì?” “Nói rằng chúng ta sẽ báo cáo cái chết chỉ là tai nạn khi đang luyện tập. Họ sẽ hiểu thôi. Không vấn đề gì nghiêm trọng. Không cần điều tra”. “Ông đùa tôi à”. “Cậu nghĩ quân đội muốn việc này truyền ra ngoài sao? Ngay lúc này à? Việc đội Delta chứa chấp một quân nhân trái luật suốt bốn năm ư? Cậu điên rồi à?” “Các trung sĩ đều mong muốn vụ việc được điều tra”. “Còn tôi cam đoan với cậu rằng cấp trên của bọn họ thì không đâu. Tin tôi đi. Cậu không phải lăn tăn về chuyện ấy”. “Thế thì tôi cần ông ra mệnh lệnh trực tiếp”, tôi bảo. “Rõ ràng súc tích”. “Đọc môi tôi này”, lão Willard nói. “Không được điều tra thằng pê đê kia. Viết một bản báo cáo rằng hắn chết vì tai nạn khi luyện tập. Thao luyện buổi đêm, khi đang tập chạy, tập thể dục, gì cũng được. Hắn trượt chân ngã đập đầu xuống đất. Vụ án kết thúc. Mệnh lệnh trực tiếp đấy”. “Tôi cần văn bản đàng hoàng”, tôi bảo. “Bớt trẻ con đi”, lão nói.

* * * Hai chúng tôi ngồi yên một hồi, chỉ nhìn nhau từ hai phía đối diện. Tôi ngồi im lặng, còn lão Willard hết cựa bên này đến bên kia rồi lại kéo quần. Tôi siết chặt nắm tay, ở góc khuất mà lão không trông thấy. Trong đầu tôi đang ướm một quả vào giữa ngực lão. Tôi đoán chỉ một đấm đó thôi cũng đủ đập nát quả tim xấu xa của lão. Tôi có thể khai rằng đó là tai nạn luyện tập. Tôi sẽ khai rằng lão tập đứng lên ngồi xuống trên ghế, rồi trượt chân đập lồng ngực vào cạnh bàn. “Thời gian tử vong?” lão hỏi. “Chừng chín hay mười giờ tối qua, tôi đáp. “Còn cậu tới mười một giờ đêm mới về trại?” “Nãy ông hỏi tôi trả lời rồi”, tôi đáp. “Cậu chứng minh được việc đó chứ?” Tôi nhớ đến đội gác cổng. Chính họ đã lưu giờ về của tôi mà. “Tôi có cần phải làm vậy không?” tôi hỏi. Lão lại nín thinh. Ngả người sang trái trên ghế. “Câu hỏi tiếp theo”, lão nói. “Cậu cho rằng thằng bé để kia bị giết không phải vì hắn pê đê. Bằng chứng của cậu là gì?” “Hung thủ đã dàn dựng hiện trường một cách thái quá”, tôi bảo. “Để che giấu động cơ thực sự à?” Tôi gật đầu. “Đánh giá của tôi là vậy”. “Chứ động cơ thật là gì?” “Sao tôi biết. Phải điều tra mới trả lời được”. “Thử suy đoán xem”, lão Willard nói. “Coi như tay hung thủ giả định này sẽ đạt được lợi ích nào đó khi giết nạn nhân. Nói tôi nghe đó sẽ là gì”. “Như thường lệ”, tôi đáp. “Để ngăn chặn hành động sắp tới nào đó của trung sĩ Carbone. Hoặc để che giấu tội ác nào đó mà trung sĩ Carbone có tham gia hoặc biết được”. “Nói theo cách khác, là muốn bịt miệng hắn”. “Muốn đẩy vụ việc nào đó vào bế tắc”, tôi đáp. “Tôi đoán như vậy”. “Và cậu suy đoán kiểu này để kiếm ăn”. “Phải”, tôi đáp. “Đúng vậy”. “Nếu là cậu thì làm cách nào truy tìm hung thủ?” “Bằng việc mở một cuộc điều tra”. Lão Willard gật đầu. “Và khi tìm được hung thủ, giá định thôi nhé, cứ cho rằng là cậu tìm được đi, cậu sẽ làm gì tiếp theo?”

