phần vì tức giận. Hắn ghen vì anh ta đã ngoại tình với Kramer. Đó là một trong những lý do vì sao hắn giết anh ta. Rồi hắn lấy lại phong bì và chiếc cặp táp. Ném cả hai vào cốp xe. Sau đó thế nào thì ta đã rõ. Hắn biết trước mình sẽ làm gì nên đã chuẩn bị đồ để đánh lạc hướng. Rồi hắn lái về tòa nhà doanh trại và vứt thanh xà beng đi trên đường trở về. Hắn đỗ xe vào chỗ ban đầu rồi trèo lại vào trong cốp. Vassell và Coomer bước ra từ phòng ăn rồi lái xe đi”. “Rồi sau đó thì sao?” “Họ đi, và cứ đi. Họ hào hứng và bồn chồn. Nhưng lúc đó họ đã biết thằng con cưng của mình đã làm gì bà Kramer rồi. Nên họ cũng hồi hộp và lo lắng
lắm. Họ không biết phải dừng ở đâu để một tên có thể đang vấy máu trên người trèo ra khỏi cốp xe. Nơi an toàn đầu tiên họ tìm thấy chính là trạm dừng chân cách một giờ đi xe về hướng Bắc. Họ đậu thật xa những xe khác cho Marshall trèo ra. Marshall đưa họ chiếc cặp táp. Họ tiếp tục lên đường. Họ dành một phút lục soát chiếc cặp, rồi quẳng nó ra khỏi cửa sổ sau khi đi thêm được một dặm nữa”. Summer ngồi im lặng. Cô đang ngẫm nghĩ. Mí mắt dưới hấp háy lên liên tục. “Đó chỉ là giả thuyết mà thôi”, cô bảo. “Em có cách giải thích nào khác không?” Cô nghĩ một lúc. Rồi lắc đầu. “Vậy còn Brubaker thì sao?” cô hỏi. Một giọng nói vang ra từ loa gắn trên trần nhà, thông báo rằng chuyến bay của chúng tôi đã mở cửa. Chúng tôi cầm hành lý rồi xếp hàng. Ngoài trời vẫn tối mịt. Tôi đếm những hành khách kia. Tôi hy vọng sẽ có vài ghế trống, đồng nghĩa với việc dư đồ ăn sáng. Lúc ấy tôi đói lắm. Nhưng có vẻ không được như vậy. Trong chuyến bay khá đông. Tôi đoán sức hút của thành phố L.A. khá lớn, trong tháng Giêng này, đối với những người sống ở Thủ đô. Chắc người ta cũng chẳng cần lý do lý trấu gì để xếp lịch hội họp ở đó. “Vậy còn Brubaker thì sao?” Summer hỏi lại lần nữa. Chúng tôi di chuyển tới hàng ghế của mình. Chúng tôi có một ghế giữa và một ghế cạnh cửa sổ. Ghế cạnh đường đi đã có một bà xơ ngồi sẵn. Bà ta già rồi. Tôi hy vọng tai bà ta đã yếu. Tôi không muốn bị nghe lén. Bà ta dịch chỗ cho chúng tôi vào trong. Tôi để Summer ngồi cạnh bà ta. Tôi ngồi bên cửa sổ. Thắt dây an toàn. Im lặng một chốc. Nhìn cảnh sân bay bên ngoài. Nhìn người ta tất tả tới lui dưới đèn pha. Rồi máy bay lùi ra khỏi cửa lên, và bắt đầu chạy trên đường băng. Không phải dừng đợi máy bay khác. Chúng tôi cất cánh chừng hai phút sau. “Anh không chắc về Brubaker”, tôi bảo. “Ông ta liên quan gì đến vụ việc?
