Ám Hắc Quán (Bộ 2 Tập)

Chương 10Khám phá mê cung

Chương 10Khám phá mê cung

Chương 10

Khám phá mê cung

Tsuruko và Shinobu ở lại để chăm sóc Hiruyama. Noguchi và Seijun về thẳng Nhà Bắc, Genji và tôi quay lại phòng ăn. Trên bàn bát đĩa ê hề, nhưng chúng tôi chẳng còn bụng dạ nào nữa. Mỗi người ngồi trầm ngâm một đầu bàn ăn.

“Đây là chuyện... không còn cách nào khác ư?” Tôi cầm chiếc mũ trên bàn lên, hỏi nhỏ.

“Không còn cách nào khác?” Genji chống cằm buồn bã, “Ý cậu là tình trạng bác Hiruyama?”

Tôi gật đầu, đội mũ lên.

Genji rũ vai, nhắm mắt lại, “Vô phương cứu chữa mà. Đành nghe mệnh trời thôi. Quyết định của ba tôi là đúng đấy.” “Không cần báo cảnh sát sao?”

“Việc này...” Genji cân nhắc rồi nheo mắt. “Ba đã nói là không cần. Sẽ không ai làm trái ý ba đâu, mà cũng chẳng còn cách nào khác.”

Ồ, lại tiếp tục “chẳng còn cách nào khác”? Thật ra cũng hợp lý thôi. Ở nơi hẻo lánh, thời tiết xấu, không có phương tiện giao thông, có báo cảnh sát cũng không giải quyết được gì. Tuy nhiên... Kể cả thế, nếu gặp chuyện cấp bách, theo lẽ thường vẫn phải báo cảnh sát chứ? Cho dù đêm nay là Đêm Dahlia...

“Ba anh bị đục thủy tinh thể à?” Góp ý cũng vô ích, tôi cố tình lảng sang chuyện khác.

“Ừ, nó đó.” Genji ngậm một điếu thuốc, lấy chiếc bật lửa yêu thích của anh ra châm. “Năm nay đột nhiên bệnh tình trở nặng, thủy tinh thể đục rõ rệt, thị lực giảm sút theo. Khoảng hai, ba tháng nay, đi lại phải dùng đến gậy. Bác sĩ khuyên ba mổ sớm, ba không đồng ý.”

“Ừm.”

“Khi đục thủy tinh thể, hình ảnh trên võng mạc có màu trắng như nhìn mọi vật qua một lớp màng mờ. Cách chữa trị đơn giản nhất là mổ, bỏ lớp thủy tinh thể bị đục đi. Còn cứ để thế thì sẽ tăng nhãn áp, rắc rối lắm.”

"Ừm."

“Một số bệnh võng mạc và đục thủy tinh thể là do biến chứng tiểu đường, nhưng ba không mắc tiểu đường, cũng không có tiền sử bệnh gây đục thủy tinh thể, thuần túy do tuổi tác thôi. Thế là may đấy. Nhưng đối với chúng tôi thì lão hóa nhanh vẫn là dấu hiệu chẳng tốt đẹp gì. Vì vậy gần đây ba tôi không được vui lắm, tâm trạng thay đổi thất thường, động một cái là phiền muộn. Cũng phải chịu thôi.”

Lão hóa nhanh là dấu hiệu chẳng tốt đẹp gì. Dĩ nhiên thôi, không chỉ với bọn họ mà với bất cứ ai.

“Tôi có cảm giác ba đang thần hồn nát thần tính.” Genji cố tỏ vẻ bình tĩnh, “Không khó nhận ra, tâm trạng ba giờ rất rối bời, buồn phiền và sợ hãi... Kệ ai khuyên nhủ, ba đều không đồng ý mổ. Ba mới 58 tuổi. Tuổi ấy với trạng thái tinh thần này thì...”

Tôi không biết phải góp lời sao cho phải. Genji thở dài khổ sở, hút tiếp điếu thuốc không đầu lọc. Sau khi uống nốt cốc nước trái cây, tôi cũng lấy thuốc lá ra. Đây là điếu cuối cùng tôi mang theo người.

“Bây giờ làm gì nhỉ?” Một lát sau, Genji hỏi. “Mấy tiếng nữa mới mở tiệc. Cậu mệt chưa?”

