1 Kẻ Thù

phần cũng hoàn toàn chính xác.

phần cũng hoàn toàn chính xác.

phần cũng hoàn toàn chính xác. “Vậy chuyện gì sẽ xảy ra?” tôi hỏi. “Tương tự như điều diễn ra với bên Hải quân năm 1941 thôi”, Simon bảo. “Chỉ sau một đêm, tàu chiến đã là dĩ vãng, và hàng không mẫu hạm lên ngôi. Nên chúng ta, bây giờ, phải biết thích nghi. Ta cần hiểu rằng đơn vị hạng nhẹ của chúng ta quá yếu, còn đơn vị hạng nặng lại chậm rì. Ta cần xóa bỏ ranh giới nặng-nhẹ này. Ta cần bổ sung các lữ đoàn phản ứng nhanh, trang bị thiết giáp nhẹ hơn hai chục tấn và đủ nhỏ để chứa trong khoang máy bay vận tảiC-130. Ta cần phải tiếp cận mục tiêu nhanh hơn, và chiến đấu khôn ngoan hơn. Đã qua rồi cái thời ta dàn trận cho những con khủng long đánh nhau”. Rồi anh ta mỉm cười. “Nói chung là ta nên để bộ binh lên nắm quyền”, anh ta nói. “Anh có thảo luận những chuyện này với người như Marshall không?”

“Với tay lên kế hoạch của họ á? Không đời nào”. “Bọn họ nghĩ thế nào về tương lai?” “Tôi chịu. Và tôi cũng chẳng quan tâm. Tương lai thuộc về bộ binh”. * * * Món tráng miệng là bánh táo, rồi chúng tôi dùng cà phê. Vẫn là thứ cà phê ngon xuất sắc quen thuộc. Chúng tôi rút chân ra khỏi tương lai, trở về nói chuyện phiếm thời hiện tại. Phục vụ đi tới đi lui, lặng lẽ. Một buổi tối quen thuộc, tại một phòng ăn sĩ quan cách phòng ăn trước bốn ngàn dặm. “Marshall sẽ về lúc bình minh”, Swan bảo tôi. “Cậu cứ trông chiếc xe trinh sát đi cuối hàng xe tiến vào trại ấy”. Tôi gật đầu. Tính nhẩm bình minh trong tháng Giêng ở Frankfurt sẽ lên vào lúc bảy giờ sáng. Trung tá Simon chúc chúng tôi ngủ ngon rồi đi mất. Summer đẩy ghế ra sau rồi ngả người, ngả hết mức thân hình nhỏ nhắn của cô cho phép. Swan ngồi chúi người tới trước, chống cùi chỏ lên bàn. “Cậu nghĩ trại này có nhiều ma túy không?” tôi hỏi anh ta. “Cậu muốn à?” anh ta hỏi. “Heroin”, tôi bảo. “Không phải cho tôi”. Swan gật đầu. “Quân nhân ở đây bảo rằng có nhóm người Thổ đi xuất khẩu lao động sang Đức biết mối ma túy. Thể nào chả có tay buôn nào đó, tôi chắc thế”. “Cậu gặp thằng cha nào tên Willard chưa?” tôi hỏi anh ta. “Ông sếp mới á?” anh ta nói. “Tôi nhận được tin báo. Chưa từng gặp mặt. Nhưng vài người ở đây biết lão. Một tay tình báo dặt dẹo, có dính líu gì đó tới Thiết giáp”. “Lão viết thuật toán”, tôi bảo.