“Tôi sẽ bắt giam hắn”, tôi đáp. Giam giữ có bảo vệ, tôi nghĩ thầm. Tôi tưởng tượng đám huynh đệ của Carbone, nhấp nhổm không yên, sẵn sàng ăn tươi nuốt sống hung thủ. “Và nghi phạm của cậu là tất cả số quân nhân có mặt ở trại lúc đó à?” Tôi gật đầu. Trung úy Summer chắc đang vất vả lặn ngụp trong mớ danh sách lúc này. “Họ sẽ được kiểm chứng bằng chỉ số sức khỏe và nhật ký ra vào trại”, tôi đáp. “Còn dữ kiện thực tế thì sao”, lão Willard nói. “Tôi cứ tưởng với người kiếm sống bằng nghề điều tra thì dữ kiện thực tế là tối quan trọng chứ. Doanh trại này rộng gần một trăm ngàn mẫu vuông. Lần cuối cùng họ rào lại hàng rào biên của nơi này là năm 1943. Đó là dữ kiện thực tế. Tôi chẳng mất bao công đã biết, đáng lẽ cậu cũng nên như vậy chứ. Cậu không nghĩ là không nhất thiết phải qua cổng chính mới vào được trại ư? Cậu không nghĩ là có thể một người nào đó không được ghi trong danh sách có mặt ở trại đã lẻn vào qua hàng rào kia ư?” “Khó có khả năng đó”, tôi đáp. “Nếu hung thủ lẻn từ ngoài vào sẽ phải cuốc bộ đến hơn hai dặm, giữa trời tối mù, vả lại ta còn đội xe mô tô tuần tra thâu đêm”. “Nếu là một kẻ được huấn luyện thì có thể tránh đội tuần tra chứ”. “Khó có khả năng đó”, tôi lặp lại. “Và nếu thế thì làm sao hắn ta gặp được trung sĩ Carbone?” “Có hẹn địa điểm trước”. “Nào có phải địa điểm rõ ràng đâu”, tôi bảo. “Chỉ là một nơi gần đường mòn”. “Vậy họ canh theo bản đồ”. “Khó có khả năng đó”, tôi nói, lần thứ ba. “Nhưng có thể chứ?” “Việc gì cũng có thể”. “Vậy có thể hung thủ đã gặp thằng bóng kia, giết hắn, lần trở ra ngoài hàng rào biên, vòng ngược lại cổng chính, rồi đường hoàng ký tên nhập trại?” “Việc gì cũng có thế”, tôi lặp lại. “Sẽ mất bao nhiêu thời gian nhí? Từ việc giết hắn đến ký tên nhập trại ấy?” “Tôi chịu. Tôi sẽ phải biết hắn đã cuốc bộ bao xa trước”. “Biết đâu hắn chạy thục mạng”.

“Biết đâu đấy”. “Nếu thế thì đến được cổng chính cũng hết cả hơi”. Tôi không đáp. “Thử đoán xem”, lão Willard nói. “Mất bao lâu?” “Chừng một hay hai tiếng đồng hồ”. Lão gật đầu. “Vậy nếu thằng đồng cô kia bị thịt lúc chín hay mười giờ tối, hung thủ có thể đã nhập trại vào mười một giờ?” “Khả thi”, tôi đáp. “Và động cơ gây án là muốn đẩy vụ việc nào đó vào bế tắc”. Tôi gật đầu. Không nói thêm. “Và cậu mất sáu giờ để đi một chặng đường dài bốn giờ đồng hồ, kết quả là dôi ra hai tiếng, mà cậu giải thích một cách mông lung rằng mình đã chọn cách đi chậm”. Tôi không nói gì. “Và cậu đồng tình rằng hai tiếng đồng hồ là quá dư dả để gây án. Cụ thể hai tiếng đó là từ chín đến mười một giờ tối qua, tình cờ thay chính là khung thời gian mà cậu không có bằng chứng ngoại phạm”. Tôi vẫn lặng thinh. Willard mỉm cười. “Và cậu đã thở dốc khi đến cổng trại”, lão nói. “Tôi có hỏi rồi”. Tôi không đáp. “Những động cơ của cậu có thể là gì mới được?” lão bảo. “Tôi nghĩ cậu không thân quen gì với tay Carbone kia. Tôi nghĩ cậu cũng không cùng một giuộc với hắn. Ít nhất tôi thật sự hy vọng là cậu không cùng thể loại đó”. “Ông đang phí thời gian thôi”, tôi nói. “Và còn đang phạm sai lầm lớn đó. Ông không muốn biến tôi thành kẻ thù đâu”. “Không à?” “Không”, tôi nhắc lại. “Thật sự không đâu”. “Cậu muốn vụ gì rơi vào bế tắc nhỉ?” lão hỏi tôi. Tôi không trả lời. “Một dữ kiện thực tế thú vị này”, lão Willard nói. “Trung sĩ nhất Christopher Carbone chính là người đã tố cáo vụ ẩu đả của cậu đấy”. * * * Lão chứng minh bằng việc rút ra một bản sao tố cáo từ trong túi. Lão vuốt cho phẳng phiu rồi đặt lên bàn. Trên đầu văn bản ghi số tham chiếu cùng ngày giờ và địa chỉ. Ngày ghi mồng hai tháng Giêng, địa điểm là văn phòng Chỉ huy trưởng Quân cảnh trại Bird, và thời gian là 8 giờ 45.

