1 Kẻ Thù

phần

phần

phần lớn màn che đã gãy hoặc cong queo hết cả. Ở bàn lễ tân không có người. Trong phòng kia thì có hai viên thanh tra, cùng mặc áo vét vải tuýt, cùng ngồi quay lưng lại với chúng tôi. Một

người là Clark. Anh ta đang nói chuyện điện thoại. Tôi rung lắc chốt cửa. Cả hai người họ đồng loạt quay lại. Clark ngớ ra một chút, ngạc nhiên, rồi vẫy tay mời chúng tôi vào. Chúng tôi kéo ghế theo rồi mỗi người ngồi một đầu bàn. Anh ta vẫn nói chuyện điện thoại. Chúng tôi đợi. Tôi tranh thủ nhìn quanh. Văn phòng trung úy có vách lắp kính cao ngang tầm hông trở lên. Trong ấy có đặt chiếc bàn khá lớn. Không có ai ngồi sau nó. Nhưng trên mặt bàn có đặt hai bản đắp thạch cao, như bản mà chuyên viên khám nghiệm của chúng tôi đã làm trước đó. Tôi không đứng dậy nhìn chúng. Làm thế e không lịch sự lắm. Clark dập máy rồi ghi chép gì đó vào một mẩu giấy vàng. Xong xuôi anh ta thở phào rồi ngả ghế thật thấp để có thể nhìn thấy cả hai chúng tôi. Nhưng không nói gì. Anh ta biết thừa chúng tôi đến đây đâu phải để xã giao. Nhưng đồng thời anh ta cũng chẳng muốn hỏi thẳng ra là chúng tôi có cái tên nào cho anh ta chưa. Anh ta không muốn bị tẽn tò nếu bọn tôi không có. “Bọn này ghé qua chơi thôi”, tôi nói. “OK”, anh ta đáp. “Toan nhờ anh chút”, tôi nói tiếp. “Nhờ gì vậy?” “Tính nhờ anh cho chúng tôi xem thông tin anh có về thanh xà beng. Dù sao giờ anh cũng đâu cần tới nữa. Anh tìm thấy thứ mình cần rồi mà”. “Thông tin gì?” “Anh liệt kê đủ các tiệm bán dụng cụ đó. Tôi nghĩ sẽ đỡ tốn thời gian hơn nếu chúng tôi tiếp tục việc anh đang làm dở”. “Tôi đánh fax tới anh là được thôi mà”, anh ta bảo. “Lỡ nhiều quá thì lại mất công anh”. “Lỡ hôm nay tôi nghỉ không đến văn phòng thì sao”. “Thì vậy mới bảo chúng tôi tiện đường ghé qua thôi mà”. “OK”, anh ta nhắc lại. “Thông tin về thanh xà beng hả”. Anh ta xoay ghế đứng dậy rồi bước tới một ngăn hồ sơ. Rồi trở lại với một tập hồ sơ màu xanh lá dày chừng một phân. Anh ta thả nó xuống bàn. Nó rơi thích một tiếng ra trò. “Chúc anh may mắn”, anh ta bảo. Anh ta ngồi xuống rồi tôi gật đầu ra hiệu cho Summer lấy tập hồ sơ. Cô mở nó ra. Bên trong đầy những giấy. Cô lướt qua chúng. Rồi nhăn mặt. Xong đưa tôi xem. Đó là một danh sách dài dằng dặc liệt kê những nơi từ bang New Jersey đến tận Bắc Carolina. Nó ghi đầy đủ tên và địa chỉ