“Cho cái gì?” “Tính độ tiêu hao nhiên liệu của xe tăng T-80 Xô Viết, tôi nhớ vậy. Nhờ lão mà ta biết được cách luyện quân của họ”. “Giờ lão quản lý Đội 110 sao?” Tôi gật đầu. “Tôi biết mà”, tôi nói. “Kỳ dị lắm”. “Lão làm thế nào vậy?” “Rõ ràng là có người thích lão chứ sao”. “Ta nên tìm xem là ai. Rồi viết thư chửi đổng”. Tôi gật đầu lần nữa. Cả triệu quân nhân, hàng trăm tỷ đô la, mà cuối cùng hơn thua nhau ở mối quan hệ. Ôi dào, biết làm sao giờ? “Tôi đi ngủ đây”, tôi bảo. * * * Phòng của tôi trông giống hệt bao nơi khác, khiến tôi thoáng quên mất mình đang ở đâu sau khi đóng cửa phòng. Tôi treo quân phục lên tủ rồi rửa ráy và bò lên giường. Chăn gối có mùi loại thuốc tẩy mà quân đội dùng ở mọi nơi. Tôi nhớ tới mẹ ở Paris và Joe ở Thủ đô. Mẹ lên giường rồi, chắc vậy. Joe thì hẳn còn thức, làm việc gì đó anh đang làm. Tôi tự nhủ sáu giờ sáng rồi nhắm mắt lại. * * * Bình minh ló dạng vào sáu giờ năm mươi, lúc đó tôi đã đứng cạnh Summer trước cửa Đông của trụ sở Quân đoàn XII, Chúng tôi đều cầm tách cà phê trên tay. Mặt đất đóng băng, còn không khí vẫn vương sương khói. Bầu trời xám xịt và khung cảnh đượm màu xanh lá nhạt. Đồi núi nơi đây thấp tịt, nhấp nhô và tẻ nhạt, như nhiều nơi ở châu Âu. Đây đó lại mọc lên vài cụm cây

thẳng, nho nhỏ. Tiết trời mùa đông lặng lẽ, nức mũi thiên nhiên giá lạnh. Vạn vật rất yên tĩnh. Con đường chạy xuyên qua cánh cổng rồi bẻ sang hướng Đông và hơi nghiêng một chút về hướng Bắc, dẫn vào sương mù, tới nước Nga. Đường rất rộng và thẳng thớm, làm từ bê tông cốt thép. Hàng đá lề đường bị mẻ đôi chút vì vết bánh xe tăng. Có nơi vắng mất cả mảng lớn. Xe tăng là thứ khó lái. Chúng tôi đợi. Vẫn im lặng. Rồi chúng tôi nghe thấy họ. Âm thanh nào mới là đặc trưng của thế kỷ hai mươi? Anh tha hồ tranh luận. Có người bảo là tiếng rầm rì chậm rãi của động cơ máy bay. Có thể là từ một máy bay chiến đấu Cô độc giữa bầu trời xanh ngát của những năm 1940. Hoặc là tiếng rít của máy bay phản lực bay đà thấp, làm rung chuyển mặt đất. Hoặc là tiếng phần phật của cánh quạt trực thăng. Hoặc là tiếng gầm khi cất cánh của chiếc 747 bề thế. Hoặc là tiếng nổ đanh tại của trái bom rơi xuống một thành phố. Chúng đều hợp lý cả. Chúng đều là những âm thanh độc đáo của thế kỷ hai mươi. Chưa ai nghe thấy chúng trước đó. Chưa từng, trong suốt chiều dài lịch sử. Một số kẻ lạc quan sẽ cãi rằng nhạc của Beatles mới là thứ âm thanh đặc biệt của thế kỷ này. Một điệp khúc yeah, yeah, yeah chìm dưới tiếng gào thét của khán giả. Tôi sẽ đồng cảm với lựa chọn đó. Nhưng một bài hát và những tiếng thét gào làm sao đạt tiêu chuẩn ta đang bàn. Âm nhạc và sự khuấy động đã xuất hiện từ thuở hồng hoang. Chúng đâu Có đượC sáng chế sau những năm 1990. Không, âm thanh đặc trưng của thế kỷ hai mươi là tiếng rít và lách cách của bánh xích xe tăng trên mặt đường lát đá. Âm thanh đó đã vang lên ở Thủ đô Warsaw, ở Rotterdam, ở Stalingrad và ở Berlin. Rồi họ lại nghe thấy chúng ở Budapest, Prague, Seoul và Sài Gòn. Một thứ âm thanh hung tợn. Một thứ âm thanh đáng sợ. Nó vang lên thứ tiếng của sức mạnh vượt trội. Và nó là thứ âm thanh của sự lạnh lùng, bàng quan vô nhân tính. Tiếng rít và lách cách của xích xe tăng là lời cảnh báo rằng chúng không thể bị ngăn chặn. Nói rằng anh quá yếu ớt và bất lực để có thể đối đầu với cỗ máy sắt thép. Rồi một bên bánh xích khựng lại, còn bánh xích kia tiếp tục xoay vòng, và chiếc xe tăng quay

