2. Reacher Báo Thù

phần lớn sân bay khi di

phần lớn sân bay khi di

phần lớn sân bay khi di chuyển về khu bên phải. Nó còn lớn hơn một số thành phố tôi từng tới. Chúng tôi chạy xe qua nhiều dặm. Tìm đúng ga. Lỡ một lần chuyển làn

đường và chạy qua khu đỗ xe ngắn hạn. Quay trở lại xếp hàng ở rào chắn. Roscoe giật lấy vé chạy vào khu đỗ. "Đi sang trái," tôi nói. Bãi đỗ chật kín xe. Tôi cúi người tìm chỗ trống. Rồi tôi thấy một hình thù đen lờ mờ lướt ở rìa phải. Tôi trông thấy nó qua khóe mắt. "Sang phải, sang phải," tôi nói. Tôi nghĩ đó là phần đuôi của một chiếc bán tải màu đen. Mới tinh. Lướt phía tay phải tôi. Roscoe bẻ ngoặt tay lái và chúng tôi lướt sang lối tiếp theo. Nhìn thấy đèn phanh đỏ lóe lên trên lớp vỏ kim loại đen. Chiếc bán tải vụt khỏi tầm mắt. Roscoe vút theo lối này rồi ngoặt gấp. Lối mới này không một bóng xe. Chẳng có gì di chuyển. Chỉ có những hàng xe hơi đứng yên lặng trong nắng. Lối tiếp theo cũng vậy. Chẳng có gì di chuyển. Chẳng chiếc bán tải đen nào. Chúng tôi chạy khắp khu đỗ xe. Mất một lúc lâu. Bị cản bởi các xe chạy vào chạy ra. Nhưng cũng lướt hết toàn bộ khu vực. Không thể tìm được chiếc bán tải đen ở đâu. Nhưng tôi và Roscoe tìm thấy Finlay. Chúng tôi đỗ xe vào một chỗ trống rồi bắt đầu cuốc bộ một đoạn dài vào ga. Finlay đã đậu xe ở một khu khác và đang bước vào theo một đường chéo khác. Ông bước hết chặng đường còn lại cùng chúng tôi. Nhà ga rất nhộn nhịp. Và khổng lồ. Xây thấp nhưng trải ra nhiều acre. Toàn bộ nơi này chật người. Các màn hình nhấp nháy lắp cao trên tường thông báo các chuyến bay tới. Chuyến của hãng Delta tới lúc hai giờ đã hạ cánh và đang chạy trên đường băng. Chúng tôi đi bộ về phía cổng. Cảm giác như đi bộ mất nửa dặm. Chúng tôi đang ở trong một hành lang trải cao su kẻ sọc. Hai băng cuốn chạy giữa hành lang. Bên phải là dãy dài vô tận các bảng quảng cáo cầu kỳ sáng rực mô tả sự hấp dẫn của vùng miền Nam thừa thãi nắng này. Làm ăn hay thư giãn, tất cả đều có ở đây, điều đó thì chắc rồi. Bên tay trái là vách ngăn bằng kính chạy từ trần xuống sàn, với một vạch trắng khắc cao ngang tầm mắt để ngăn người ta bước xuyên qua vách. Phía sau vách kính là các cổng. Một dãy vô số cổng. Hành khách ra khỏi máy bay bước dọc theo vách kính phía bên đó. Một nửa số đó rẽ ngang biến mất vào khu nhận hành lý. Rồi họ lại đi ra và tìm thấy các cửa ra ở vách kính, đưa họ vào hành lang chính. Nửa còn lại là những hành khách bay tuyến ngắn không có hành lý gửi. Họ bước thẳng về phía cửa. Mỗi cửa đều tụ tập các nhóm lớn người chào đón. Chúng tôi len lỏi qua những người này. Cứ ba mươi mét, hành khách lại tuôn ra từ các cửa. Bạn bè và họ hàng

đang di chuyển lại gần, hai dòng người sắp va vào nhau. Chúng tôi phải chật vật vượt qua tám đám đông trước khi tới được đúng cổng cần tới. Tôi chen lấn về hướng đó. Tôi thấy lo lắng. Hình ảnh thoáng qua của chiếc bán tải đen trong bãi đỗ khiến tôi thấy bất an. Chúng tôi tới được cổng cần đến. Bước dọc theo vách kính qua các cánh cửa. Xuống ngay tới chỗ ngang với cuối đường dẫn từ cửa máy bay vào sảnh. Khách đã bắt đầu rời khỏi máy bay. Tôi quan sát họ tràn ra khỏi đường dẫn rồi rẽ để bước về phía khu nhận hành lý và các cửa ra. Bên phía vách kính chúng tôi, người ta đang bước về phía các cổng ở xa hơn. Vừa đi họ vừa chen lấn. Chúng tôi bị kéo đi dọc hành lang. Như bơi trong một biển nước nặng. Lúc nào chúng tôi cũng phải bước giật lùi để giữ yên vị trí. Phía sau lớp kính có cả một dòng người. Tôi thấy một phụ nữ đang tới có thể là Molly. Cô chừng ba mươi lăm tuổi, mặc bộ vest doanh nhân đẹp, cầm một chiếc va li và chiếc túi vải dệt. Tôi đứng yên, cố để cho cô nhận ra nhưng đột nhiên người phụ nữ ấy trông thấy một người khác, chỉ tay, phát ra tiếng cười tôi không nghe thấy phía bên kia vách kính và gửi hôn gió cho một tay cách tôi chừng mười mét. Anh ta tựa người vào cửa đợi cô. Rồi dường như bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể là Molly. Phải có tới vài chục "ứng cử viên". Có cả người tóc vàng và da đen, cao và thấp, xinh xắn và vô duyên. Tất cả đều mặc đồ công sở, tất cả đều cầm hành lý có vẻ hợp lý, tất cả đều sải chân với dáng điệu mệt mỏi có chủ ý của các vị giám đốc uể oải giữa một ngày bận rộn. Tôi theo dõi tất cả họ. Họ chảy theo dòng người phía sau vách kính, một số người ngó ra tìm chồng, người yêu, lái xe, những người có quan hệ công việc, một số nhìn thẳng về phía trước. Tất cả đều di chuyển theo đám đông nhung nhúc người. Một trong số đó có hành lý bằng da màu vàng đỏ hợp với nhau, một chiếc va li nặng ở một tay, tay kia lôi chiếc va li có tay kéo dài. Cô nhỏ nhắn, tóc vàng, trông phấn khởi. Khi ra khỏi đường dẫn từ cửa máy bay, hành khách này bước chậm lại lướt mắt qua vách kính quét trên đám đông. Đôi mắt cô lướt qua tôi. Rồi chúng ngoắt lại. Người phụ nữ nhìn thẳng vào tôi. Dừng lại. Người ta dồn lại phía sau lưng cô. Cô bị đẩy về phía trước. Cô vùng vẫy tiến về phía vách kính. Phía bên vách này, tôi di chuyển lại gần. Người phụ nữ chăm chằm nhìn tôi. Mỉm cười. Đôi mắt chào em trai của người yêu đã mất. "Molly phải không ?" tôi mấp máy miệng với cô qua vách kính. Người phụ nữ giơ chiếc va li nặng lên như chiến lợi phẩm. Hướng về