Dưới đó là hai đoạn lời khai có tuyên thệ. Tôi đọc lướt qua dòng chữ ghi bằng câu từ trịnh trọng. Tôi đã tận mắt chứng kiến một thiếu tá Quân cảnh tên Reacher tấn công dân thường đầu tiên bằng cách dùng chân đạp vào gối phải đương sự. Ngay sau đó thiếu tá Reacher tiếp tục tấn công vào mặt dân thường thứ hai bằng trán mình. Theo tôi biết thì cuộc ẩu đả xảy ra hoàn toàn là cô cớ. Tôi không thấy có yếu tố tự vệ. Rồi tới chữ ký của Carbone và số định danh của anh ta bên dưới. Tôi nhận ra số trong hồ sơ của Carbone. Tôi nhìn lên chiếc đồng hồ lặng lẽ gắn trên tường và tưởng tượng ra cảnh Carbone, lách ra cửa quán bar thoát y vào bãi đậu xe, thoáng nhìn tôi, rồi hòa vào nhóm người đang tựa lưng lên xe thong thả uốn “Đội Delta tự bảo vệ mình”, lão Willard nói. “Ai cũng biết vậy. Có lẽ điều đó khiến tác phong họ thêm phần thân bí. Vậy nên giờ bọn họ sẽ làm gì đây? Khi một thành viên của mình bị đánh đến chết sau khi tố cáo một tay thiếu tá Quân cảnh xấc xược, và tay thiếu tá Quân cảnh xấc xược ấy lại đang cố vớt vát sự nghiệp của mình, và chính hắn cũng không có bằng chứng ngoại phạm rõ ràng vào đêm án mạng?” Tôi không trả lời. “Một bản sao của văn bản này sẽ được chuyển đến văn phòng sĩ quan chỉ huy của đội Delta”, lão Willard nói tiếp. “Quy trình chung với mọi tố cáo vi phạm thôi. Nơi nào cũng sẽ nhận được một bản. Nên tin tức sớm sẽ lan truyền. Sau đó họ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi. Tôi biết phải trả lời sao đây? Tôi có thể bảo rằng cậu chắc chắn không phải nghi phạm. Nhưng tôi cũng có thể nói rằng cậu chắc chắn là một nghi phạm, nhưng vì một vài rắc rối trong quy trình khiến tôi không thể đụng tới cậu được. Để xem ý thức chính nghĩa của họ sẽ xử lý thế nào với sự bất công kiểu ấy”. Tôi không đáp. “Đó là đơn tố cáo duy nhất của Carbone”, lão nói. “Trong suốt mười sáu năm tại ngũ. Tôi cũng kiểm tra luôn rồi. Việc đó cũng dễ hiểu thôi. Người như hắn luôn phải tránh gây chú ý. Nhưng cả đội Delta kia sẽ nhận thấy vụ việc có gì kỳ lạ. Lần đầu tiên Carbone lên tiếng chống lại ai đó, họ sẽ nghĩ trước đó hai cậu đã từng có chuyện gì. Họ sẽ cho rằng đây là Carbone trả thù. Mà như vậy cậu cũng chẳng được họ ưa hơn đâu”. Tôi không đáp. “Vậy nên tôi phải làm gì?” lão Willard hỏi. “Tôi có nên sang đó bóng gió với họ về mấy rắc rối vớ vẩn trong quy trình không? Hay chúng ta

trao đổi nhỉ? Tôi giữ cho phía Delta không động đến cậu, còn cậu thì bắt đầu nghe lời một chút?” Tôi không đáp. “Cá nhân tôi không tin cậu đã giết hắn”, lão nói. “Ngay cả cậu cũng không liều đến vậy. Nhưng thực tình thì tôi cũng không phiền lòng lắm nếu cậu đã xuống tay. Bọn bóng trong quân đội đều đáng chết. Chúng nhập ngũ vì những mục đích sai trái. Nhưng có thể cậu đã chọn nhầm nguyên nhân để ra tay, vậy thôi”. “Ông chỉ đe dọa hão”, tôi lên tiếng. “Ông chưa bao giờ nói với tôi rằng chính anh ta đã đệ đơn tố cáo. Hôm qua ông chưa hề cho tôi xem nó. Ông chưa bao giờ cho tôi biết ai đã làm việc đó”. “Đám trung sĩ kia sẽ chẳng tin nửa lời của cậu. Cậu là điều tra viên thuộc đội đặc nhiệm. Đây là công việc kiếm ăn của cậu. Chẳng khó gì để cậu lôi ra một cái tên trong đống giấy tờ mà họ nghĩ chúng ta xử lý mỗi ngày cả”. Tôi không đáp. “Tỉnh đi nào, Thiếu tá”, lão Willard nói. “Phải thuận theo chiều gió thôi. Garber đã đi xa rồi. Mọi việc bây giờ đều phải theo ý của tôi”. “Ông đang phạm sai lầm đấy”, tôi bảo. “Biến tôi thành kẻ thù của ông”. Lão lắc đầu. “Tôi không nghĩ vậy. Tôi không phạm sai lầm đâu. Vả lại tôi cũng đâu có biến cậu thành kẻ thù. Tôi đang rèn cho đơn vị này vào nếp thôi. Rồi cậu sẽ cảm ơn tôi. Tất cả các cậu. Thế giới đang thay đổi. Mà mắt tôi có thể thấy rõ đại cục”. Tôi không đáp. “Giúp quân đội”, lão nói. “Và đồng thời giúp chính bản thân mình”. Tôi không đáp. “Hai ta thỏa thuận được chưa?” lão hỏi. Tôi không trả lời. Lão nháy mắt với tôi. “Tôi nghĩ là rồi nhỉ”, lão nói. “Cậu đâu đần đến vậy”. Lão đứng dậy bước ra khỏi văn phòng và đóng cửa lại. Tôi ngồi đó nhìn tấm nệm cứng bọc vinyl trên ghế dành cho khách dần phồng trở lại hình dáng trước. Nó phồng lên rất chậm, tiếng không khí bị nó hút vào rin rít. (Untitled) (Untitled) (Untitled) (Untitled) MUỜI