và số điện thoại. Chín mươi dòng đầu được đánh dấu bên cạnh. Từ đó trở xuống tầm bốn trăm dòng sau thì không. “Anh nên lưu ý”, Clark nói. “Có nơi gọi nó là xà beng còn nơi khác lại gọi là cây này. Nên nhớ kẻo nói ra người ta không hiểu”. “Chúng có nhiều kích thước không?” “Đa dạng lắm. Cây của chúng tôi khá bự”. “Tôi xem được không nhỉ? Hay là các anh cất trong phòng vật chứng rồi?” “Vật chứng gì chứ”, Clark nói. “Nó đâu phải là hung khí thật. Chỉ là một mẫu tương tự chúng tôi mượn từ cửa tiệm ở Sperryville thôi. Làm sao đem nó ra tòa đối chứng được”. “Nhưng nó khớp với mẫu thạch cao của các anh”. “Vừa y luôn”, anh ta nói. Anh ta đứng dậy lần nữa rồi bước vào văn phòng trung úy lấy hai bản thạch cao, Anh ta đem cả hai đặt lên bàn mình. Trong chúng trong tự hai bản của chúng tôi. Một bản lồi, một bản lõm, giống cái chúng tôi có. Xét đường kính thì đầu bà Kramer nhỏ hơn nhiều so với Carbone. Vậy thanh xà beng này có ít không gian tác động hơn. Nên mẫu vết thương trên tấm thạch cao này ngắn hơn một chút so với tấm của chúng tôi. Dù vậy vết thương trông vẫn sâu hoắm và hiểm vô cùng. Clark nhặt nó lên và men ngón tay theo rãnh vết thương. “Một cú đánh hung tợn”, anh ta nói. “Chúng tôi đang tìm một kẻ cao lớn, vạm vỡ, thuận tay phải. Anh có thấy ai như vậy không?” “Lần nào tôi nhìn gương cũng thấy”, tôi đáp. Tấm đắp mẫu hung khí cũng ngắn hơn tấm của chúng tôi. Nhưng ngoài điều đó ra thì chúng giống hệt nhau. Cũng một khối trắng, rỗ một đôi chỗ do tính chất của thạch cao, nhưng về cơ bản là nhẵn và mịn, và đều mang dấu vết tàn bạo như nhau. “Cho tôi xem thanh xà beng này được không?” tôi hỏi. “Được chứ”. Clark đáp. Anh ta cúi xuống mở một ngăn kéo. Để nó mở toang như trưng bày cho chúng tôi thấy và đẩy ghế qua một bên nhường chỗ cho tôi. Tôi rướn tới nhìn xuống và thấy một vật màu đen uốn khúc hệt như cái tôi đã thấy sáng hôm trước. Cùng kiểu dáng, cùng khúc cong, cùng màu, cùng kích thước, cùng mỏ này, cùng khuôn bát giác. Cùng độ bóng đó, chính xác đến từng li. Nó giống thanh xà beng chúng tôi để lại văn phòng nhà xác tại trại Bird như hai giọt nước. * * * Chúng tôi lái mười dặm đến Sperryville. Tôi lướt qua danh sách của