phía nó và gật đầu. Nở một nụ cười lớn phấn khích thể hiện chiến thắng. Cô bị đẩy từ phía sau. Bị đám đông đẩy về phía lối ra. Cô ngoái lại xem, tôi có đi theo hay không. Roscoe, Finlay và tôi vất vả bám theo cô. Bên phía vách kính của Molly, dòng người xuôi theo chiều cô tiến. Bên phía chúng tôi, nó di chuyển ngược chiều. Chúng tôi đang bị tách ra với tốc độ gấp đôi. Có một đám đông đặc sinh viên ép vào chúng tôi. Muốn ra khỏi cổng ở phía dưới kia. Những đứa trẻ to lớn được chăm nuôi tốt, hành lý cồng kềnh, om sòm. Ba chúng tôi bị đẩy về sau năm mét. Qua cửa kính, Molly đang ở phía trước. Tôi thấy mái đầu tóc vàng của cô biến mất. Tôi chen sang bên lách tới băng cuốn. Nó chuyển động theo hướng ngược lại. Tôi bị đưa đi năm mét trước khi kịp nhảy qua tay nắm di động sang phía bên kia. Giờ thì tôi đang di chuyển đúng hướng nhưng trên băng cuốn là một đám đông đặc người đứng yên. Hài lòng với tốc độ như sên của lớp sàn lót cao su họ đang đứng lên. Họ đứng dàn hàng ngang ba người. Không có cách nào lách qua. Tôi leo lên tay nắm hẹp cố gắng bước dọc theo như đi trên dây. Tôi phải cúi người xuống vì không giữ được thăng bằng. Và ngã mạnh về phía bên phải. Bị đưa về hướng ngược lại năm mét trước khi gượng dậy. Tôi hoảng hốt ngó lại. Qua tấm kính, tôi có thể thấy Molly đang bị đám đông đưa tới khu nhận hành lý. Tôi có thể trông thấy Roscoe và Finlay đang phía sau mình. Tôi đang chầm chậm di chuyển theo hướng không mong muốn. Tôi không muốn Molly đi vào khu lấy hành lý. Cô đã vội vã bay tới đây. Cô mang những tin tức khẩn. Không thể có chuyện cô đã chuẩn bị một chiếc va li lớn. Không thể có chuyện cô gửi hành lý. Cô sẽ không vào khu lấy hành lý. Tôi cắm đầu xuống chạy. Vừa chạy vừa đẩy người khác vướng lối. Tôi chạy ngược với nhịp của hành lang thang cuốn. Lớp sàn cao su mút lấy giày tôi. Mỗi lực tác động đều làm tôi mất thời gian. Người ta hét lên giận dữ. Tôi chẳng quan tâm. Tôi xuyên qua đám đông mặc họ dạt ra. Vụt khỏi hành lang thang cuốn, len qua đám đông ở các cửa ra. Khu nhận hành lý là một sảnh rộng và thấp, được thắp sáng bởi các bóng đèn vàng mờ. Tôi chật vật tìm đường vào qua cửa ra. Tìm Molly khắp nơi. Không thể thấy cô. Sảnh đông kín người. Hẳn phải có cả trăm hành khách đứng quanh băng chuyền, thành ba hàng. Băng chuyền lịch kịch di chuyển theo vòng tròn dưới một đống túi cặp nặng. Ở bức tường phía bên là những hàng xe đẩy hành lý, hàng dài hàng ngắn. Người ta đang xếp hàng nhét các đồng hai mươi lăm xu vào một khe và lấy xe đẩy ra. Họ đẩy xe đi xuyên qua đám đông. Các xe va ngoắc vào nhau. Người thì xô đẩy.