Họ gọi ông ta, hay ông ta gọi họ? Ông ta biết về bản chương trình nghị sự nửa tiếng sau Giao thừa. Một tay xông xáo như vậy, chắc đã cố gây áp lực. Hoặc Vassell và Coomer chỉ dự phòng tình huống xấu nhất. Họ có thể cho rằng một hạ sĩ quan cấp cao như Carbone sẽ gọi cho sếp của mình. Nên anh chưa rõ là ai gọi ai trước. Có khi bọn họ gọi nhau cùng lúc. Hoặc là cả hai cùng coi nhau là mối họa, hoặc Vassell và Coomer đã gợi ý giải pháp nào đó để đôi bên cùng có lợi”. “Việc ấy có khả năng chứ?” “Ai biết được?” tôi bảo. “Những đơn vị phối hợp này sẽ kỳ quái lắm. Brubaker chắc chắn sẽ rất nổi tiếng, vì ông ta vốn thích những cuộc chiến tranh kỳ quái. Vậy nên có thể Vassell và Coomer đã dụ ông ta tin rằng họ muốn tìm một đồng minh chiến lược. Dù sao chăng nữa, họ đã hẹn gặp nhau vào tối muộn ngày mùng bốn. Brubaker chắc đã định rõ địa điểm. Ông ta hẳn đã tạt qua nơi đó nhiều lần, tới lui trên đường từ trại Bird tới khách sạn sân golf của mình. Và hẳn ông ta đã tự tin lắm. Ông ta sẽ chẳng để Marshall ngồi sau lưng mình nếu có lo lắng gì”. “Sao anh biết Marshall đã ngồi sau lưng ông ta?” “Thủ tục mà”, tôi bảo. “Ông ta là một đại tá ngồi nói chuyện với một chuẩn tướng và một đại tá nữa. Ông ta đã để Vassell ngồi ghế trước, còn Coomer ngồi ở băng ghế sau, sau lưng ghế phụ, để ông ta có thể quay đầu quan sát cả hai bọn họ. Marshall ngồi ngoài tầm nhìn và không bị đề phòng. Vì hắn chỉ là thiếu tá thôi mà. Ai cần hắn chứ?” “Họ có định giết ông ta từ trước không? Hay chỉ là việc phát sinh thôi?” “Họ định từ trước rồi, chắc chắn vậy. Họ đã lên hết kế hoạch. Một nơi vắng vẻ để giấu xác, gói heroin Marshall chuẩn bị từ đêm ở Đức, và một khẩu súng sẵn đạn. Nên rốt cuộc thì ta đã đúng, dù là do vô tình mà đúng. Nhóm người đã giết Carbone, sau đó đường hoàng rời khỏi cổng trại, rồi giết luôn Brubaker, là một. Đi gần như không ngừng nghỉ”. “Hai cú đánh lạc hướng”, Sumemr bảo. “Gói heroin kia, và bỏ xác ở phía Nam, chứ không phải phía Bắc”.
“Một bọn nghiệp dư”, tôi nói. “Nhóm khám nghiệm thành phố Columbia hẳn đã thấy ngay dấu máu bầm và vết bỏng. Vassell và Coomer chỉ đơn thuần gặp may mắn khi nhóm khám nghiệm kia không báo lại cho mình ngay lập tức. Hơn nữa, họ đã để lại xe của Brubaker ở phía Bắc. Đúng là khôn ba năm dại một giờ”. “Bọn họ hẳn đã mệt mỏi. Áp lực, căng thẳng, hàng giờ liền trên xe. Họ đi từ nghĩa trang Arlington, lại lên Smithfield, lại xuống Columbia, lại lên sân bay Dulles. Chắc đi suốt mười tám tiếng đồng hồ ấy chứ. Chẳng trách vì sao bọn họ lại mắc sai lầm. Nhưng họ có thể đã thoát tội nếu anh không phớt lờ lão Willard”. Tôi gật đầu. Không nói gì. “Một cáo buộc yếu ớt”, Summer bảo. “Rất yếu nữa là khác. Thậm chí còn chẳng dựa trên cơ sở nào. Tất cả chỉ toàn là đoán mò thôi”. “Chứ sao nữa. Vậy nên ta mới cần lời tự thú của họ”. “Anh cần suy nghĩ tường tận, trước khi đối đầu với họ. Một cáo buộc yếu như thế này, có khi chính anh phải vào tù đó. Vì tội quấy rối”. Tôi nghe động ở sau lưng, và nữ tiếp viên bước vào phục vụ bữa sáng. Cô đưa một suất cho bà xơ, cho Summer, rồi cho tôi. Một suất ăn thảm hại. Chỉ có nước ép hoa quả và miếng bánh mì kẹp thịt heo với phô mai còn nóng. Chỉ vậy thôi. Tôi đoán lát sẽ có phục vụ cà phê. Tôi hy vọng mới đúng. Tôi ăn sạch trong vòng ba mươi giây. Summer mất khoảng ba mốt giây. Nhưng bà xơ không động tới món ăn. Bà ta chỉ để chúng nằm trước mặt. Tôi huých vào hông Summer. “Em hỏi xem bà ta có ăn không”, tôi nói. “Sao được anh”, cô bảo. “Bà ta phải rộng lượng chứ”, tôi nói. “Làm xơ là phải vậy”. “Sao được anh”, cô lặp lại.