Tôi lắc đầu, tay phải cầm điếu thuốc chưa châm, “Mệt thì không.”

“Thế mình sang phòng khách Nhà Bắc nhé? Nếu cậu muốn, tôi sẽ dẫn cậu đi tham quan bên đó.”

“Ừ, được đấy!”

“Phòng khách có ti vi. À đúng rồi, còn có bức tranh ban nãy tôi kể cho cậu. bức Dấu hiệu của Issei ấy.” Genji đứng dậy.

Tôi bóp bao thuốc rỗng, “Hết thuốc rồi. Trong túi còn mấy bao. Tôi về phòng lấy đã.”

“Tôi đi trước vậy. Phòng khách nằm trên hành lang dài ban nãy. Nó ở bên trái tính từ đây, phòng chính giữa nhìn ra sân ấy, dễ tìm lắm.” Genji rời bàn, đi về phía cánh cửa đang mở ra hành lang phía Tây phòng ăn.

“Genji này.” Tôi gọi. Hôm nay nghe anh kể bao nhiêu chuyện, một trong số đó làm tôi băn khoăn mãi, nên tôi quyết định hỏi luôn. “Chuyện anh nói với tôi trên tháp Thập Giác là thật hả?”

“Chuyện nào cơ?” Vai Genji run lên. Anh hít sâu một hơi, quay lại bảo, “À, phòng giam á?”

Tôi nhớ lại không gian tối tăm trên đỉnh tháp, hỏi tiếp. “Anh nói chính anh bị nhốt trong ấy phải không?”

“Ừ."

“Vì sao?” Tôi đứng dậy, hai tay nắm lấy cạnh bàn. “Ai nhốt anh?”

“Chuya, cậu cũng biết tôi không nhớ được một phần kí ức hồi bé rồi mà. Nhờ người khác tôi mới biết chuyện mình bị nhốt đấy.”

Genji lạnh lùng nói, hai tay đút túi quần, lưng dựa hờ vào cửa, mắt nhìn xuống chân mình. Tôi cứ nhìn lom lom như giục anh nói tiếp.

“Chẳng bao lâu sau khi ra đời, tôi đã bị nhốt trong căn phòng trên đỉnh tháp, bên kia chấn song gỗ… nhốt mấy năm liền. Vú em của tôi hồi ấy tên là Moroi Shizuka. Dĩ nhiên tôi không nhớ bà, không nhớ bản thân. Chính vì thế mà giờ nhắc đến chuyện này, tôi mới như đang kể chuyện người khác vậy.”

Moroi... Shizuka? Tôi nhớ ngay đến căn phòng ở Nhà Nam, nơi Hiruyama được khiêng vào, nhớ tấm biển gỗ treo cạnh cửa. Mặt sau tấm biển viết “Moroi”.

“Cậu hỏi ai nhốt tôi? Hai mươi tám năm trước, có người đã ra lệnh này.” Genji nhìn vào khoảng không, “Đó là Urado Ryushiro."

“Ba anh á? Tại sao?” Tôi hỏi dồn.

Genji đứng thẳng dậy, lạnh nhạt đáp, “Tại ba yêu Kanna, mẹ tôi, người vợ quá cố của ông ấy. Chắc là thế đấy.”

Hơn 6 giờ chiều, tôi quay lại phòng mình trên tầng hai Nhà Đông để lấy thuốc lá. Ban nãy Genji hỏi tôi có mệt không, tuy nói không sao, thật ra tôi mệt rũ cả người. Không phải mệt về thể xác, mà về tinh thần do hàng loạt sự việc xảy ra từ hôm qua đến giờ. Tôi lấy bao thuốc trong túi, hút hết một điếu tại chỗ rồi vứt mũ xuống giường, ra khỏi phòng.

Bên ngoài trời đã chạng vạng. Mưa vẫn rơi rả rích trên mái nhà. Hình như gió thổi nhẹ hơn, nhưng tiếng sấm thi thoảng vang lên làm người ta giật mình. Tôi đang đi trên hành lang thì một cánh cửa bật mở. Isao loạng choạng bước ra. Tóc tai bù xù, râu ria xồm xoàm, tròng kính cáu bẩn... Gã mặc sơ mi màu vàng nhạt giống sáng nay, cực kì nhàu nhĩ. Có lẽ là tại mặc nguyên quần áo đi ngủ.