Tôi lao vào đám hỗn độn. Dùng vai huých, đẩy và kéo người ta quay lại để tìm Molly. Tôi đã thấy cô vào đây. Vẫn chưa thấy cô ra. Nhưng cô không có trong này. Tôi kiểm tra mọi gương mặt. Tôi rà khắp cả sảnh. Tôi tự để mình cuốn theo dòng người ra ngoài. Chen về phía trước tới cửa ra. Roscoe đang bám chặt lấy khung cửa, cưỡng lại dòng người. 'Thấy cô ấy ra không ?" tôi hỏi. "Không. Finlay đã tới cuối hành lang. Ông ấy đang đợi ở đó. Em đợi ở đây ". Chúng tôi đứng yên, dòng người đổ qua chúng tôi. Rồi dòng người từ phía cổng đổ về phía chúng tôi đột nhiên mỏng đi. Toàn bộ số khách của máy bay sắp qua hết. Những người tụt lại phía sau đang bước đi. Một bà già ngồi trên xe đẩy chốt đuôi. Xe của bà được một nhân viên hàng không đẩy đi. Anh này phải dừng lại và xoay xở để tránh thứ gì đó nằm trên lối vào khu nhận hành lý. Đó là một chiếc va li da màu vang đỏ. Nó nằm nghiêng. Cái tay kéo vẫn thò ra. Từ khoảng cách năm mét, tôi có thể đọc được những chữ cái vàng viết lồng vào nhau ở phía trước. Những chữ ấy là: M.B.G. Roscoe và tôi lao trở lại khu nhận hành lý. Trong vài phút tôi không ở trong này, khu nhận hành lý đã gần hết sạch người. Còn lại không quá chục người. Hầu hết đang kéo các túi từ băng chuyền xuống hướng ra ngoài trong khi chúng tôi chạy vào. Chỉ trong một phút, khu vực này trống trơn. Băng chuyền vẫn lịch kịch chạy theo vòng tròn, trống không. Rồi nó ngừng lại. Sảnh trở nên im lặng. Roscoe và tôi đứng trong sự tĩnh lặng đột ngột ấy nhìn nhau. Khu nhận hành lý có bốn bức tường, một trần và một sàn. Có một cửa vào và một lối ra. Băng chuyền chui vào đây qua một lỗ vuông rộng một mét và lại chui ra qua một lỗ vuông một mét. Cả hai lỗ đều che bằng các rèm làm từ những dải cao su đen rộng vài phân. Cạnh băng chuyền là cửa vận chuyển hành lý. Phía bên chúng tôi thì cánh cửa này chẳng có gì. Không tay nắm. Đã bị khóa. Roscoe lao ngược trở lại túm lấy chiếc va li của Molly Beth. Mở ra. Bên trong có một bộ quần áo cùng một túi đựng đồ vệ sinh cá nhân. Và một tấm ảnh. Cỡ 20 X 25cm, khung bằng đồng. Đó là Joe. Anh trông giống tôi nhưng gầy hơn một chút. Đầu rám nắng cạo trọc. Nụ cười vui vẻ đầy chất hài hước. Sảnh lại tràn ngập những âm báo. Nó kêu một lúc rồi băng chuyền hành lý tiếp tục chạy. Chúng tôi chăm chăm nhìn nó. Nhìn vào cái lỗ nó đã chui qua. Tấm rèm cao su phồng ra. Một chiếc va li chui ra. Da màu vang đỏ. Các

đai đã bị rạch đứt. Va li mở ra. Rỗng không. Nó loạng choạng di chuyển về phía chúng tôi. Chúng tôi chằm chằm nhìn nó. Chằm chằm nhìn các đai đã bị cắt đứt. Chúng đã bị cắt bằng một con dao sắc. Bị cắt bởi kẻ nào đó vội quá đến mức không bấm những chốt khóa. Tôi nhảy lên băng chuyền đang chuyển động. Chạy ngược hướng với băng chuyền và như một vận động viên bơi lao đầu qua những dải cao su che cái lỗ vuông rộng một mét. Tôi rơi xuống khá mạnh, băng chuyền bắt đầu kéo tôi trở ra. Tôi trườn bò bằng cả hai tay hai chân như một đứa trẻ. Lăn tròn và nhảy lên. Tôi đang ở trong khu bốc dỡ hàng. Không một bóng người. Bên ngoài là ánh nắng chói lóa. Có mùi hắc ín và dầu diesel từ các toa chở hành lý ùa từ các máy bay ngoài mặt nhựa bê tông vào. Xung quanh tôi là các đống cao ngất hành lý bị bỏ rơi hoặc bỏ quên. Tất cả được xếp chặt vào các ô chứa quây ba mặt. Sàn cao su vương vãi các mã vạch và nhãn cũ. Nơi này giống như một mê cung bẩn thỉu. Tôi chạy ra chạy vào, tìm kiếm Molly một cách vô vọng. Tôi chạy ra phía sau hết đống hành lý này tới đống hành lý khác. Vào ô chứa này đến ô chứa khác. Tôi túm lấy những tay vịn bằng kim loại và đu người qua các góc chật chội. Tuyệt vọng liếc nhìn xung quanh. Chẳng có ai hết. Chẳng có ai ở nơi nào. Tôi chạy tiếp, lướt và trượt trên rác. Tôi tìm thấy chiếc giày trái của cô. Nó nằm nghiêng ở lối dẫn vào một ô tới. Tôi lao vào. Chẳng có gì trong này. Tôi thử ô tiếp theo. Không có gì trong đó. Tôi bám vào các giá đồ, thở gấp. Tôi phải làm một cách có trật tự. Tôi chạy tới đầu kia hành lang. Bắt đầu lần lượt ngó vào các ô. Trái rồi phải, trái rồi phải, lùi lại nhanh hết tốc lực, hổn hển theo hình dích dắc tuyệt vọng. Tôi tìm thấy chiếc giày phải của cô ở ô thứ ba từ dưới cùng lên. Rồi phát hiện ra máu của cô. Ở lối dẫn vào ô tiếp theo, nó đọng thành vũng trên sàn, dính nhớp, đang lan rộng. Cô sụp xuống ở phía sau ô, nằm ngửa trong bóng tối, kẹp giữa hai đống sọt cao. Chỉ nằm đó trên sàn cao su. Máu đang từ người ào ạt chảy ra. Bụng Molly bị rạch toang. Kẻ nào đó đã thọc một mũi dao vào cô và rạch một đường đầy độc ác từ phía dưới các xương sườn lên trên. Nhưng cô vẫn còn sống. Một bàn tay tái nhợt đang run rẩy. Đôi môi lẫn những bong bóng nhỏ bằng máu. Đầu Moily nằm yên nhưng hai mắt chuyển động. Tôi chạy tới bên cô. Đỡ lấy đầu cô. Molly chăm chú nhìn tôi. Gượng cho miệng mấp máy. 'Phải thâm nhập được trước Chủ nhật," cô thều thào. Rồi Molly chết trong tay tôi.