đầu, lao thẳng tới anh, gầm rít những tiếng kinh hoàng. Đấy mới là âm thanh thực thụ của thế kỷ hai mươi này. Chúng tôi nghe tiếng cụm xe tăng Abrams của Quân đoàn XII trước cả khi nhìn thấy chúng. Thứ âm thanh đó xé màn sương lao đến chúng tôi. Chúng tôi nghe tiếng bánh xích, và tiếng động cơ rin rít. Chúng tôi nghe tiếng nghiền của bánh rằng, và cảm thấy mặt đất rung lên dưới đế giày khi vòng xích chuyển động. Chúng tôi nghe sỏi đá bị nghiền nát dưới thân máy đồ sộ. Rồi chúng tôi cũng thấy chúng. Chiếc xe tăng dẫn đầu lừ lừ hiện ra trước mắt qua màn sương. Nó chạy rất nhanh, hơi rung lắc, bám đất, động cơ gầm rú. Phía sau là một chiếc khác, và sau nó là một chiếc nữa. Tất cả đi thành một hàng đơn, như một đội quân trồi lên từ địa ngục. Quả là một cảnh tượng hoành tráng. Dòng tăng M1A1 Abrams như một con cá mập, tiến hóa đến chừng hoàn mỹ. Nó là vị vua không đối thủ của chốn sơn lâm. Chẳng có loại xe tăng nào khác trên thế giới này có khả năng làm nó sứt mẻ. Nó được bọc trong bộ giáp làm từ urani nghèo kẹp giữa các phiến thép cán. Bộ giáp cực dày và bất khả xâm phạm. Bom đạn chiến trường, lẫn tên lửa bắn tới đều bị nó hất văng đi. Nhưng chiêu ăn tiền của nó là biết đứng ở khoảng cách thật xa, nơi đạn chiến trường hay tên lửa đều không thể bắn tới. Nó ngồi yên đó, nhìn hỏa lực đối phương bay hết tầm và rơi lả tả xuống đất trước mặt. Rồi nó xoay nòng súng uy lực của mình và khai hỏa, và một giây sau, khoảng cách một dặm rưỡi, kẻ thù của nó nổ tung và bốc lửa ngùn ngụt. Đó mới thật là lợi thế tối thượng, vô cùng bất công. Chiếc xe tăng dẫn đầu lăn bánh ngang qua chúng tôi. Ngang mười một feet, dài hai mươi sáu feet, cao chín feet rưỡi. Bảy chục tấn. Động cơ của nó rú lên, và trọng lượng của nó làm rung chuyển mặt đất. Bánh xích rít lên, rung lách cách rồi trườn qua mặt đường bê tông. Rồi đến chiếc thứ hai. Và chiếc thứ ba, thứ tư và thứ năm. Tiếng ồn đinh tai. Mùi sắt thép ngập ngụa không khí. Nòng súng của chúng chúc xuống rồi lắc lư rồi nẩy lên liên tục. Khói xả bao khắp xung quanh. Tất thảy có tới hai chục chiếc xe tăng trong đội hình. Chúng lao qua cổng chính, và tiếng ồn cùng sự rung lắc dần biến mất sau lưng chúng tôi, và rồi một khoảng trống, theo sau là một chiếc xe trinh sát rõ sương mờ tiến tới