“Anh dậy rồi à?” Tôi hỏi gã nghệ sĩ tự phong đang ngáp dài ngáp ngắn.

Isao chống một tay lên tường để giữ thăng bằng, “Hả? Cậu là... Chuya đúng không?” Gã vẫn nói năng lè nhè, dù không đến mức như hồi sáng.

“Anh còn nhớ tôi hả?” Tôi cố kìm nụ cười méo xệch. “Anh tỉnh rồi à?”

“Ôi dào, ngủ không ngon lắm.” Isao lại ngáp dài, mùi rượu phả vào mặt tôi. “Hình như ban nãy dưới nhà khá ầm ĩ. Làm tôi bừng tỉnh... Chuyện gì vậy?”

“À. Chẳng là...” Tôi kể về vụ tai nạn và cho biết Hiruyama bị thương rất nặng, khó lòng qua khỏi.

“Ủa, tai nạn?” Isao xoa cái mũi bóng nhẫy, đôi mắt hằn đầy tơ máu nheo lại.

Tôi nói thêm, “Ba anh cũng chưa về.”

Isao ngạc nhiên, “Vẫn chưa về?” Rồi nhún vai, ra chiều thờ ơ. “Thế là thế nào nhỉ? Ôi, tôi chẳng biết gì sất. Chắc ả Kayako cũng lo ngay ngáy.”

"Thế à?"

“Mà mấy giờ rồi?”

“6 giờ 20 phút.” Tôi nhìn đồng hồ.

Isao nhíu mày vò tóc, chẳng biết gã cho rằng như thế là sớm hay muộn. “Tôi ngủ thêm chút nữa.” Gã nhờ vả, “Cậu nhắn Shinobu giúp tôi là, lúc nào làm xong cơm tối thì đánh thức tôi được không?”

“Ừ, tất nhiên là được. Tối nay có tiệc ở Nhà Dahlia đấy. Anh không tham gia hả?”

“Tiệc? À, thứ đó hả?” Isao cau mày. “Không liên quan tới tôi, cũng không liên quan tới người ngoài như cậu. Nhưng với ông bố và ả kia thì lại là chuyện khác đấy.”

Không liên quan tới người ngoài. Vậy mà tôi lại được mời. Genji rất muốn tôi tham dự, ba anh cũng đồng ý. Có đáng mừng không nhỉ?

“À, Chuya, cậu uống được rượu không?” Isao hỏi.

“Rượu? À, một chút.”

“Thế hả? Vậy tối nay cùng làm một chén nhé?”

"Hừm..."

“Cậu theo đạo Cơ Đốc, lại còn mê mấy thứ cổ điển, đúng không? Tôi rất muốn bàn luận về nghệ thuật với cậu. Sao hả?”

“Chà..” Mặc dù hồi bé tôi từng đến nhà thờ, nhưng không vì thế mà theo đạo Cơ Đốc. Hơn nữa người mê mấy thứ cổ điển là em trai chứ không phải tôi. Không muốn đính chính lại trí nhớ lộn xộn của tên sâu rượu này, tôi chỉ ậm ừ cho qua, cũng không muốn thông báo mình được mời dự tiệc.

“Gặp sau nhé.”

Để lại một câu y hệt lúc chúng tôi tạm biệt sáng nay, Isao lảo đảo về phòng. Đến lúc tỉnh lại, trong đầu gã sẽ tái tổ hợp cuộc nói chuyện vừa rồi như thế nào nhỉ? Vì chưa bao giờ say quắc cần câu, tôi không khỏi tò mò.

Tự dưng nổi hứng, tôi quyết định không đi đường cũ mà xuống tầng một bằng lối đi bí mật. Không muốn suy nghĩ quá nhiều, chỉ đợi Isao vào phòng là tôi quay ngay về hướng ngược lại cầu thang dẫn xuống tiền sảnh. Tôi kéo cần gạt đằng sau giá nến, mở cửa ngầm, vào căn phòng nhỏ đằng sau bức tường. Tiếng mưa bỗng to hơn ban nãy. Tôi lặng lẽ đi trên cầu thang âm u, lòng nảy sinh những cảm xúc khác hẳn sáng nay, lúc phát hiện ra lối đi bí mật này. Đây là không gian không ai biết, à không, thật ra người trong nhà này ai mà chẳng biết. Đi một mình ở đây vừa sợ vừa vui. Không chỉ mình tôi thấy vậy đâu nhỉ? Giống hồi bé lén lút chui vào nhà kho ở sân sau, hay khi chơi trốn tìm với bạn dưới hầm kí túc xá cũ, như là...