21 Tôi đã học môn hóa học ở khoảng bảy trường phổ thông. Không có được mấy kiến thức. Chỉ kết thúc môn này với những kiến thức chung chung. Một điều tôi có thể nhớ là kiểu ta bỏ một chút chất bổ sung gì đó vào cái ống thủy tinh và làm cho mọi thứ nổ bùm. Chỉ một chút bột, tạo ra kết quả lớn hơn mức nên có. Đó là kiểu tôi cảm nhận được với Molly. Trước đây tôi chưa bao giờ gặp người phụ nữ này. Thậm chí chưa bao giờ nghe nhắc đến cô. Nhưng tôi cảm thấy giận dữ, giận khôn tả. Với cô, tôi còn cảm thấy khủng khiếp hơn so với Joe. Chuyện với Joe xảy ra khi anh đang làm nhiệm vụ. Joe đã biết điều đó. Anh sẽ chấp nhận nếu nó xảy ra. Joe và tôi biết về rủi ro và nghĩa vụ ngay từ giây phút chúng tôi có nhận thức. Nhưng Molly thì khác. Một điều khác tôi nhớ về phòng thí nghiệm hóa học là vấn đề về áp lực. Áp lực biến than thành kim cương. Áp lực dẫn đến nhiều việc. Nó đang gây ra cho tôi nhiều chuyện. Tôi giận dữ và có ít thời gian. Trong tâm trí, tôi đang thấy Molly bước ra khỏi đường dẫn từ cửa máy bay đó. Sải những bước dài, quyết tâm tìm em trai Joe và giúp đỡ anh ta. Nở một nụ cười lớn chiến thắng. Giơ cao chiếc va li chứa những hồ sơ lẽ ra cô đã không nên sao chép. Gặp rủi ro rất lớn. Vì tôi. Vì Joe. Hình ảnh ấy trong tâm trí tôi đang lớn dần như áp lực vô cùng lớn tác động lên vài đường địa chất cổ xưa. Tôi phải quyết định cách sử dụng áp lực ấy. Tôi phải quyết định xem nó sẽ nghiền nát tôi hay biến tôi thành kim cương. Trong bãi đỗ ngắn hạn của sân bay, chúng tôi đứng dựa vào cản sốc trước của xe Roscoe. Bàng hoàng và im lặng. Chiều thứ Tư, gần ba giờ. Tôi đã nắm chặt lấy cánh tay Finlay. Ông đã muốn ở lại trong kia tham gia điều tra. Ông bảo đó là nhiệm vụ của mình. Tôi phải hét lên với Finlay rằng chúng tôi không có thời gian. Tôi phải dùng sức lôi ông ra khỏi nhà ga. Tôi phải giải ông ra thẳng xe, bởi tôi biết rằng việc chúng tôi sắp làm ngay tới đây sẽ có quyết định sống còn. "Chúng ta phải đi lấy hồ sơ của Gray," tôi nói. "Đó là điều tốt thứ hai", Viên thám tử nhún vai. Từ bỏ cuộc đấu. "Đó là tất cả những gì chúng ta có," ông nói. Roscoe gật đầu. "Ta đi thôi," cô bảo.

Cô và tôi đi bằng chiếc Chevy. Trên suốt chặng đường, Finlay lúc nào cũng chạy trước. Roscoe và tôi không nói với nhau lời nào. Nhưng Finlay thì liên tục nói với bản thân. Ông la hét và chửi rủa. Tôi có thể thấy đầu ông hất lên hất xuống trong xe. La hét và chửi rủa với tấm kính chắn gió xe của mình. *** Teale đang đợi ngay phía sau những cánh cửa đồn. Lưng tựa vào quầy tiếp tân. Bàn tay già nua đầy nốt đồi mồi nắm chặt gậy chống. Lão trông thấy ba chúng tôi bước vào thì tập tễnh bỏ vào phòng họp lớn. Ngồi xuống bên một cái bàn. Cái gần cửa phòng hồ sơ nhất. Chúng tôi bước qua lão già vào căn phòng đầy đồ gỗ hồng sắc. Ngồi xuống chờ đợi. Tôi lôi mảnh giấy in đã bị xé của Joe từ túi áo ra đẩy ngang bàn. Finlay lướt qua. "Không có nhiều, đúng không ?" ông nói. "Tiêu đề có ý nghĩa gì ? E Unum Pluribus à ? Đó là khẩu hiệu hiểu theo nghĩa ngược lại, phải không ?" Tôi gật đầu. "Nhiều từ một", tôi nói. "Tôi không hiểu ý nghĩa." Đội trưởng thám tử nhún vai. Bắt đầu đọc kỹ lại. Tôi quan sát ông nghiên cứu nó. Rồi có tiếng gõ mạnh vào cửa và Baker bước vào. "Teale đang ra khỏi đồn", ông ta thông báo. "Đang nói chuyện với Stevenson ở khu đậu xe. Các vị cần gì không ?" Finlay đưa cho ông ta mảnh giấy in đã bị xé. "Phô tô cho tôi một bản, được chứ ?" Baker bước ra ngoài để làm việc ấy còn Finlay gõ những ngón tay lên bàn. "Tất cả các chữ cái đầu này là những ai nhỉ ?" ông nói. "Chúng ta chỉ biết những người chết", tôi nói. "Hubble và Molly Beth. Hai trong đó là số điện thoại trường đại học. Princeton và Columbia. Cuối cùng là một thám tử dưới New Orleans. "Còn về ga ra nhà Stoller ? Hai người đã xem chưa ?" "Chẳng có gì hết. Chỉ có vài thùng các tông chứa điều hòa nhiệt độ rỗng không từ năm ngoái, khi anh ta chở tới Florida và đánh cắp." Finlay ậm ừ và Baker quay trở vào. Trả lại mảnh giấy của Joe kèm theo một bản phô tô. Tôi giữ bản gốc và đưa bản phô tô cho Finlay. "Teale đi rồi" Baker nói. Chúng tôi vội vã ra khỏi phòng. Thoáng thấy chiếc Cadillac trắng chạy