(Untitled) Thế giới đang thay đổi. Tôi vốn quen làm kẻ cô độc nhưng lúc này lại bắt đầu cảm thấy cô đơn. Và tôi thường nhìn đời với con mắt hoài nghi, vậy mà giờ đây lại bắt đầu cảm thấy ngây ngô đến tuyệt vọng. Tôi đang dần vuột mất hai gia đình của mình, một bên vì dòng thời gian vô tâm cuồn cuộn trôi, còn bên kia vì những đạo lý xưa được người ta coi trọng chợt tiêu tan như khói. Tôi như kẻ tỉnh giấc một mình trên đảo hoang và phát hiện mọi người xung quanh đã lén lút lên thuyền ra đi giữa đêm tối. Tôi như một kẻ đứng trên bờ biển, nhìn bóng người khuất dần về chân trời. Như một kẻ truớc giờ vẫn dùng tiếng Anh, rồi chợt nhận ra mọi người đều nói một thứ tiếng nào đó xa lạ hoàn toàn. Thế giới đang thay đổi. Còn tôi muốn nó đứng yên. * * * Ba phút sau Summer trở lại. Tôi đoán cô đã nấp trong góc nào đó, đợi lão Willard ra về. Trong tay cô là một xấp giấy in, còn mắt cô lóe lên vẻ có thông tin nào đó đáng giá. “Vassell và Coomer tối qua lại ở đây đó sếp”, cô nói. “Trong nhật ký nhập trại có lưu tên họ”. “Ngồi xuống đi”, tôi nói. Cô khựng lại, hơi ngạc nhiên, nhưng rồi ngồi xuống ghế chỗ lão Willard ban nãy. “Tôi xui xẻo lắm”, tôi bảo. “Từ giờ cô nên tránh xa tôi ra thì tốt hơn”. “Ý sếp là sao?” “Hai ta đoán đúng rồi, tôi đáp”.Trại Bird là một nơi đầy bê bối. Đầu tiên là vụ Kramer, rồi đến Carbone. Lão Willard vừa quyết định chấm dứt điều tra cả hai vụ, để giữ thể diện cho quân đội”. “Ông ta không thể dẹp vụ Carbone được”. “Tai nạn khi tập luyện”, tôi bảo. “Tay Carbone trượt chân rồi ngã đập đầu”. “Cái gì?” “Lão Willard muốn dùng vụ ấy để thử tôi. Liệu tôi có thuận theo chiều gió hay không?” “Sếp có theo không?” Tôi không đáp. “Chỉ thị của ông ta là trái luật”, Summer nói. “Chắc chắn là như vậy”. “Cô có sẵn sàng phản đối chúng không?” Cô không trả lời. Cách khả thi duy nhất để phản đối những chỉ thị trái