“Được chứ em”. Cô thở dài. “OK, đợi em một phút”. Nhưng cô làm hỏng việc. Cô đợi lâu quá. Bà xơ đã mở lớp gói và bắt đầu ăn miếng bánh kẹp. “Bố khỉ, tôi nói. “Em xin lỗi”, Summer đáp. Tôi nhìn cô. “Em nói gì ấy nhỉ?” “Em bảo là em xin lỗi”. “Không, trước ấy cơ. Câu cuối của em ấy”. “Em bảo là làm sao em hỏi bà ấy được”. Tôi lắc đầu. “Không, trước khi họ dọn suất ăn sáng cơ”. “Em bảo đây là một cáo buộc vô cùng yếu”. “Trước đó nữa”. Tôi thấy cô như đang tua lại cuộn băng trong đầu mình. “Em bảo Vassell và Coomer hẳn đã thoát tội, nếu anh không phớt lờ lão Willard”. Tôi gật đầu. Ngẫm nghĩ về điều đó trong một phút. Rồi nhắm mắt lại. * * * Tôi mở mắt ra lần nữa khi tới Los Angeles. Máy bay hạ cánh, và tiếng bánh xe va xuống, rít lên khi trượt trên đường băng làm tôi tỉnh dậy. Rồi hệ thống thổi ngược rít lên, và phanh máy bay khiến tôi giật về trước cấn vào đai an toàn. Tia sáng đầu tiên của ngày hiện ra bên ngoài cửa sổ. Bình minh có màu nâu, như thường lệ tại nơi này. Một giọng nói cất lên từ hệ thống phát thanh thông báo với chúng tôi rằng đã bảy giờ sáng tại California. Chúng tôi đã đi về hướng Tây suốt hai ngày trời, và mỗi hai mươi bốn giờ trôi qua, cảm giác
dài như hai mươi tám giờ vậy. Tôi ngủ được một chút và không thấy mệt lắm. Nhưng vẫn đói vô cùng. Chúng tôi rục rịch xuống máy bay và đi bộ tới khu lấy hành lý ký gửi. Đó là nơi tài xế thường đón khách. Tôi đảo mắt nhìn quanh. Thấy là Calvin Franz đã chẳng cử ai tới đón chúng tôi. Mà anh ta thân chinh đến luôn. Tôi mừng lắm. Như gặp được quý nhân vậy. Tôi có cảm giác rằng bọn tôi sẽ được bảo bọc chu đáo. “Tôi có vài tin cho cậu đây”, anh ta nói. Tôi giới thiệu anh ta với Summer. Anh ta bắt tay cô, rồi phụ xách túi của cô đi. Tôi đoán đó nửa là thái độ lịch thiệp, nửa là cách giục khéo chúng tôi ra xe Humvee nhanh lên. Chiếc xe đỗ ngay khu cấm đậu. Nhưng cảnh sát chẳng dám động tới nó. Xe Humvee ngụy trang màu đen xen xanh lá thường có uy như vậy. Chúng tôi trèo lên xe. Tôi để Summer ngồi đằng trước. Đó nửa là thái độ lịch thiệp của