trúng tôi. Đó là một chiếc Humvee kiểu bắn-rồi-phắn, có trang bị tên lửa chống tăng TOW-2. Có hai người ngồi trên ấy. Tôi bước ra trước đầu xe rồi giơ một tay lên. Khựng lại. Tôi không quen Marshall và chỉ mới gặp hắn một lần, khi hắn ngồi trong bóng tối của chiếc xe Grand Marquis bên ngoài cổng chính trại Bird. Nhưng dù vậy, tôi khá chắc rằng cả hai gã ngồi trong xe đều không phải hắn. Tôi nhớ Marshall cao lớn và ngăm đen, còn hai gã này lại nhỏ người, vốn là đặc trưng của lính Thiết giáp. Một thứ mà xe tăng Abrams không đáp ứng được là không gian rộng rãi trong buồng lái. Chiếc Humvee dừng lại ngay trước tôi, và tôi đảo một vòng tới bên cửa sổ xe ghế lái. Summer vòng qua đứng bên kia, tư thế thả lỏng. Tay tài xế hạ kính xuống. Lườm mắt nhìn tôi. “Tôi đang tìm thiếu tá Marshall”, tôi bảo. Tay tài xế và người đi cùng đều là đại úy. Cả hai đều mặc bộ chống cháy Nomex của lính xe tăng, với mũ trùm đầu hở mặt và mũ Kevlar chống đạn có gắn tai nghe. Gã ngồi trên ghế hành khách có đầy bút cắm trong túi áo. Hai bên đùi buộc bảng kẹp giấy. Tất cả đều chi chít những chữ. Có vẻ là một loại bảng điểm nào đó. “Marshall không có ở đây”, tay tài xế đáp. “Vậy anh ta ở đâu?” “Ai đang hỏi vậy?” “Anh có mắt mà”, tôi bảo. Tôi đang mặc bộ dã chiến ngày hôm qua. Chúng được thêu hình lá sồi trên cổ áo, với chữ Reacher trên bảng tên. “Thuộc đơn vị nào?” gã hỏi. “Anh không muốn biết đâu”. “Marshall tới California rồi”, gã bảo. “Thuyên chuyển công tác khẩn cấp tới trại Irwin”. “Từ bao giờ vậy?”

“Tôi không rõ”. “Cố nhớ xem”. “Lúc nào đêm qua thì phải”. “Nói gì chung chung thế”. “Thật tình tôi không rõ mà”. “Có việc gì khẩn cấp trại Irwin vậy?” “Cái đó tôi cũng không rõ luôn”. Tôi gật đầu. Lùi lại. “Đi đi”, tôi bảo. Chiếc Humvee trườn đi giữa hai chúng tôi, rồi Summer bước tới cạnh tôi giữa đường. Không khí sặc mùi diesel và khói xả, còn mặt đường bê tông bị cào trắng xóa bởi bánh xích xe tăng đi qua. “Chuyến này vô ích rồi sếp”, Summer nói. “Chưa chắc”, tôi bảo. “Tùy vào thời điểm chính xác Marshall rời đi. Nếu như hắn đi sau cuộc gọi của Swan, thì tất có điều gì đó ở đây”. * * * Chúng tôi chạy tới lui qua ba văn phòng khác nhau, cố gắng tìm xem tay Marshall kia rời trụ sở Quân đoàn XII chính xác vào lúc nào. Chúng tôi lên tới một phòng lớn ở tầng hai nơi chuẩn tướng Vassell làm việc. Vassell không có ở đó. Tôi nói chuyện với một tay đại úy khác. Trông anh ta có vẻ là chỉ huy của một đại đội hành chính. “Thiếu tá Marshall bắt chuyến bay dân sự vào lúc mười một giờ tối”, anh ta bảo. “Từ Frankfurt tới sân bay Dulles. Đợi bảy tiếng nói chuyện tới sân bay LAX từ sân bay National. Chính tay tôi cấp giấy đi đường”.

“Khi nào?” “Ngay khi anh ta rời đi đó”. “Là lúc mấy giờ?” “Anh ta rời khỏi đây ba tiếng trước giờ bay”. “Tám giờ?” Tay đại úy gật đầu. “Tám giờ đúng”. “Tôi được bảo là anh ta có lịch đi duyệt buổi thao tập ban đêm”. “Có. Nhưng lịch thay đổi rồi”. “Vì sao?” “Tôi không rõ”. Tôi không rõ có vẻ là câu cửa miệng của Quân đoàn XII thì phải. “Ở trại Irwin có vụ gì khẩn cấp?” tôi hỏi. “Tôi không rõ”. Tôi cười vắn. “Lệnh của Marshall được gửi đến từ khi nào?” “Lúc bảy giờ”. “Bằng văn bản chứ?” “Thông báo bằng miệng”. “Từ ai?” “Chuẩn tướng Vassell”. “Có phải chính Vassell ký lệnh cấp giấy đi đường không?”