luật là không tuân theo chúng và đặt cược vào tòa án binh sau đó, cái rốt cuộc sẽ trở thành một trò kéo co giữa ta với một gã ở tít trên cao của chuỗi thức ăn, trước vị quan tòa đã quá hiểu ưu tiên của quân đội đối với những mệnh lệnh là không bao giờ được nghi ngờ chúng. “Vậy nên chẳng có gì xảy ra cả”, tôi bảo. “Đem toàn bộ giấy tờ về và quên tôi lẫn Kramer và Carbone đi”. Cô không nói gì. “Và nhắn lại với những người có mặt đêm qua. Bảo họ quên đi những gì đã chứng kiến”. Cô nhìn xuống sàn. “Rồi trở về khu sĩ quan đợi nhiệm vụ khác”. Cô nhìn tôi. “Sếp nói thật đấy à?” cô hỏi. “Đúng vậy”, tôi đáp. “Mệnh lệnh trực tiếp đấy”. Cô trừng mắt nhìn tôi. “Hóa ra sếp không phải là người như tôi tưởng”. Tôi gật đầu. “Tôi đồng ý”, tôi đáp. “Tôi không như cô nghĩ đâu”. * * * Cô bước ra ngoài và tôi đợi một phút để cô đi khuất rồi mới nhặt mớ giấy tờ cô để lại. Chúng rất dày. Tôi tìm được trang mình cần, và đọc qua. Vì tôi vốn không thích những sự trùng hợp ngẫu nhiên. Hai tay Vassell và Coomer nhập trại Bird bằng cổng chính lúc sáu giờ bốn mươi lăm phút tối ngay đêm Carbone mất mạng. Bọn họ rời đi vào mười giờ. Ba tiếng mười lăm phút, ngay khung giờ tử vong của Carbone. Hay nói cách khác là giờ ăn tối. Tôi gọi điện đến phòng ăn sĩ quan. Một nhân viên hậu cần đáp máy và bảo rằng hạ sĩ quan chỉ huy sẽ gọi lại cho tôi sau. Rồi tôi gọi cô trung sĩ của mình nhờ tìm xem ai là người đồng cấp của tôi tại trại Irwin, và nhờ nối máy giùm. Cô trở lại trong vòng bốn phút với một cốc cà phê cho tôi. “Anh ta bận rồi”, cô đáp. “Có thể đến nửa tiếng lận. Tên anh ta là Franz”. “Không thể”, tôi bảo. “Franz đang ở Panama. Tôi đã trực tiếp nói chuyện với anh ta mà”. “Thiếu tá Calvin Franz”, cô nói. “Họ bảo tôi vậy”.

“Gọi lại đi”, tôi nhắc. “Kiểm tra lại”. Cô đặt cốc cà phê lên bàn tôi rồi trở về bàn gọi điện. Bốn phút sau cô quay lại xác nhận thông tin ban nãy là chính xác. “Thiếu tá Calvin Franz”, cô lặp lại. “Anh ta về đó từ hai mươi chín tháng Mười hai”. Tôi nhìn lịch. Mồng năm tháng Giêng. “Và sếp cũng về đây từ hai mươi chín tháng Mười hai”, cô nói. Tôi nhìn cô. “Gọi thêm vài trại nữa đi”, tôi bảo. “Chỉ những trại lớn thôi. Bắt đầu bằng trại Benning, rồi cứ theo bảng chữ cái mà gọi. Lấy cho tôi tên các sĩ quan điều hành Quân cảnh của bọn họ, rồi hỏi xem bọn họ ở đó đã bao lâu”. Cô gật đầu rồi ra khỏi phòng. Viên hạ sĩ quan từ phòng ăn điện cho tôi. Tôi hỏi về Vassell và Coomer. Anh ta xác nhận bọn họ đã dùng bữa tại nhà ăn sĩ quan. Vassell ăn cá bơn, còn Coomer chọn bít tết. “Bọn họ ăn một mình à?” tôi hỏi. “Không ạ, họ ngồi cùng vài sĩ quan cấp cao khác”, anh ta đáp. “Bọn họ hẹn nhau à?” “Không ạ, chúng tôi nghĩ là vô tình gặp nhau thôi. Nhóm toàn những người không liên quan. Tôi đoán họ quen nhau ở quầy bar, trong lúc uống rượu khai vị. Chắc chắn là phòng ăn không đặt bàn cho nhóm họ”. “Bọn họ ở đấy bao lâu?” “Họ ngồi đó từ trước bảy giờ rưỡi, rồi rời đi ngay trước mười giờ”. “Không ai đứng dậy ra ngoài rồi trở lại à?” “Không ạ, chúng tôi quan sát họ suốt mà”. “Suốt bữa?” “Chúng tôi chú ý họ rất kỹ, thưa sếp. Vì bọn họ toàn cấp cao mà”. Tôi dập máy. Rồi gọi cổng chính. Hỏi xem ai là người tận mắt thấy Vassell và Coomer vào và ra trại. Họ cho tôi tên một trung sĩ. Tôi nhờ họ tìm anh ta và nhắn gọi lại cho tôi ngay. Tôi đợi. Tay trung sĩ trực ở cổng gọi lại tôi trước. Anh ta xác nhận rằng mình đã trực suốt buổi tối hôm trước, và xác nhận đã tận mắt thấy Vassell và Coomer đến trại lúc sáu giờ bốn mươi lăm và rời đi lúc mười giờ. “Đi bằng ô tô?” tôi hỏi. “Xe sedan màu đen khá to, thưa sếp”, anh ta đáp. “Loại xe cho công chức Lầu Năm Góc”.