tôi, nửa là vì tôi muốn thỏa sức duỗi chân ở băng ghế sau. Ngồi trên máy bay tù chân quá. “Họ tìm thấy chiếc Grand Marquis rồi”, Franz nói. Anh ta nhấn bộ tăng áp rồi phóng ra khỏi vỉa hè. Trại Irwin nằm ở hướng Bắc thành phố Barstow, vốn cách rìa thành phố khoảng ba mươi dặm. Tôi đoán chừng anh ta sẽ mất một giờ len lỏi giữa giao thông buổi sáng. Tôi thấy Summer để ý cách lái xe của anh ta. Trong mắt ánh lên vẻ thán phục của dân nhà nghề. Có khi cả chặng đường sẽ chỉ tốn có ba lăm phút. “Nó nằm ở Căn cứ Andrews”, Franz bảo. “Bị bỏ lại đó vào mùng năm”. “Khi Marshall bị triệu về Đức”, tôi nói. Franz gật đầu ở ghế tài. “Sổ nhật ký xuất nhập trại của họ ghi vậy. Chính Marshall đã đậu nó ở đó với chứng nhận từ Quân đoàn Vận tải. Người của tôi đã nhờ phía FBI. Như vậy nhanh hơn. Họ phải nhờ vả một chút. Bên Cục kiểm tra nó suốt đêm. Ban đầu ngần ngại, nhưng rồi họ ráo riết lắm. Có vẻ như nó có liên quan đến vụ án nào đó mà phía họ đang điều tra”.
“Vụ Brubaker”, tôi đáp. Anh ta gật đầu lần nữa. “Trong cốp xe có dấu tích của Brubaker mà. Cụ thể hơn, thì là máu và óc của ông ta. Chúng được chùi đi bằng giấy, nhưng không sạch”. “Còn gì nữa không?” tôi hỏi. “Nhiều chứ. Còn có máu từ nguồn khác nữa, chỉ là những vệt máu bị bôi ra, có thể là quệt từ tay áo hay lưỡi dao gì đó”. “Từ Carbone đó”, tôi bảo. “Khi Marshall nấp trong cốp xe. Họ có tìm thấy con dao không?” “Không”. Franz nói. “Nhưng vân tay của Marshall dính đầy trong cốp”.. “Hẳn vậy rồi”, tôi đáp. “Hắn nấp trong ấy cả mấy tiếng mà”. “Trong cốp còn có một thẻ định danh nằm trơ trọi”, Franz nói. “Như thể sợi dây xích của nó bị đứt, và cái thẻ bị tuột ra mất”. “Của Carbone?” tôi hỏi. “Còn ai nữa”. “Rõ là dân nghiệp dư”, tôi bảo. “Còn gì nữa không?” “Toàn thứ linh tinh thôi. Chiếc xe ấy luộm thuộm lắm. Nhiều tóc và sợi vải, giấy bọc đồ ăn nhanh, lon nước ngọt, kiểu vậy”. “Có hũ sữa chua nào không?” “Có một cái”, Franz bảo. “Trong cốp”. “Vị dâu hay mâm xôi?” “Dâu. Có dấu vân tay của Marshall trên nắp. Hình như hắn tiện mồm ăn vặt hay sao đó”.