ra khỏi khu đậu xe. Chúng tôi mở cửa phòng hồ sơ. Margrave là một thị trấn bé xíu ở nơi heo hút nhưng Gray đã dành hai chục năm chồng kín phòng hồ sơ này bằng những đống giấy tờ. Nơi đây có nhiều giấy tờ hơn những nơi tôi đã thấy lâu nay. Cả bốn bức tường đều có những tủ hồ sơ cao đụng trần, cửa tủ sơn trắng tinh. Chúng tôi mở tất cả các cửa tủ. Từng tủ đều xếp đầy các dãy hồ sơ. Trong đó phải có tới cả ngàn chiếc hộp kích thước vừa với giấy A4. Hộp làm bằng sợi thủy tinh, gáy dán nhãn ghi, phía dưới nhãn có vòng dây nhựa để ta có thể kéo các hộp ra khi cần lấy. Bên trái cửa, giá trên cùng là vần A. Bên phải cửa, phía dưới là giá cuối cùng vần z. vần K nằm ở phía tường quay ra cửa, lệch tâm trái một chút, cao ngang tầm mắt. Chúng tôi tìm thấy một hộp dán nhãn "Kliner." Nằm ngay giữa ba hộp dán nhãn "Klan" và một hộp "Klipspringer bang Georgia". Tôi móc một ngón tay vào vòng dây nhựa. Lôi chiếc hộp ra. Nó khá nặng. Tôi đưa cho Finlay. Cả ba chạy ngược lại căn phòng gỗ hồng sắc. Đặt chiếc hộp lên bàn gỗ hồng sắc. Rồi mở ra. Trong này đầy giấy cũ đã ngả vàng. Nhưng đó không phải loại hồ sơ chúng tôi tìm. Nó chẳng liên quan gì tới Kliner. Chẳng có gì hết. Đó chỉ là một tập ghi nhớ cũ dày tám phân của đồn. Tài liệu công tác. Những thứ lẽ ra phải ném vào thùng rác từ vài thập kỷ rồi. Một lát cắt của lịch sử. Những quy trình cần thực hiện nếu Liên Xô chĩa tên lửa vào Atlanta. Những quy trình cần áp dụng nếu một người đàn ông da đen ngồi ở mấy hàng ghế trước của xe buýt. Một đống linh tinh. Nhưng chẳng tiêu đề nào bắt đầu bằng chữK. Không một từ nào liên quan tới Kliner. Tôi chăm chú nhìn tập hồ sơ tám phân và cảm thấy áp lực tăng lên. "Kẻ nào đó đã lấy nó trước chúng ta," Roscoe nói. "Chúng đã lấy hồ sơ của Kliner ra thay thế bằng thứ rác rưởi này." Finlay gật đầu. Nhưng tôi lại lắc. "Không," tôi nói. "Không hợp lý tí nào. Nếu thế chúng sẽ lấy đi cả hộp và chỉ cần ném vào thùng rác. Chính Gray đã làm việc này. Ông ấy cần giấu hồ sơ đi nhưng không thể tự buộc được mình phá vỡ trật tự của phòng hồ sơ. Thế nên ông ấy lấy các thứ ra khỏi hộp và bỏ chỗ tài liệu cũ này vào thay. Giữ cho mọi thứ gọn gàng sạch sẽ. Em bảo ông ấy là người rất cẩn thận, phải không ?" Roscoe nhún vai. "Gray đã giấu à ? Có thể ông ấy đã làm việc đó. Ông ấy giấu súng của mình trong bàn em. Ông ấy không ngại giấu các thứ." Tôi nhìn cô. Điều tôi vừa nói gợi lại điều gì đó rất quen.