Clark để tìm địa chỉ tiện dụng cụ kia. Nó nằm ngay dòng thứ năm, bởi vì nó ở gần Green Valley. Nhưng nó không được đánh dấu ở ô ghi số điện thoại. Mà lại được ghi chú bằng bút chì một dòng sau: Không bắt máy. Tôi đoán chủ tiệm đang bận vật lộn với thợ lắp kính và công ty bảo hiểm. Tôi nghĩ lính của Clark sớm muộn cũng gọi lại cho tiệm này, nhưng trước đó thì còn mải bù đầu với cuộc tìm kiếm của họ. Sperryville lại chẳng là nơi rộng lớn gì cho cam, nên chúng tôi tà tà vòng quanh lần mò địa chỉ. Chúng tôi thấy một loạt cửa hàng trên một góc đường, rồi sau khi vòng qua nó những ba lần mới tìm thấy đúng tên đường trên một tấm biển xanh lá. Tấm biển đó hướng chúng tôi tới một con hẻm cụt. Chúng tôi đi giữa hai bên tường ghép ván của hai ngôi nhà rồi con hẻm cụt đó chợt nở rộng ra sau thành một khoảnh sân nhỏ, tiệm dụng cụ kia nằm chờ chúng tôi ở cuối đường. Nó giống kho thóc một tầng, được sơn sửa cho giống nhà thành thị hơn là nông thôn. Một cơ sở kinh doanh hộ gia đình thường thấy. Trên tấm bảng hiệu cũ có sơn cái họ. Trông không giống một chi nhánh bán lẻ thuộc tập đoàn lớn nào cả. Chỉ là một cửa hàng kinh doanh nhỏ của Mỹ,nằm lẻ loi một mình, chúng kiến biết bao chìm nổi của các thế hệ gia đình. Nhưng nó cũng là một nơi lý tưởng để đột nhập ăn trộm giữa đêm khuya. Im ắng, cách biệt, vô hình trước những người qua lại trên con đường chính, không có tầng hai. Ngoài mặt tiền bên trái là một ô cửa kính trưng bày và cạnh nó bên phải là cửa ra vào, chính giữa cả hai chỉ có khung cửa ngăn cách. Trên mặt kính có một cái lỗ tròn, tạm thời được che chắn bằng một tấm ván thô. Tấm ván đã được gọt gọn cho vừa kích cỡ. Tôi đoán cái lỗ do đế giày đạp vào gây nên. Nằm rất gần cánh cửa. Tôi đoán một tay cao to có thể thò cánh tay trái vào đến vai và với được chốt cửa dễ dàng. Nhưng hắn sẽ phải cho cả cánh tay vào trong rồi mới từ từ thận trọng có tay để tránh không làm rách áo. Tôi hình dung hắn áp má trái vào mặt kính lạnh, trong bóng tối, thở dốc, bàn tay quơ cào bên trong. Chúng tôi dừng xe ngay trước cửa tiệm và bước ra. Cả hai đứng ngoài nhìn vào cửa kính một chút. Bên trong trung bày đủ thứ hàng hóa. Thế nhưng tiệm này còn lâu mới có cửa được dọn đến khu Saks Fifth Avenue sang trọng. Nhất là với kiểu mặt tiền trưng bày nhà quê thế này. Không có tí thẩm mỹ nào cả. Không có ý sắp đặt. Không có gì nổi trội để kéo khách vãng lai. Tất cả chỉ được bày gọn gàng trên những chiếc kệ đóng tay. Thứ nào cũng được gắn thẻ báo giá. Mặt tiền như muốn