“Grand Marquis?” tôi hỏi. “Tôi khá chắc là vậy, thưa sếp”. “Có tài xế không?” “Đại tá tự lái xe ạ”, anh ta đáp. “Đại tá Coomer ấy. Tướng Vassell ngồi ở ghế trước”. “Trong xe chỉ có hai người sao?” “Đúng vậy, thưa sếp”. “Anh chắc chứ?” “Chắc chắn, thưa sếp. Không nghi ngờ gì. Ban đêm chúng tôi dùng đèn pin mà. Xe sedan màu đen, biển số của Bộ Quốc phòng, hai sĩ quan ngồi trước, trình đầy đủ giấy tờ, băng ghế sau trống ạ”. “OK, cảm ơn cậu”, tôi đáp, và dập máy. Điện thoại reo lên ngay tức thì. Chính là Calvin Franz gọi, từ California. “Reacher đó à?” anh ta hỏi. “Cậu làm cái quái gì ở đó thế?” “Tôi phải hỏi cậu câu đó mới đúng”. Điện thoại im bặt một hồi. “Tôi chả biết mình làm gì ở đây cả”, anh ta bảo. “Trại Irwin yên ắng lắm. Thường là vậy, họ kể tôi thế. Dù gì thời tiết cũng thoải mái”. “Cậu có dò hỏi chỉ thị của mình không?” “Có chứ”, anh ta nói. “Cậu không à? Từ sau Grenada tôi mới đến được một nơi vui như Panama, thế mà bây giờ phải ngồi nhìn sa mạc Mojave sao? Chắc là Garber bị làm sao đó. Tôi tưởng ông ấy giận tôi. Giờ tôi chả hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa. Nếu cả hai ta đều làm ông ấy khó chịu thì lạ thật”. “Chỉ thị của cậu cụ thể là gì?” tôi hỏi. “Làm sĩ quan điều hành tạm thời cho chỉ huy trưởng Quân cảnh”. “Chỉ huy trưởng bên cậu có ở đó không?” “Thật ra là không. Ông ta được chuyển công tác tạm thời đúng ngày tôi đến nhận nhiệm vụ”. “Vậy cậu đang là quyền sĩ quan chỉ huy sao?” “Có vẻ vậy”, anh ta đáp. “Tôi cũng thế”. “Chuyện gì đang xảy ra vậy?” “Chịu thôi”, tôi đáp. “Nếu biết tôi sẽ báo cậu. Nhưng trước hết tôi cần hỏi cậu một câu. Tôi gặp một đại tá và một tướng một sao ở đây, nghe nói là đến chỗ cậu dự hội nghị Thiết giáp gì đó ngày mồng một. Tên là Vassell và Coomer. Hai gã đó có tới không?”

“Hội nghị đó bị hủy rồi”, Franz nói. “Bọn tôi nghe bảo ông hai sao của họ ngỏm cù đèo ở đâu đấy. Tên là Kramer thì phải. Có vẻ họ nghĩ chẳng có lý do gì để tiếp tục khi không có ông ta. Hoặc là vậy, hoặc là họ không nghĩ được gì khi không có ông ta. Hoặc là đang quá bận tranh giành chiếc ghế trống của ông ta”. “Vậy Vassell và Coomer không đến California sao?” “Không tới trại Irwin”, Franz đáp. “Chắc chắn là vậy. Còn tới California hay không thì tôi chịu. Bang này to mà”. “Còn ai khác lẽ ra phải đến dự hội nghị không?” “Toàn bộ nhóm chủ chốt của Thiết giáp. Vài người ở trại này. Vài người khác tới rồi ra về luôn. Vài người không đến”. “Cậu có biết gì về chương trình nghị sự không?” “Tôi không để ý. Có quan trọng không?” “Tôi chịu. Vassell và Coomer bảo rằng làm gì có thứ đó”. “Hội nghị nào mà chẳng có chương trình nghị sự”. “Tôi cũng nghĩ vậy”. “Để tôi để ý xem sao”. “Chúc cậu năm mới vui vẻ”, tôi bảo. Rồi tôi dập máy và ngôi yên lặng một lúc. Ngẫm nghĩ khá lâu. Calvin Franz là một quân nhân giỏi. Đúng hơn thì, anh ta rất giỏi. Cứng cỏi, công minh, và có tài. Chả có gì ngăn được anh ta cả. Rời Panama tôi cũng khá yên lòng, vì biết anh ta vẫn còn ở đó. Nhưng giờ anh ta lại ở đây. Tôi đi, anh ta cũng đi. Thế thì ai ở đó? Tôi uống xong cà phê rồi đem cốc trả lại bên máy pha. Cô trung sĩ đang gọi điện. Trước mặt cô là một tờ giấy nguệch ngoạc những dòng chữ. Cô giơ lên một ngón tay như vừa nghe được tin gì lớn. Rồi cúi xuống hí hoáy tiếp. Tôi trở lại bàn của mình. Năm phút sau cô vào phòng cùng tờ giấy kia. Mười ba dòng, ba cột. Cột thứ ba ghi toàn con số. Chắc là ngày tháng. “Tôi gọi đến tận trại Rucker”, cô nói. “Rồi thôi. Vì rõ ràng một yếu tố cứ lặp đi lặp lại”. “Nói tôi nghe nào”, tôi bảo. Cô đọc qua tên mười ba doanh trại, theo bảng chữ cái. Rồi cô đọc tiếp tên của sĩ quan điều hành Quân cảnh tại đó. Tôi biết cả mười ba cái tên đấy, bao gồm cả Franz và tôi. Rồi cô đọc ngày mà bọn họ được thuyên chuyển tới. Đều cùng một ngày. Tất cả đều đến ngày hai mươi chín tháng Mười hai. Tám ngày trước. “Đọc lại tên họ giúp tôi”, tôi bảo cô.