"Ông ấy đưa em khẩu súng hồi nào ?" tôi hỏi. "Sau Giáng sinh. Không lâu trước khi ông ấy chết." "Có gì không ổn ở chuyện đó," tôi nói. "Ông ấy là một thám tử đã làm việc hai mươi lăm năm, đúng không ? Một thám tử giỏi. Một người có tuổi, được tôn trọng. Vì sao một người như vậy lại cảm thấy rằng việc chọn một thứ vũ khí không được dùng trong công việc phải là bí mật ? Đó không phải vấn đề của ông ấy. Ông ấy đưa cho em chiếc hộp bởi nó chứa thứ gì đó cần giấu", "Ông ấy giấu khẩu súng. Em đã nói với anh rồi mà." "Không. Anh không tin thế. Khẩu súng chỉ là vật che mắt, để đảm bảo em giữ chiếc hộp trong ngăn kéo có khóa. Ông ấy không cần giấu khẩu súng. Nếu muốn thì một tay như vậy có thể sở hữu cả một đầu đạn hạt nhân làm vũ khí không dùng trong công việc ấy chứ. Khẩu súng không phải bí mật lớn. Bí mật lớn là thứ khác trong chiếc hộp". "Nhưng trong hộp không có gì khác", Roscoe nói. "Chắc chắn không có hồ sơ, đúng chứ ?" Chúng tôi đứng yên một lát. Rồi chúng tôi chạy về phía cửa. Lao ra chạy tới chiếc Chevy của Roscoe trong bãi đỗ. Lôi chiếc hộp chứa hồ sơ của Gray ra khỏi thùng. Mở ra. Tôi đưa khẩu Desert Eagle cho Finlay. Kiểm tra hộp chứa đạn. Chẳng có gì. Chẳng có gì khác trong hộp đựng hồ sơ. Tôi lắc chiếc hộp. Kiểm tra nắp đậy. Không có gì. Tôi xé toang chiếc hộp. Giật các đường dán keo và dàn phẳng lớp bìa cứng. Không có gì. Rồi tôi xé tung nắp đậy. Ẩn dưới nắp phía góc là một chiếc chìa khóa. Được dán vào mặt trong. Nơi không bao giờ bị nhìn thấy. Nơi đã được một người đàn ông đã chết che giấu cẩn thận. Chúng tôi không biết chiếc chìa của ổ khóa nào. Chúng tôi loại trừ mọi nơi trong đồn. Loại trừ bất kỳ nơi nào trong nhà Gray. Cảm thấy những nơi đó quá lộ, không thể được người đàn ông cẩn thận này lựa chọn. Tôi chằm chằm nhìn chiếc chìa khóa và cảm thấy áp lực tăng lên. Khép hai mắt hình dung cảnh Gray lật cái nắp đó ra dán chiếc chìa khóa vào phía dưới. Đưa chiếc hộp cho cô bạn Roscoe. Nhìn cô bỏ nó vào ngăn kéo. Nhìn ngăn kéo đóng lại. Nhìn cô khóa nó vào. Cảm thấy nhẹ người. Tôi đưa hình ảnh ấy vào một cuốn phim và cho chạy hai lần trước khi nó cho tôi biết ổ khóa ở đâu. "Một thứ ở tiệm cắt tóc," tôi nói. Tôi giật khẩu Desert Eagle từ tay Finlay rồi vội vã đẩy ông cùng Roscoe vào xe. Roscoe lái. Cô mở máy, lách ra khỏi bãi đỗ. Rẽ đi hướng

Nam, về phía thị trấn. "Tại sao lại thế ?" cô hỏi. "Trước đây ông ấy hay tới đó. Ba, bốn lần một tuần. Ông già đã bảo anh thế. Gray là người da trắng duy nhất từng vào tiệm đó. Cảm giác đó như lãnh thổ an toàn. Cách xa Teale, Kilner và mọi người khác. Và ông ấy không cần phải vào nơi đó, đúng chứ ? Em đã nói rằng ông ấy có bộ râu quai nón mọc lộn xộn, lại không có tóc mà. Ông ấy không đến đó để cắt tóc. Ông ấy tới đó bởi ông ấy quý hai ông già. Ông ấy nhờ đến họ. Đưa cho họ thứ cần giấu." Roscoe phanh khựng chiếc Chevy trên đoạn phố ngoài tiệm cắt tóc, chúng tôi nhảy ra khỏi xe chạy vào tiệm. Trong tiệm không có khách nào. Chỉ có hai ông già ngồi ở ghế, chẳng làm gì hết. Tôi giơ chiếc chìa khóa lên. "Chúng tôi đến lấy đồ của Gray," tôi nói. Ông già ít tuổi hơn lắc đầu. "Không thể đưa cho cậu, anh bạn ạ," ông nói. Ông bước tới lấy chiếc chìa khóa từ tay tôi. Bước tới ấn nó vào tay Roscoe. "Giờ thì chúng tôi có thể", ông bảo. "Ông Gray đã dặn chúng tôi không đưa cho ai ngoài bạn của ông ấy, cô Roscoe." Ông lại lấy chiếc chìa khóa từ Roscoe. Bước trở lại chậu rửa, cúi xuống mở một ngăn kéo hẹp bằng gỗ gụ gắn phía dưới. Lôi ra ba tập hồ sơ. Đó là những tập hồ sơ dày, mỗi tập đựng trong một kẹp bằng da bò cũ còn lông. Ông đưa một tập cho tôi, một cho Finlay và một cho Roscoe. Rồi ông ra hiệu cho người bạn của mình và họ bước về phía sau. Để riêng chúng tôi ở lại. Roscoe ngồi trên ghế băng cạnh cửa sổ. Finlay và tôi nhảy lên ghế cắt tóc. Đặt hai chân lên giá để chân bằng crôm. Bắt đầu đọc. Tập hồ sơ của tôi là một xấp dày báo cáo của cảnh sát. Tất cả đều là tài liệu được sao chụp và gửi bằng fax. Bị làm mờ hai lượt nhưng tôi có thể đọc. Đó là hồ sơ do thám tử James Spirenza, đội 15 Phòng Điều tra án mạng Cảnh sát New Orleans lập. Spirenza được chỉ định làm thám tử điều tra án mạng cách đây tám năm. Rồi được chỉ định làm thêm bảy năm nữa. Ông kết thúc với một vụ liên quan tới tám người chết. Ông không làm rõ được trường hợp nào. Không một vụ nào. Thất bại hoàn toàn. Nhưng ông đã rất cố gắng. Cuộc điều tra của ông rất tỉ mỉ. Rất nhiều công sức. Nạn nhân thứ nhất là chủ sở hữu một nhà máy dệt. Một chuyên gia, liên quan tới một công thức hóa học mới để xử lý bông. Nạn nhân thứ hai là