nói: Chúng tôi có những món này. Bạn muốn gì, xin mời vào. Nhưng trông chúng có vẻ là hàng xịn cả. Có vài thứ khá lạ mắt. Chính tôi cũng chẳng biết những thứ ấy dùng để làm gì. Tôi không rành các loại đồ nghề lắm. Tôi hiếm khi dùng gì, trừ vài loại dao. Nhưng có thể thấy rằng cửa tiệm này chọn lọc mặt hàng khá cẩn thận. Chúng tôi bước vào trong. Chiếc chuông điện tử gắn bên của reo lên khi chúng tôi tiến vào. Bên trong giữ nguyên sự ngăn nắp và gọn gàng mà chúng tôi thấy từ ngoài cửa sổ. Những chiếc kệ, ngăn tủ và thùng ống được đặt đâu ra đó. Sàn lát ván gỗ to. Có mùi dầu máy phảng phất đâu đây. Cửa tiệm im ắng. Không một người khách. Có một người đàn ông ngồi sau quầy, chùmg sáu mươi hay bảy mươi tuổi. Ông ta nghe tiếng chuông thì ngược lên nhìn chúng tôi. Ông ta có vóc người tầm trung, gầy và hơi còng. Ông ta đeo chiếc kính gọng tròn và khoác áo len màu xám. Chúng cho ông ta cái vẻ ngoài đầy tri thức, nhưng đồng thời cũng ám chỉ rằng trừ cây tuốc nơ vít nhỏ ra thì ông ta chẳng quen sử dụng thứ gì khác. Chúng khiến ông ta trông giống với một giáo sư đại học chuyên giảng dạy về lịch sử, thiết kế và sự biến đổi của những thủ dụng cụ này hơn, còn mở cửa tiệm bán chỉ là việc chẳng đặng đừng. “Tôi giúp gì được hai vị?” ông ta hỏi. “Chúng tôi đến vì vụ cây nạy bị mất cắp”, tôi bảo. “Hay là thanh xà beng, tùy theo cách gọi của ông”. Ông ta gật đầu. “Xà beng chứ”, ông ta nói. “Cây nạy nghe hơi thô thiển quá, tôi thấy vậy”. “OK, bọn tôi đến vì thanh xà beng bị mất cắp”, tôi bảo. Ông ta cười vắn. “Cậu bên quân đội mà. Bộ chính phủ tuyên bố thiết quân luật rồi à?” “Chúng tôi có việc liên quan cần điều tra”, Summer bảo. “Cô cậu là Quân cảnh phải không?” “Phải ạ”, Summer nói. Rồi cô trình bày tên họ và cấp bác của chúng tôi. Ông ta đáp lại bằng tên mình, và nó trùng với cái tên vẽ trên bảng hiệu kia. “Chúng tôi muốn tìm hiểu một chút”, tôi nói. “Về thị trường xà beng”. Mặt ông ta hiện lên vẻ quan tâm, nhưng không mấy hứng thú. Hệt như khi anh hỏi một chuyên viên khám nghiệm về cách lấy dấu vân tay thay vì kiến thức ADN vậy. Tôi cảm giác rằng đã từ lâu rồi thị trường xà beng chẳng phát triển được bao nhiêu.

“Nên bắt đầu từ đâu nhỉ?” ông ta hỏi. “Có bao nhiêu loại chẳng hạn?” “Hàng tá ấy”, ông ta đáp. “Tôi làm ăn với ít nhất sáu đối tác sản xuất. Ngoài họ ra tôi còn từ chối cả đống nơi khác”. Tôi nhìn quanh cửa tiệm. “Vì ông chỉ bán loại hàng chất lượng cao mà thôi”. “Chính phải”, ông ta bảo. “Nếu chỉ về giá thì tôi cũng chẳng cạnh tranh nổi với các chuỗi lớn. Nên tôi bắt buộc phải bán những mặt hàng chất lượng tốt với dịch vụ hạng nhất”. “Nhắm vào thị trường ngách”, tôi bảo. Ông ta gật đầu lần nữa. “Xà beng chất lượng thấp thường là đồ Tàu”, ông ta nói. “Toàn là gang, thép rèn và sắt rởm, và được sản xuất hàng loạt. Tôi chẳng màng tới thứ ấy”. “Vậy ông hay lựa loại nào?” “Tôi nhập nhiều xà beng titanium từ châu Âu”, ông ta bảo. “Rất đắt, đồng thời rất bền. Và quan trọng nhất là vô cùng nhẹ. Chúng thường được trang bị cho cảnh sát và lính cứu hỏa. Hoặc dùng dưới nước, mà không sợ bị gỉ sét. Hoặc bất cứ ai cần thanh xà beng nào vừa nhỏ vừa nhẹ đặng dễ đem theo bên mình”. “Nhưng thanh bị mất cắp đâu phải loại đó”. Ông già lắc đầu. “Không, xà beng titanium là hàng dành cho dân nhà nghề thôi. Thứ tôi thường bán thì phổ thông hơn chut”. “Vậy chúng là gì?” “Đây là một cửa tiệm nhỏ”, ông ta bảo. “Tôi phải cân nhác mặt hàng bán ra rất kỹ lưỡng. Điều đó vừa gây áp lực cho tòi, vừa khiến tôi thích thú vô cùng, vì quyền được lựa chọn chính là sự tự do. Chỉ mình tôi, và riêng tôi, được quyền quyết định chúng. Vậy nên rõ ràng là, với một thanh xà beng, tôi phải chọn loại thép crôm có hàm lượng các bon cao. Rồi đến câu hỏi tiếp theo, là nên chọn loại được tôi một lần, hay tôi hai lần? Thú thật thì tôi luôn chọn loại tôi hai lần, vì chúng cứng cáp hơn. Và tôi thích loại xà beng có móng mỏng, vì tiện dụng, và nhất thiết phải được tôi cứng, vì an toàn. Có ngày chúng sẽ cứu mạng anh đó, trong một số tình huống nhất định. Chẳng hạn như khi đang ở trên xà nhà cao tít kia, móng xà beng mà bị gãy. Anh ngã là cái chắc”. “Chắc là vậy”, tôi nói. “Rồi, tổng kết lại là thép tốt này, được tôi hai lần này, và có móng cứng. Cuối cùng ông chọn loại nào vậy?”