Cô đọc lại. Tôi gật đầu. Trong cái giới Quân cảnh vừa bí hiểm vừa nhỏ tí, nếu anh muốn lựa ra một nhóm tinh nhuệ, và sau khi dành cả đêm vắt óc suy nghĩ lựa chọn, thì chắc chắn anh sẽ chọn ra mười ba cái tên đó. Không còn nghi ngờ gì. Mười ba cái tên nặng ký, xuất sắc nhất. Còn chừng mười cái tên lẽ ra phải trong danh sách, nhưng tôi tin cũng phải hai trong đó hiện đang đảm nhiệm những doanh trại nằm cuối bảng chữ cái, và đâu tám cái tên kia sẽ công tác ở những nơi quan trọng khác trên khắp thế giới. Và tôi tin tất cả bọn họ cũng đều mới nhận nhiệm vụ từ tám ngày trước. Đội hình siêu sao chúng tôi. Tôi không muốn phân biệt cấp bậc cao thấp với họ, nhưng nhìn chung, xét theo năng lực hoạt động hiện trường, chúng tôi là đỉnh cao của cảnh sát quân đội, và đó là điều không phải bàn cãi. “Kỳ lạ thật”, tôi bảo. Và thực sự nó quá kỳ lạ. Để thuyên chuyển từng ấy sĩ quan cụ thể trong cùng ngày cần phải có quyết tâm và tính toán trước, và để làm được ngay giữa Chiến dịch Chính nghĩa chắc chắn cần một động cơ nào đó gấp rút. Căn phòng dường như lặng đi, như có thể nghe được tiếng lá rơi bên ngoài. “Tôi đến chỗ Delta đây”, tôi nói. * * * Tôi lái chiếc Humvee vì không muốn đi bộ. Tôi không biết lão khốn Willard đã rời khỏi doanh trại chưa, và tôi chẳng muốn đụng mặt lão chút nào. Tay gác cửa dẫn tôi vào khu nhà tù cũ và tôi đến thẳng văn phòng sĩ quan phụ tá. Anh ta vẫn ngồi ở bàn làm việc, trông có vẻ mệt mỏi hơn hồi sáng sớm tôi gặp. “Chết vì tai nạn luyện tập”, tôi bảo. Anh ta gật đầu. “Tôi nghe nói vậy”. “Anh ta luyện tập kiểu gì?” tôi hỏi. “Thao luyện buổi đêm”, anh ta bảo. “Một mình ư?” “Thế thì tập thoát thân và lẩn trốn vậy”. “Trong doanh trại?” “OK, anh ấy chạy bộ. Muốn giảm cân sau mùa lễ tết. Gì cũng được”. “Tôi cần cái gì hợp lý”, tôi nói. “Bản báo cáo sẽ đề tên tôi đấy”. Tay đại úy gật đầu. “Vậy bỏ vụ chạy bộ. Tôi không nghĩ Carbone thích chạy. Anh ấy ưa tập tạ hơn. Nhiều người như vậy”. “Nhiều người là ai?” Anh ta nhìn thẳng tôi. “Người đội Delta”, anh ta nói.

“Anh ta có chuyên môn nào không?” “Chuyên môn nào họ cũng biết. Ở đây mọi người cái gì cũng giỏi”. “Không ai chuyên về điện đàm hay y tế sao?” “Ai cũng giỏi điện đàm. Ai cũng giỏi y tế. Đó là biện pháp phòng ngừa. Phòng khi họ bị bắt giữ, họ có thể tự nhận là y tế đại đội. Như vậy có thể tránh phải ăn đạn. Và họ có thể thể hiện kỹ năng, nếu bị kẻ thù kiểm tra”. “Có buổi luyện tập y tế nào vào buổi đêm không?” Tay đại úy lắc đầu. “Không hẳn”. “Có thể anh ta ra ngoài thử bộ điện đàm không?” “Anh ấy có thể lấy xe ra chạy thử” tay đại úy nói. “Anh ấy giỏi cơ khí. Tôi nghĩ có lẽ anh ấy trông nom xe của đơn vị. Nếu muốn nói về chuyên môn của anh ấy thì chỉ có như vậy thôi”. “OK” tôi bảo. “Có thể anh ta bị nổ bánh, rồi lúc thay bánh bị xe trượt khỏi kích nâng đè trúng đầu?” “Cũng được”, tay đại úy nói. “Đường xấu, có thể kích nâng bị kênh, nên cả xe không vững”. “Cũng được”, tay đại úy nhắc lại. “Tôi sẽ bảo lính tôi đã kéo xe về”. “OK”. “Vậy đó là loại xe gì?” “Anh thích loại gì cũng được”. “Chỉ huy của anh có đây không?” tôi hỏi. “Đi rồi. Nghỉ lễ”. “Sếp anh là ai?” “Anh làm sao biết được”. “Cứ thử nói xem”. “Đại tá Brubaker”, tay đại úy đáp. “David Brubaker à?” tôi nói. “Tôi biết ông ta”. Điều đó cũng gần đúng. Tôi chỉ mới nghe danh mà thôi. Gã là một tay cuồng tín hổ báo của Lực lượng Đặc nhiệm. Đối với gã thì tất cả bọn tôi cứ nên dọn đồ về quê để biệt đội tinh nhuệ của gã bảo vệ cả thế giới. Có thể để lại vài tiểu đoàn trực thăng túc trực, để chở lính của gã. Có thể để lại một văn phòng Lầu Năm Góc hoạt động, để chuẩn bị số vũ khí mà gã muốn. “Bao giờ thì ông ta về?” tôi hỏi. “Lúc nào đó ngày mai”. “Anh có gọi ông ta không?”