quản đốc của người thứ nhất. Ông này đã rời bỏ nhà máy của nạn nhân thứ nhất và cố gắng huy động tiền đầu tư ban đầu để xây dựng doanh nghiệp của riêng mình. Sáu nạn nhân tiếp theo là viên chức chính phủ. Người của Cơ quan bảo vệ môi trường. Khi ấy họ thực hiện một cuộc điều tra từ văn phòng tại New Orleans. Vụ đó liên quan tới tình trạng ô nhiễm ở vùng châu thổ sông Mississippi. Cá chết. Nguyên nhân được phát hiện nằm ở khu vực cách đó hai trăm năm mươi dặm về phía thượng nguồn. Một nhà máy xử lý và dệt bông ở bang Mississippi thải hóa chất xuống nước, trong đó có natri hydroxide, natri hypochlorite và clo, các thành phần này hòa vào nước sông tạo thành hợp chất axit cực độc. Cả tám nạn nhân đều chết cùng một kiểu. Hai phát bắn vào đầu bằng súng ngắn tự động giảm thanh. Một khẩu nòng cỡ .22. Gọn ghẽ và lạnh lùng. Sprienza nhận định rằng thủ phạm là bọn giết người chuyên nghiệp. Ông lần theo các sát thủ theo hai cách. Ông tìm tới mọi sự hỗ trợ có thể kêu gọi được. Trên thực tế thì lực lượng giết thuê chuyên nghiệp khá nhỏ. Spirenza và các đồng nghiệp đã nói chuyện với tất cả những tay đó. Chẳng kẻ nào trong số đó biết gì. Cách thứ hai của Sprienza là phương pháp cổ điển. Tìm ra xem kẻ nào hưởng lợi từ những vụ hành quyết. Ông không mất nhiều thời gian để chắp nối thông tin. Kẻ sở hữu cơ sở xử lý và dệt bông trên bang Mississippi có vẻ đáng nghi. Khi ấy hắn nằm trong vòng vây của tám nạn nhân. Hai trong đó tấn công bằng con đường thương mại. Sáu người còn lại đe dọa đóng cửa cơ sở của hắn. Sprienza nghiên cứu hắn tỉ mỉ. Lộn hết gan ruột hắn ra. Hắn bị soi suốt một năm. Những hồ sơ trong tay tôi chứng tỏ điều đó. Sprienza đã huy động FBI và IRS (Intemal Revenue Service: Cơ quan thuế liên bang). Họ đã rà soát từng xu trong mọi tài khoản để tìm những khoản thanh toán bằng tiền mặt không thể giải thích trả cho sát thủ lẩn trốn. Họ đã tìm suốt một năm mà không phát hiện được gì. Trong quá trình ấy, họ gặp những chuyện rất ghê tởm. Sprienza tin rằng tay sát thủ đã giết vợ mình. Nhận định của ông là hắn đã dùng tay không đánh vợ đến chết. Kẻ đó đã cưới vợ khác, Sprienza đã gửi fax cảnh báo cho cơ quan cảnh sát địa phương. Đứa con trai duy nhất của tên đó là một đứa tâm thần. Theo quan điểm của Sprienza thì nó còn tệ hơn bố. Một tên tâm thần máu lạnh. Kẻ sở hữu cơ sở xử lý và dệt bông đã bảo vệ con trai mình trong mọi bước đi. Che chắn cho nó. Dùng tiền để tránh cho nó khỏi rắc rối. Cả chục cơ quan khác nhau có hồ sơ về đứa con trai. Nhưng chẳng có gì nổi bật cả. FBI New Orleans đã hết quan tâm. Sprienza đã khép vụ án lại. Quên nó đi cho tới tận khi một thám tử già ở một đơn vị vô danh của bang

Georgia gửi fax cho ông, đề nghị cung cấp thông tin về gia đình Kliner. Finlay đã gập tập hồ sơ của mình lại. Xoay chiếc ghế cắt tóc để đối diện với tôi. "Quỹ Kliner là quỹ ma," ông nói. "Hoàn toàn giả mạo. Nó là bình phong cho hoạt động gì đó khác. Tất cả đều có trong này. Gray đã mở toang nó. Kiểm tra sổ sách hết từ trên xuống dưới. Hằng năm quỹ ấy tiêu nhiều triệu đô la nhưng thu nhập được kiểm toán lại bằng 0. Chính xác là 0." Ông chọn một trang trong tập hồ sơ. Ngả người. Đưa nó cho tôi. Đó là một bản quyết toán thể hiện những khoản chi phí của Quỹ. "Thấy không ?" đội trưởng thám tử hỏi. "Không thể tin nổi. Đó là những gì chúng chi". Tôi nhìn bản quyết toán. Bản này ghi lại một con số khổng lồ. Tôi gật đầu. "Có lẽ cao hơn thế nhiều", tôi nói. 'Tôi đã ở đây được năm ngày, đúng không ? Trước đó tôi đã đi khắp đất nước trong sáu tháng. Trước đó thì tôi đi khắp thế giới. Cho tới nay Margrave là nơi sạch sẽ nhất, được chăm sóc tốt nhất, được sửa sang ổn nhất mà tôi từng thấy. Nó còn được chăm sóc tốt hơn cả Lầu Năm góc hay Nhà Trắng. Tin tôi đi, tôi đã từng ở những nơi đó. Mọi thứ ở Margrave hoặc mới tinh hoặc được trùng tu một cách hoàn hảo. Nó hoàn toàn hoàn hảo. Hoàn hảo đến mức đáng sợ. Làm được thế phải mất một số tiền khổng lồ". Finlay gật đầu. "Và Margrave là một nơi rất kỳ lạ", tôi nói. "Hầu như lúc nào cũng không thấy người. Chẳng có sự sống. Trong cả thị trấn chẳng có hoạt động kinh doanh nào. Chẳng bao giờ có gì diễn ra. Không ai kiếm tiền cả." Viên cảnh sát trông ngơ ngác. Không hiểu. "Nghĩ về điều đó đi," tôi bảo. "Lấy tiệm ăn Eno làm ví dụ nhé. Nhà hàng mới toanh. Tiệm sáng sủa, hiện đại. Nhưng ông ta chẳng bao giờ có khách hàng nào. Tôi từng ở đó vài lần. Ở nhà hàng ấy chẳng bao giờ có quá đôi ba người. Số nhân viên phục vụ nhiều hơn số khách hàng. Vậy Eno thanh toán các hóa đơn như thế nào ? Tổng chi phí thế nào ? Thế chấp ra sao ? Mọi thứ trong thị trấn cũng như vậy. Ông đã bao giờ trông thấy những hàng khách tấp nập ra vào bất kỳ cửa hiệu nào chưa ?" Finlay nghĩ về điều đó. Lắc đầu. "Với tiệm cắt tóc này cũng vậy", tôi tiếp. 'Tôi đã tới đây vào sáng Chủ nhật và sáng thứ Ba. Ông già cao tuổi hơn bảo tôi rằng giữa hai ngày đó họ