“Thật ra thì, có lúc tôi phải xuề xòa chút với hàng hóa của mình. Đối tác tối đa nhất toàn sản xuất xà beng dài từ mười tám inch trở lên. Mà tôi lại chỉ cần loại chừng mười hai inch mà thôi, hiển nhiên”. Mặt tôi lúc đó chắc nhìn ngây đơ lắm. “Để tiện xử lý khung tường hay rầm nhà chứ”, ông già giải thích. “Nếu cậu xử lý trong một khu vực chừng mười sáu inch, thì làm sao sử dụng thanh xà beng dài mười tám inch đưỢC, phải không?” “Chắc là không” tôi đáp. “Vậy nên tôi lấy loại xà beng dài mười hai inch, dày chừng nửa inch từ đối tác khác, dù chúng chỉ được tôi một lần. Thật ra tôi thấy chúng cũng đủ đáp ứng. Về độ cứng cáp. Với chỉ mười hai inch tác dụng, lực của một người tạo ra sẽ chẳng thể làm nó gãy được”. “OK”, tôi nói. “Ngoài thứ vừa kể và loại hàng titanium dành cho chuyên gia kia, tôi luôn đặt hàng từ một xưởng lâu đời ở thành phố Pittsburgh tên là Fortis. Họ thường làm hai mẫu cho tôi. Một mẫu mười tám inch, và một mẫu ba feet. Cả hai đều dày ba phần tự inch. Đều dùng loại thép crôm các bon cao được tôi hai lần, móng được tôi cứng, và được phủ lớp son mịn cao cấp”. “Và chính thanh ba feet kia là thứ bị mất cắp, tôi nói. Ông ta trố mắt nhìn như thể tôi là một nhà ngoại cảm vậy. “Thanh tra Clark cho chúng tôi xem vật mẫu anh ta mượn từ ông mà”, tôi nói. “Ra vậy”, ông ta đáp. “Rồi, vậy thanh xà beng dài ba mươi sáu inch, dày ba phần tư inch của xưởng Fortis đó là hàng hiếm?” Ông ta làm mặt như thể hơi thất vọng vậy. “Một năm tôi chỉ bán được một thanh như vậy”, ông ta nói. “Nếu may thì bán được hai. Chúng đắt lắm. Bây giờ còn ai màng đến chất lượng nữa. Có mất công trình bày cũng đâu ai thèm nghe”. “Ở đâu cũng vậy à?” “Ở đâu là sao?” ông ta lặp lại. “Ý là những tiệm khác đó. Trong vùng này ạ. Với thanh xà beng Fortis ấy”. “Tôi xin lỗi”, ông ta nói. “Chắc do tôi nói không rõ nghĩa. Chúng được sản xuất riêng cho tiệm tôi. Theo đúng thiết kế của tôi. Chuẩn từng li theo chi tiết tôi yêu cầu. Chúng là hàng đặt làm riêng mà”.