Tay đại úy gật đầu. “Phải”, anh ta đáp. “Ông ta ký đấy”. “Tôi cần gặp ông ta”, tôi bảo. “Ông ta tới London rồi”. “London ư?” tôi hỏi. “Đến dự cuộc họp khẩn với Bộ Quốc phòng Anh quốc”. “Ông ta đi từ lúc nào?” “Ông ta đến sân bay với thiếu tá Marshall”. “Đại tá Coomer đâu rồi?” “Berlin”, anh ta bảo. “Đi tìm đồ lưu niệm”. “Để tôi đoán nhé”, tôi bảo. “Ông ta cũng cùng Vassell và Marshall tới sân bay luôn”. “Không” tay đại úy đáp. “Ông ta đi xe lửa”. “Hay tuyệt”, tôi nói. * * * Summer và tôi đến phòng ăn sĩ quan ăn sáng. Chúng tôi ngồi vào chiếc bàn tối qua. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, lưng đối tường, quan sát căn phòng. “OK”, tôi bảo. “Văn phòng của Swan gọi hỏi tung tích Marshall vào sáu giờ mười, và năm mươi phút sau hắn có lệnh tới trại Irwin. Một tiếng sau đó hắn rời trại”. “Và Vassell tới London”, Summer nói. “Còn Coomer đáp xe lửa tới Berlin”. “Chuyến tàu đêm”, tôi bảo: “Ai lại đi tàu đêm chỉ vì hứng chí thôi chứ?”

“Ai cũng có điều muốn giấu”, cô đáp. “Ngoại trừ tôi và con khỉ của tôi”. “Gì cơ?” “Bài hát của Beatles đó”, tôi bảo. “Một trong những âm thanh của thế kỷ này đó”. Cô nhìn tôi trân trân. “Họ đang giấu điều gì nhỉ?” cô hỏi. “Cô nói tôi nghe xem”. Cô đặt tay lên bàn, úp tay xuống. Hít một hơi. “Tôi đoán được đôi điều”, cô nói. “Tôi cũng vậy”. “Bản chương trình nghị sự” cô bảo. “Nó là mặt kia của đồng xu, từ những gì mà trung tá Simon đã kể tối qua. Simon thao thao bất tuyệt về việc bộ binh sẽ hạ bệ Thiết giáp. Chắc Kramer đã thấy trước điều đó rồi. Tướng hai sao đâu có khờ. Nên hội nghị ở trại Irwin vào ngày mồng một có thể là buổi bàn phương án đối phó. Kế hoạch kháng cự, tôi đoán vậy. Họ đâu muốn buông bỏ vị thế đang có”. “Ghế ấm như vậy sao bỏ được”, tôi nói. “Chắc chắn là vậy rồi”, cô bảo. “Giống những thuyền trưởng tàu chiến năm xưa vậy”. “Vậy thì có gì trong chương trình nghị sự?” “Vừa thủ, vừa công”, cô nói. “Đó là phương án hiển nhiên. Phản đối các đơn vị phối hợp, chê bôi xe thiết giáp hạng nhẹ, và bào chữa quyết liệt chuyên môn của mình”.

“Tôi đồng ý”, tôi bảo. “Nhưng chưa đủ. Lầu Năm Góc sẽ sớm ngập ngụa trong hàng mớ giấy tờ tranh cãi đề tài đó, chỉ vài ngày nữa thôi. Thuận, chống, nhưng nhị, cơ mà, vả lại, ta sẽ chết ngán nếu đâm đầu vào đó. Nhưng trong bản chương trình nghị sự đó còn một điều gì khác khiến bọn họ phải vội vàng đi tìm và thu hồi bản sao mà Kramer đang giữ. Đó là gì?” “Tôi chịu”. “Tôi cũng vậy”, tôi nói. “Và vì sao bọn họ lại bỏ chạy tối qua?” Summer hỏi. “Đến bây giờ, chắc họ đã thủ tiêu bản sao của Kramer và tất cả các bản sao khác rồi. Họ đã có thể nói dối trắng trợn, để ta đỡ đau đầu. Họ còn có thể đưa ta một văn bản giả mạo nữa. Họ có thể nói, Đây nè, chỉ có vậy thôi, đọc đi”. “Bọn họ bỏ chạy vì bà Kramer”, tôi bảo. Cô gật đầu”.Tôi vẫn nghĩ chính Vassell và Coomer đã hạ sát bà ta. Kramer chết, bóng vào sân bọn họ, đẩy họ vào thế phải truy tìm và thu

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 57

Đang tải bình luận...