Người ngợm sao bẩn thỉu thế kia?

Lúc tôi học tiểu học, gần nhà có một biệt thự bỏ hoang. Nghe nói đó từng là nhà của một đôi vợ chồng già người Đức, còn vì sao người Đức lại sống ở nông thôn thì không hiểu... Biệt thự kiểu Tây, hai tầng, tường màu xám khói, khung gỗ nâu, mái dốc đứng sơn màu lam đậm. Cửa sổ mái đầy bí ẩn. Tường gạch đỏ cao bao quanh sân. Cánh cổng đồng luôn đóng chặt. Mỗi lần tan học đi qua, tôi thơ dại luôn cảm thấy đây là một vương quốc với nhiều điều giấu kín.

Lại nghịch cái gì hả? Con là anh cơ mà...

Dựa theo trí nhớ ban sáng, tôi tìm thấy tay nắm cửa, bước từ phòng nhỏ bí mật sang phòng khiêu vũ rộng lớn. Trời đã tối, không còn tia sáng nào xuyên qua khe cửa chớp nữa, chỉ có ánh sáng mờ mờ hắt vào qua kẽ dưới cửa thông ra hành lang. Tôi mò mẫm trong bóng tối với sự trợ giúp của ánh sáng ấy.

“Lại... tốt...” Loáng thoáng có tiếng nói lẫn trong tiếng mưa. “Sao... rồi...” Giọng nói phát ra từ bóng tối của căn phòng. Tiếng nói ngắt quãng, e dè. Không nghe rõ nội dung, cũng không nhận ra người nói.

Tôi dừng bước, nhìn quanh. Sáng sớm nay, cũng chính trong phòng này, sau khi Midori Mio rời đi, tôi từng nghe thấy giọng nói tương tự. Phát ra từ đâu nhỉ? Rõ ràng không có ai trốn trong phòng khiêu vũ cả. Trên thực tế, tôi không hề cảm thấy có người trong này. Phải chăng giọng nói phát ra từ chỗ khác, hoặc do tôi tưởng tượng?

Tôi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy. Trong nháy mắt, hình ảnh thê thảm của Hiruyama vụt qua tâm trí. Tôi vội lắc đầu lần nữa. Giọng nói kia biến mất. Ra khỏi phòng khiêu vũ, tôi vào phòng tắm lấy nước lạnh rửa mặt rồi sang Nhà Bắc. Đi qua hành lang lát đá như đường hầm, qua sảnh có phòng điện thoại, rồi bước vào hành lang phụ ở cánh Đông Nhà Bắc. Đúng lúc ấy...

Tôi khựng lại như lúc ở phòng khiêu vũ tối om. Tiếng piano văng vắng. Giai điệu âu sầu rệu rã mà trong trẻo lạ lùng. Mấy người lùn mặc áo nâu nhộn nhạo xuất hiện trên lối đi tối như hũ nút của dinh thự u ám, rồi lộn xộn xếp hàng... Không hiểu sao trong đầu tôi lại xuất hiện hình ảnh này. Tôi chẳng biết gì về nhạc cổ điển lẫn nhạc nhẹ. Chỉ có cảm giác mình từng nghe khúc nhạc này rồi...

Ai đang đánh đàn? Hay không có ai, mà chỉ bật đĩa hát thôi?

Tôi vừa đi trên hành lang vừa dỏng tai nghe. Đằng trước là nơi giao cắt với hành lang chính chạy theo hướng Đông-Tây. Cạnh bức tường chỗ giao cắt có một tượng đồng theo tỉ lệ thực. Tượng đồng tạo hình mấy con rắn quấn quanh cơ thể ở trần của một người đàn ông. Tôi nhớ hành lang chính cắt hành lang phụ cánh Tây cũng có tượng đồng theo tỉ lệ thực.

Tiếng piano vẫn tiếp tục. Giai điệu mềm mại nghe âu sầu rệu rã. Không phải đĩa hát, có người đang chơi đàn.