Tôi trố mắt nhìn ông ta. “Chúng được làm riêng cho tiệm này sao?” Ông ta gật đầu. “Lợi ích của hộ kinh doanh cá nhân đó”. “Đúng nghĩa độc quyền sao?” Ông ta gật đầu lần nữa. “Độc nhất vô nhị”. “Ông bán được một thanh như vậy gần đây nhất là bao lâu?” “Chừng chín tháng trước”. “Lớp son có tróc không?” “Tôi hiểu ý cậu muốn hỏi”, ông ta nói. “Và câu trả lời đương nhiên là có. Nếu tìm được một thanh như vậy mà mới toanh, thì chỉ có thể là thanh bị mất cắp vào đêm Giao thừa mà thôi”. * * * Chúng tôi mượn một thanh mẫu giống hệt để đem về so sánh, như thanh tra Clark đã làm trước đó. Thanh xà beng được bôi dầu máy và đượC quấn một lớp giấy quanh thân giữa. Chúng tôi kính cẩn đặt nó lên băng ghế sau của chiếc Chevy hệt như một chiếc cúp. Rồi chúng tôi dùng bữa trong xe. Hai cái bánh mì kẹp thịt, mua từ một tiệm ăn nhanh cách cửa hàng dụng cụ một trăm yard về hướng Bắc. “Dợt lại tôi nghe ba đầu mối mới nào”, tôi nói. “Thứ nhất, bà Kramer và Carbone bị giết bằng cùng một thứ hung khí. Thứ nhì, nếu gắng Công tìm mối liên kết giữa hai vụ đó ta sẽ bị tẩu hỏa nhập ma”. “Và thứ ba?” “Tôi chịu thua sếp”. “Thứ ba, là hung thủ rất rành khu Sperryville này. Làm sao cô tìm nổi cửa tiệm đó vào lúc tối trời, khi đang vội vàng chứ, trừ phi mình rất thông thuộc nơi đây?” Chúng tôi nhìn về phía trước qua lớp kính chắn gió của xe. Từ xa chỉ có thể thoáng thấy ngõ hẻm đó. Nhưng đó là do chúng tôi đã biết trước vị trí của nó rồi. Và trời đang sáng nữa. Summer nhắm mắt lại. “Tập trung vào hung khí xem nào”, cô nói. “Mặc kệ những thứ khác. Hình dung ra nó đi. Thanh xà beng được đặt sản xuất riêng. Độc nhất vô nhị. Nó được đem ra từ chính của tiệm kia. Rồi nó đến Green Valley vào lúc hai giờ sáng mồng một tháng Giêng. Rồi nó xuất hiện tại trại Bird vào chín giờ tối mồng bốn. Nó đã có một hành trình ra trò. Ta biết điểm xuất phát, cũng như điểm đến của nó. Ta không rõ nó đã đi đâu, nhưng chắc chắn nó đã ghé ngang qua một điểm nhất định trên đường đi. Nó