không có khách hàng nào. Không có khách hàng nào trong vòng bốn mươi tám tiếng." Đến lúc này thì tôi ngừng nói. Tôi nghĩ về điều khác mà ông già đã nói. Ông già xương xẩu đó. Đột nhiên tôi nghĩ về điều đó theo hướng mới. "Ông già cắt tóc", tôi nói. "Ông ấy đã nói với tôi một chuyện. Rất kỳ quặc. Tôi nghĩ là ông ấy điên. Tôi hỏi ông ấy làm sao họ có thể kiếm sống khi không có khách hàng nào. Ông ấy bảo họ không cần khách hàng để sống do có tiền nhận từ Quỹ Kliner. Thế nên tôi hỏi tiền nào ? Ông ấy nói là một ngàn đô. Ông già bảo rằng mọi người kinh doanh đều nhận tiền ấy. Thế nên tôi cho là ý ông ấy muốn nói tới một dạng trợ cấp kinh doanh, một ngàn đô một năm, đúng chứ ?" Finlay gật đầu. Nghe có vẻ đúng với ông. "Lúc ấy tôi chỉ tán gẫu", tôi nói. "Kiểu như ông vẫn làm ở tiệm cắt tóc. Thế nên tôi bảo rằng một ngàn đô một năm thì tốt, nhưng sẽ không ngăn được cái đói, điều gì đó đại loại thể, phải không ? Ông biết lúc ấy ông già nói gì không ?'' Viên thám tử lắc đầu chờ đợi. Tôi tập trung vào việc nhớ chính xác những từ ông già cắt tóc đã nói. Tôi muốn xem liệu Finlay có phủ nhận nó một cách dễ dàng như tôi đã làm hay không. "Ông ấy làm ra vẻ đó là bí mật lớn," tôi nói. "Kiểu như ông ấy lỡ lời khi đề cập chuyện đó. Ông ấy thì thầm với tôi. Ông già bảo rằng ông ấy không nên nói cho tôi, nhưng sẽ nói bởi tôi biết chị ông ấy." "Ông biết chị ông ấy hả ?" Finlay hỏi. Đầy ngạc nhiên. "Không, tôi không biết. Ông ấy cứ lẩn thẩn thế nào ấy. Hôm Chủ nhật tôi đã hỏi ông ấy về Blake Mù, ông biết rồi đấy, nhạc công ghi ta già, và ông ấy bảo rằng sáu mươi năm trước chị gái ông ấy quen Blake. Kể từ khi ấy ông già lẫn lộn, chắc chắn nghĩ rằng tôi đã nói có quen biết chị ông ấy." "Thế bí mật lớn là gì ?" "Ông ấy bảo không phải một ngàn đô một năm. Ông ấy nói là một ngàn đô một tuần". "Một ngàn một tuần à ? Một tuần hả ? Có thể thế chăng ?" "Tôi không biết," tôi nói. "Lúc ấy tôi cho là ông già điên. Nhưng bây giờ tôi nghĩ ông ấy nói sự thật." "Một ngàn một tuần à ?" Firtlay nhắc lại. "Đó là khoản trợ cấp kinh doanh kinh khủng. Thế là năm mươi hai ngàn đô một năm. Đó là khoản lớn lắm đấy, Reacher."

Tôi nghĩ về điều đó. Chỉ vào con số tổng trong bản kiểm tra sổ sách của Gray. "Chúng cần những con số như thế," tôi nói. "Nếu đây là mức chúng tiêu, chúng sẽ cần tới số tiền như thế để trang trải toàn bộ." Finlay đang trầm ngâm. Suy nghĩ kỹ về chuyện này. "Chúng đã mua đứt cả thị trấn", viên thám tử nói. "Một cách rất từ từ, rất nhẹ nhàng. Chỗ này chỗ kia, chúng đã mua cả thị trấn với giá một ngàn đô một tuần." "Đúng. Quỹ Kliner đã trở thành con gà đẻ trứng vàng. Chẳng ai mạo hiểm giết con gà đó. Họ ngậm miệng và làm ngơ trước bất cứ chuyện gì cần làm ngơ." "Phải. Quỹ Kliner có thể thoát tội giết người". Tôi nhìn Finlay. "Chúng đã thoát tội giết người", "Vậy chúng ta phải làm gì ?" Finlay hỏi. "Trước hết chúng ta tìm ra chính xác là chúng đang làm gì, tôi nói. Viên thám tử nhìn như thể tôi điên. "Chúng ta biết việc chúng đang làm, đúng không ?" ông nói. "Chúng đang in cả đống tiền trong nhà kho đó." Tôi lắc đầu. "Không, không phải. Không có hoạt động in tiền giả một cách nghiêm chỉnh ở nước Mỹ. Joe đã chặn đứng hoàn toàn việc ấy. Nơi duy nhất có hoạt động đó là nước ngoài." "Vậy chuyện gì đang diễn ra ? Tôi nghĩ chuyện này hoàn toàn liên quan tới tiền giả. Nếu như không thế thì tại sao Joe liên quan ?" Roscoe từ ghế băng cạnh cửa sổ nhìn sang chúng tôi. "Chuyện này hoàn toàn liên quan tới tiền giả", cô nói. "Em biết chính xác nó liên quan tới điều gì. Từng chi tiết nhỏ." Một tay cô giơ lên tập hồ sơ của Gray. "Một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 29

Đang tải bình luận...