Nằm chếch bên kia tượng đồng là cửa đôi màu đen mở hé. Tiếng piano phát ra từ đó ư? Tôi vô thức tiến về phía cửa. Tiếng piano rõ dần. Tôi ghé mặt nhìn qua khe cửa tối tăm.

Có lẽ người chơi đàn nhận ra sự tồn tại của tôi, tiếng piano im bặt. Tôi vội tránh xa khỏi cửa.

"Kiyoshi!"

Bỗng có tiếng gọi vang lên sau lưng. Tôi càng luống cuống. Quay lại mới nhận ra đối diện căn phòng tôi đang nhìn trộm cũng có cửa đôi. Cửa đang mở, một bóng người xuất hiện.

“Kiyoshi... Kiyoshi à, con có trong đó không?”

Bóng người bước ra khỏi phòng, từ từ tiến về phía tôi. Đó là một phụ nữ gầy gò chừng bốn mươi tuổi, mặc váy dài màu đen, áo khoác ngoài màu cam. Cô để tóc xoăn lọn to, gương mặt nhỏ nhắn thanh thoát nhưng thất thần.

“Kiyoshi đâu?” Cô lục vấn ngay, không hề hỏi tôi là ai dù chúng tôi mới gặp lần đầu. Đây là Mowa, mẹ Kiyoshi?

“Ủa... Cậu có thấy Kiyoshi đâu không?” Mowa lại hỏi.

“Ở Nhà Nam, ban nãy cháu mới gặp thằng bé.” Tôi trả lời.

Đôi mắt to khuất dưới hàng mi dài bỗng trợn trừng, đôi môi son trùng màu áo khẽ run run. “Thằng bé không sao chứ? Nó không được khỏe, nên tôi lo lắm... Tại tôi cả. Tôi mà khỏe mạnh thì thằng bé cũng không…” Nói một hồi, cô nghẹn ngào như sắp òa khóc, đôi mắt to ầng ậng nước. “Giá mà tôi chịu tội thay nó được. Ôi, Kiyoshi của tôi. Tôi lo cho thằng bé lắm, lo lắm luôn...”

Tôi chỉ biết gật đầu. Mowa lấy khăn tay lau nước mắt rồi lại tiếp tục than “Lo lắm lo lắm”. Được một lát cô im bặt, nhìn quanh như bừng tỉnh.

“Kiyoshi đâu?” Cô lại não nuột hỏi.

Trái tim Mowa cũng tan nát theo...

Tôi nhìn cô, nhớ lại lời chồng cô.

Mowa xoay đầu, láo liên ngó quanh, “Kiyoshi... đâu?” Đúng lúc này...

“Kiyoshi hả, nó ở trên tầng hai.”

“Thằng bé sang phòng bọn cháu nói chuyện ạ.”

Hai giọng nói giống nhau cùng vang lên. Tôi ngạc nhiên ngoái đầu. Cửa căn phòng có tiếng đàn mở ra, Midori Mio xuất hiện.

“Dì à, dì yên tâm đi.”

“Kiyoshi vẫn khỏe.”

“Ki... Kiyoshi.” Mowa lẩm bẩm và chậm rãi quay gót, lảo đảo bước đi trên hành lang.

“Dì Mowa lúc nào cũng thế.” Một trong hai chị em song sinh giải thích.

“Dì cứ lang thang khắp dinh thự để tìm Kiyoshi.”

Tôi quay về phía họ. Cặp song sinh vẫn mặc bộ kimono màu cam nhạt sáng nay. Bắt gặp mắt tôi, họ mỉm cười.

“Chào anh, anh Chuya.”

“Chào anh, anh Chuya.”

Hai giọng nói giống nhau đồng thanh chào.

“Chào các em.” Tôi trả lời và thầm xác nhận: nhìn từ phía tôi thì bên phải là Midori, bên trái là Mio... Ừ, chắc không sai đâu.

“Dì Mowa lúc nào cũng lo cho Kiyoshi.” Mio nói xong, Midori tiếp lời, “Dì ấy lo lắm, khóc lóc suốt thôi. Nên mắt dì mới đỏ ngầu như vậy, giống chuồn chuồn ớt, cứ thơ thẩn trong dinh thự.”

“Ban nãy hai đứa chơi đàn trong phòng kia sao?” Tôi hỏi.