phải đi qua cổng chính trại Bird. Ta không biết vào lúc nào, nhưng nó chắc chắn đã đi qua cổng chính”. Cô mở mắt. “Ta phải quay về thôi sếp”, cô bảo. “Ta phải xem lại nhật ký xuất nhập trại. Thời điểm sớm nhất mà thanh xà beng kia đi qua cổng chính là sáu giờ sáng mồng một tháng Giêng, bởi vì trại Bird cách Green Valley bốn giờ đồng hồ đi xe. Muộn nhất là, khoảng, tám giờ tối mồng bốn tháng Giêng. Một khung thời gian tám mươi sáu giờ đồng hồ. Ta cần kiểm tra tất cả những ai đã nhập trại trong khung giờ đó. Bởi vì ta biết chắc thanh xà beng đã qua cổng, và ta biết chắc rằng nó không mọc chân tự bước vào trại được”. Tôi không đáp. “Xin lỗi sếp”, cô nói. “Ta sẽ phải điểm qua nhiều cái tên lắm đó”. * * * Cái cảm giác lêu lổng kia biến mất hoàn toàn. Chúng tôi lại lên đường nhắm về hướng Đông, tìm cao tốc I-95. Chúng tôi tìm thấy nó rồi rẽ về hướng Nam, trại Bird thẳng tiến. Trở về với thằng cha Willard léo nhéo trên điện thoại, Trở về với đội Delta đang sùng sục cơn giận. Xe chúng tôi lướt dưới bụng bóng mây xám ngoét trước khi tới vạch biên giới bang Bắc Carolina. Trời trở tối. Summer bật đèn pha. Chúng tôi đi ngang qua tòa nhà Sở Cảnh sát bang nằm phía bên kia đường. Đi ngang qua nơi tìm thấy chiếc cặp táp của Kramer. Đi ngang qua trạm dừng chân một dặm sau. Chúng tôi nhập vào đường nhánh của cao tốc Đông Tây rồi trở ra đoạn giao lộ hình hoa thị bên cạnh quán trọ mà Kramer bị giết. Nó trôi về phía sau khi xe chúng tôi lao trên chặng đường ba mươi dặm còn lại tới Cổng chính trại Bird. Toán Quân cảnh trong bốt canh ký nhận giờ chúng tôi nhập trại là 1930 đúng. Tôi dặn họ sao chép toàn bộ nhật ký bắt đầu từ 0600 sáng mồng một tháng Giêng tới 2000 tối mồng bốn tháng Giêng. Tôi yêu cầu họ * * * Văn phòng tôi im ắng lắm. Sự hỗn loạn ban sáng đã biến mất hoàn toàn. Cô trung sĩ Có đứa con trai kia đã đến trực. Trông Cô có vẻ mệt mỏi. Tôi đoán Cô không được ngủ đầy đủ. Cô trực thâu đêm rồi chắc còn phải chơi với đứa con suốt ngày. Khổ nhọc thật. Cô đang pha cà phê. Tôi đoán cô đang thèm một tách y như tôi vậy. Có khi còn hơn tôi ấy chứ. “Phía Delta đang loạn cả lên đó sếp”, cô nói. “Họ biết sếp bắt người

Bulgaria kia rồi”. “Tôi có bắt anh ta đâu. Chỉ hỏi anh ta vài câu thôi mà”. “Họ thèm biết sự khác biệt ấy làm gì đâu. Cứ lâu lâu họ lại tới tìm sếp đó”. “Họ có mang theo vũ khí không?” “Bọn họ cần gì vũ khí. Nhất là với bên đó. Sếp nên cấm họ rời khỏi khu trại của mình. Sếp có quyền đó mà. Dù sao sếp cũng đang là quyền sĩ quan chỉ huy Quân cảnh ở đây mà”. Tôi lắc đầu. “Còn gì nữa không?” “Sếp cần phải gọi cho đại tá Willard trước nửa đêm, bằng không ông ta sẽ buộc tội sếp vắng mặt không phép. Ông ta quả quyết lắm đó”. Tôi gật đầu. Đó đương nhiên là nước cờ tiếp theo của Willard. Tội vắng mặt không phép chẳng ảnh hưởng gì nặng với một sĩ quan chỉ huy. Nó chẳng nói rằng anh ta không còn khả năng làm việc. Tội vắng mặt không phép chỉ gán lên một kẻ bỏ trốn, đơn giản là vậy thôi. “Còn gì nữa không?” tôi hỏi lần nữa. “Sanchez nhắn lệnh 10-16”, cô bảo. “Tại trại Jackson. Và anh trai sếp có gọi tới”. “Có nhắn gì không?” tôi hỏi. “Không ạ”. “OK”, tôi bảo. Tôi trở vào bàn làm việc. Nhấc điện thoại bàn lên. Summer bước tới bên tấm bản đồ. Cô lần ngón tay trên các cây đinh ghim, từ Thủ đô đến Sperryville, Sperryville đến Green Valley, Green Valley tới trại Bird. Tôi gọi Joe. Anh bốc máy sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 144

Đang tải bình luận...