Tay đại úy lắc đầu. “Ông ta không muốn dính líu đâu. Và sếp tôi không muốn nói chuyện với anh đâu. Nhưng tôi sẽ nhắn sếp tái thiết một vài thủ tục an ninh, ngay khi ta xác định được kiểu tai nạn gì”. “Bị xe đè chết”, tôi nói. “Tai nạn như vậy đó. Thế cho sếp anh mừng. An toàn xe cộ ngắn hơn an toàn súng ống”. “Ngắn ở đâu?” “Trong cẩm nang tác chiến ấy”. Tay đại úy mỉm cười. “Brubaker không dùng cẩm nang tác chiến đấu”, anh ta nói. “Tôi cần xem qua phòng của Carbone”, tôi nói. “Để làm gì?” “Vì tôi cần phải dọn dẹp nó. Nếu khai rằng anh ta chết trong tai nạn xe, tôi không muốn để sót lại khúc mắc nào”. * * * Carbone ngủ ở một nơi giống hệt mọi người trong đơn vị, một mình trong một phòng giam cũ. Một phòng sáu nhân tám bộ trát xi măng có bồn rửa mặt và bồn cầu. Nó có một chiếc giường tiêu chuẩn quân đội, một cái rương và ngăn kệ trên tường dài ngang giường. Nhìn chung là một chỗ ở khá ổn dành cho một trung sĩ. Trên thế giới có những người sẽ chẳng đắn đo một giây để đổi lấy một phòng như vậy. Summer đã dán sẵn băng phong tỏa hiện trường ngang cửa. Tôi kéo nó xuống vò lại rồi bỏ vào trong túi quần. Tôi bước vào phòng. Về mặt kỷ luật và đồng bộ thì phân đội D của Lực lượng Đặc nhiệm khác xa những chỗ khác trong quân đội. Các cấp bậc giao lưu với nhau khá thoải mái. Chẳng ai còn nhớ cách chào tiêu chuẩn. Sự ngăn nắp không được lấy làm trọng. Đồng phục không bắt buộc. Nếu ai thấy thoải mái với cái áo khoác mẫu cũ mòn vẹt mà mình đã mặc qua nhiều năm, thì cứ mặc. Nếu ai thích đôi giày thể thao New Balance hơn đôi bốt dã chiến của bộ binh, thì cứ mang. Nếu quân đội đặt mua bốn trăm ngàn khẩu Beretta, mà đội Delta thích SIG hơn, thì cứ dùng SIG. Nên Carbone không có một cái tủ đầy quân phục phẳng phiu sạch sẽ. Không có những hàng áo được giặt giũ, là gấp thẳng thớm, sẵn sàng lôi ra mặc. Không có đôi bốt sáng bóng nào dưới chân giường. Quần áo của anh ta chất đầy trên ba phần tư cái kệ dài ngay phía trên giường. Cũng chẳng nhiều nhặn gì. Chủ yếu là màu xanh ô liu, nhưng ngoài ra có vài thứ mà sĩ quan hậu cần hiện thời sẽ không nhận ra. Có vài món thuộc trang phục cũ mặc trong môi trường lạnh kéo dài của quân đội. Vài bộ dã chiến tiêu chuẩn đã phai màu. Không hề có dấu đơn vị hay huy hiệu

trung đoàn. Một khăn quấn đầu màu xanh. Vài áo thun màu xanh lá cũ, bị giặt nhiều lần đến nỗi gần như mất hẳn màu. Bên cạnh mớ áo thun là một bộ ALICE được cuộn gọn gàng. ALICE là viết tắt của All-Purpose Lightoeight Carrying Equipment, cái tên mà quân đội đặt cho cái đai mà anh đeo để treo vật dụng trên người. Ở

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 124

Đang tải bình luận...