Cặp song sinh bẽn lẽn gật đầu.

“Ai chơi thế?”

“Cả hai ạ.” Midori trả lời, tò mò nhìn tôi. “Anh có thích Satie không?”

Nghe hỏi tôi mới nhớ ra. Đó là nhạc của Satie, Erik Satie. Genji từng bật bản nhạc này ở nhà anh tại Hakusan, thi thoảng tôi nghe thấy. Chẳng trách ban nãy lại có cảm giác quen thuộc.

“Satie có bản song tấu Ba khúc nhạc hình quả lê. Các tác phẩm của Satie thường mang nhan đề quái dị. Anh biết không?” Mio hỏi.

“À...”

“Ban nãy chúng em chơi

Gnossiennes

. ‘Gnossiennes’ là từ mà Satie tự nghĩ ra đấy. Kì lạ quá anh nhỉ.”

Genji cũng nói thế. Anh kể rằng, “Gnossiennes” là biến thể từ “Knossos”. Knossos là tòa thành cổ trên một hòn đảo đặc biệt ở Hy Lạp xưa, tòa thành như mê cung ấy là kinh đô của vua Minos, ở đó hoàng hậu Pasiphae sinh ra đứa con dị dạng Minotaur.

“

Ba khúc nhạc hình quả lê

cũng là hai đứa cùng chơi à?”

“Chúng em đang tập thôi. Bài đó khó lắm, chưa chơi hay được.”

“Chúng em không giỏi thế đâu.” Midori hạ giọng. “Mà này, mẹ chúng em biết chơi nhạc cụ đấy.”

“Mẹ hai đứa?”

“Vâng.”

“Không phải mẹ dạy các em chơi đàn sao?”

Cặp song sinh cùng lắc đầu.

“Dì Tsuruko dạy ạ.” Midori trả lời.

“Dì Tsuruko chơi đàn hay lắm.”

“Thật á?” Không ngờ đấy! Cựu y tá, tóc luôn búi cao sau gáy, gương mặt nghiêm nghị khó gần. Tôi nhớ lại diện mạo của dì quản gia rồi hỏi, “Sao mẹ không dạy hai em? Biết đâu cô ấy chơi đàn còn hay hơn dì Tsuruko...”

“Mẹ không dạy được.” Mio cụp mắt xuống.

“Mẹ không dạy được chúng em đâu.” Midori cũng cụp mắt.

“Mẹ ấy...”

“Mẹ ấy.”

Cặp song sinh đồng thanh. Rồi Mio ngước mắt nhìn tôi, vẻ mặt đau buồn và bối rối... Đây là lần đầu tiên tôi thấy cô bé như vậy.

“Lúc sinh chúng em ra, mẹ quá hoảng sợ. Từ bấy đến giờ, mẹ vẫn sợ.”

Căn phòng hai chị em chơi đàn gọi là “phòng nhạc”. Trong đó ngoài piano ra còn loa, đĩa hát và nhạc cụ khác. Phía Bắc phòng nhạc là phòng bida, bên kia hành lang là phòng ăn chính, phòng hút thuốc và bếp. Nhìn khu vực này là dễ dàng nhận ra, Nhà Bắc rộng hơn Nhà Đông nhiều. Tôi đề nghị cặp song sinh, bao giờ tập xong khúc song tấu thì chơi cho tôi nghe với. Sau đó, nhờ họ dẫn đường, tôi đến chỗ Genji.

Đi từ phía Nhà Đông, phòng khách nằm bên trái, giữa hành lang chính chạy theo hướng Đông-Tây. Căn phòng có hai lối vào. Tôi vào bằng cửa phía Đông, cũng là cửa vào gần tôi nhất. Căn phòng kiểu Tây, rộng chừng 80 m2, khoảng hai phần ba diện tích nằm thấp hơn cửa, có bậc thang bước xuống. Vì vậy, trần nhà vốn cao trông càng cao hơn. Giữa bức tường phía Nam có cửa đôi mở ra hàng hiên. Hình dáng giống cửa sổ kiểu Pháp, nhưng cả khung cửa và cánh cửa đều sơn đen. Trên cánh cửa còn lắp kính màu có hoa văn.