“Hắn có mở nó ra”, tôi bảo. “Nhưng không ăn đâu”. “Có một phong bì rỗng” Franz nói. “Địa chỉ người nhận ghi là Kramer ở Quân đoàn XII tại Đức. Bưu phẩm hàng không, đóng dấu một năm trước. Không có thông tin người gửi. Giống như gửi ảnh gì đó, nhưng bên trong trống rỗng”. Tôi không nói gì. Anh ta nhìn tôi từ gương chiếu hậu. “Trong số những gì tôi vừa nói có tin nào tốt không?” anh ta hỏi. Tôi mỉm cười. “Nó vừa giúp chúng tôi đi từ đoán mò sang có cơ sở”. “Một bước nhảy vọt của nhân loại”, anh ta đáp. Rồi tôi ngưng cười và quay đi nơi khác. Tôi bắt đầu nghĩ về Carbone, Brubaker, và bà Kramer. Rồi đến bà Reacher. Người ta đang chết dần khắp nơi trên thế giới, trong buổi đầu tháng Giêng năm 1990. * * * Rốt cuộc sau hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi mới tới được trại Irwin. Tôi đoán người ta đã nói đúng về cao tốc thành phố L.A. Doanh trại nhìn y như trước. Luôn luôn nhộn nhịp. Nó chiếm cả một khoảng rộng giữa sa mạc Mojave. Vài nhánh trung đoàn Thiết giáp trực luân phiên tại đây, rồi đóng vai chủ nhà khi những đơn vị khác tới để tập luyện. Nơi đây ngập tràn không khí của đợt luyện tập mùa xuân. Thời tiết lúc nào cũng dễ chịu, còn quân nhân thì vui vẻ chơi đùa dưới nắng trời cùng những món đồ chơi to bự đắt tiền. “Cậu muốn bắt tay vào việc luôn không?" Franz hỏi. “Cậu có canh chừng bọn họ chứ?” Anh ta gật đầu. “Có, trong âm thầm”. “Thế thì ăn sáng trước đi”. Phòng ăn sĩ quan của Lục quân Hoa Kỳ là địa điểm tuyệt vời dành cho những
người ăn không đủ no các món phục vụ trên chuyến bay. Dãy thức ăn tự chọn dài cả dặm. Thực đơn giống bên Đức, nhưng nước ép cam và quầy trái cây trồng ngon lành hơn ở California này. Tôi ăn ngang sức một đại đội súng trường, và Summer ăn còn nhiều hơn tôi. Tôi tiếp năng lượng bằng toàn bộ số cà phê mà mình có thể uống nổi. Rồi tôi ngả ra bên bàn ăn. Hít một hơi sâu. “OK”, tôi bảo. “Làm việc thôi”. Chúng tôi về văn phòng của Franz để anh ta điện cho lính mình. Họ báo cáo rằng Marshall đang ở ngoài sa mạc, nhưng Vassell và Coomer đang ngồi bó gối trong phòng nghỉ dành cho sĩ quan viếng thăm. Franz đưa chúng tôi tới đó bằng chiếc Humvee của mình. Chúng tôi bước ra vỉa hè. Mặt trời chói rọi trên đầu. Không khí ấm áp và hơi bụi bặm. Tôi ngửi được mùi hương của những khóm cây gai miền sa mạc mọc ở tít tầm mắt. Phòng dành cho sĩ quan viếng thăm của trại Irwin trông như thể được chính nhà thầu ở trụ sở Quân đoàn XII xây dựng vậy. Một hàng dài những căn phòng na ná nhau bọc quanh một khoảnh sân đầy cát. Ở một bên là khu sinh hoạt chung. Phòng xem ti vi, đánh bóng bàn, và phòng khách. Franz dẫn chúng tôi qua cửa rồi đứng sang một bên, và chúng tôi liền thấy Vassell và Coomer đang ngồi cạnh nhau trên ghế bọc da. Tôi chợt nhớ ra mình mới chỉ gặp họ một lần, khi họ tới văn phòng mình ở trại Bird. Cảm giác thật kỳ lạ, vì tôi dành bao nhiêu thời gian vừa rồi nghĩ về họ. Bọn họ đều mặc bộ đồ dã chiến mới tinh tươm, mẫu ngụy trang kiểu sa mạc cách tân, với loại họa tiết mà người ta đùa là nhìn giống viên sô cô la. Trong cả hai vẫn giả tạo hệt như trong bộ ngụy trang rừng cây hồi trước. Trông vẫn như hai thành viên tổ chức từ thiện Rotary Club vậy. Vassell vẫn hói, còn Coomer thì vẫn đeo cặp kính kia. Bọn họ ngước lên nhìn tôi. Tôi hít một hơi. Họ là sĩ quan cấp trên. Tội quấy rối.
Có khi chính anh phải vào tù đó. “Chuẩn tướng Vassell”, tôi lên tiếng. “Và đại tá Coomer. Hai vị đã bị bắt vì vi phạm Bộ luật Thống nhất của Tư pháp Quân đội, khi thông đồng với nhau và một cá nhân khác thực hiện hành vi giết người”. Tôi nín thở. Nhưng bọn họ chẳng ai có phản ứng gì. Chẳng ai lên tiếng. Họ chỉ buông xuôi. Trông họ như đầu hàng vậy. Như biết rõ kết cục sẽ đến, và điều không thể thoát khỏi cuối cùng đã xảy ra. Như họ đã lường trước việc này ngay từ phút ban đầu vậy. Như biết chắc chuyện sẽ đến kết cục này. Tôi thở ra. Người ta thường có nhiều phản ứng khác nhau khi nghe hung tin. Đau buồn, tức giận, hoặc chối bỏ. Nhưng hai người đây rông như đã đi qua hết các bậc cảm xúc đó rồi. Rõ ràng là vậy. Họ ngồi yên đó trước mũi giáo, cứng người chấp thuận. Tôi ra hiệu cho Summer hoàn thành thủ tục. Có rất nhiều điều khoản trong Bộ luật Thống nhất mà anh phải đọc ra. Đủ các loại khuyên răn và cảnh cáo. Summer đọc chúng tốt hơn tôi. Giọng cô rõ ràng, còn thái độ thì chuyên nghiệp vô cùng. Cả Vassell lẫn Coomer đều không phản ứng. Không quát tháo, không năn nỉ, không tức tối biện hộ. Họ chỉ ngoan ngoãn gật đầu sau mỗi điều. Họ tự ngồi dậy khỏi ghế mà không cần yêu cầu. “Còng tay chứ sếp?” Summer hỏi tôi. Tôi gật đầu. “Đương nhiên”, tôi đáp. “Dẫn bộ họ tới phòng tạm giam. Theo họ suốt chặng đường. Đừng đưa họ lên xe. Cứ để mọi người trông thấy họ. Để mọi người biết họ là vết nhơ”. * * * Tôi nhờ một lính kỵ binh chỉ đường, rồi lái chiếc Humvee của Franz đến tìm Marshall. Hắn hình như đang ở trong một đài quan sát gần một mục tiêu tập bắn bị vứt bỏ. Mục tiêu tập bắn bị vứt bỏ kia hình như là một chiếc xe tăng Sheridan lỗi thời. Nghe họ tả là nó nát bét cả rồi. Đài quan sát thì mới hơn, và gần chiếc xe tăng cũ ấy. Tôi được dặn phải chạy theo đường mòn, để tránh
bom đạn xịt, và rùa sa mạc. Nếu tôi cán phải bom đạn xịt kia, tôi sẽ chết. Còn nếu tôi cán phải bọn rùa sa mạc, thì tôi sẽ bị Bộ Nội vụ bắt giữ. Tôi rời doanh trại một mình, vào chính xác chín rưỡi sáng. Tôi không muốn đợi Summer. Cô còn bận với thủ tục sử lý Vassell và Coomer. Tôi thấy mình như đang đến đoạn cuối của hành trình, và chỉ mong nó kết thúc chóng vánh. Tôi mượn một khẩu súng phòng thân cầm theo, nhưng hóa ra nó vẫn là một quyết định sai lầm.
HAI MƯƠI BA Trại Irwin chiếm nhiều diện tích của sa mạc Mojave đến nỗi họ có thể dùng nó để thay thế các sa mạc khổng lồ của Trung Đông, hoặc, nếu bỏ qua cái nóng và cát, thì còn thay thế được cả những thảo nguyên vô tận của Đông Âu. Có nghĩa là trụ sở doanh trại đã mất dạng trong khi tôi mới đi được một