Bình thường phòng hướng Nam sẽ xây thông thoáng để đón sáng, nhưng kiến thức này không được áp dụng ở Ám Hắc Quán. Phòng khách Nhà Bắc cũng giống các phòng khác, tuyền một màu đen, tổng thể tối tăm. Sàn, tường, trần, đồ đạc... đều đen sì, ảm đạm. Chùm đèn treo trên trần cũng không có chút ánh sáng kim loại nào.

Tuy nhiên, tấm kính trên ô cửa sổ kiểu Pháp lại có màu xanh lam. Đây là màu sắc mà tôi nhìn thấy nhiều nhất sau đen và đỏ kể từ khi đặt chân đến đây. Cửa chớp ở các cửa sổ khác đều đóng chặt, nên vào ban ngày, ánh sáng chiếu qua lớp kính làm phòng khách mang màu xanh lam, cảm giác như lạc dưới đáy biển.

“Chuya, cậu đến rồi hả. Qua đây đi!”

Genji ngồi trên sofa giữa phòng. Thấy tôi bước vào, anh giơ tay gọi. Ông bác sĩ to béo ngồi ở sofa đối diện, cạnh cái bàn thấp, đã cởi áo choàng. Không ai ngạc nhiên khi thấy tôi đi cùng Midori Mio.

"Anh Genji."

"Anh Genji."

Hai chị em đồng thanh chào người anh cùng cha khác mẹ và bước xuống bậc thang. Tôi vội đi theo.

“Chúng em gặp nhau ở cửa phòng nhạc ạ.”

“Anh Chuya đến giữa lúc chúng em đang chơi đàn.”

Cặp song sinh tíu tít kể với giọng véo von.

Genji mỉm cười hỏi, “Lại chơi nhạc Satie hả? Giờ anh không thích nhạc ông ta lắm. Với dân nghiệp dư thì chơi nhạc cổ điển còn không bằng chơi nhạc jazz, đúng không?”

Nghe họ nói chuyện, tôi thầm nghĩ, Genji nghe suốt đấy thôi?

“Anh lại trêu chúng em.”

“Anh dạy chúng em nhạc Satie còn gì?”

“Chuya cũng thích nhạc Satie đấy.”

“Ồ? Thế hả?” Genji liếc tôi, nheo mắt, “Cũng đúng, Satie và Nakahara Chuya đều là các nghệ sĩ theo trường phái Dada.”

Phòng này lát đá đen, sofa kê trên thảm lông đen, ti vi đặt ở góc tường sát sân. Trên ti vi, phóng viên đang nghiêm nghị đưa tin về đợt tuyết đầu tiên trong năm trên đỉnh Phú Sĩ. Tuyết rơi muộn hơn năm ngoái bốn ngày, nhưng lại sớm hơn thời điểm trung bình ba ngày.

Hình ảnh và âm thanh đều không nét lắm. Cũng phải thôi, vị trí xa xôi hẻo lánh quá mà. Chưa kể còn sắp bão.

“Mưa gió chưa có dấu hiệu suy giảm nhỉ.” Noguchi vừa xem ti vi vừa lẩm bẩm.

“Từ tối nay đến sáng mai phải cẩn thận. Bản tin ban nãy đã cảnh báo rồi còn gì?”

Genji gọi tôi ngồi xuống sofa. Midori Mio an tọa bên phải tôi, mùi thơm thoang thoảng bay sang. Tôi hỏi Noguchi, “Cô Kayako thế nào rồi ạ? Cháu nghe nói cô ốm, phải nằm nghỉ trong phòng.”

Noguchi đáp, “Bị cúm thôi. Sốt cao, thần trí mơ màng nên không vật vã lắm đâu. Cứ nghỉ ngơi nhiều là đủ...”

“Nếu không khá hơn thì đáng lo đấy. Không cẩn thận là trở nặng như chơi.”

Tôi gật đầu đồng tình với Genji. Mùa đông năm ngoái tôi bị cúm và mệt lử, tôi còn nhớ rõ tình hình khi ấy. Năm ngoái cả thế giới đều phải chống chọi với dịch cúm, Nhật thì một nửa dân số mắc cúm.

“Isao có lo lắng không ạ?”

“Không, cậu ta không quan tâm.”

“Cháu cũng nghĩ vậy. Nó chẳng bao giờ đoái hoài đến cha mẹ, chẳng hiểu tại sao lần nào họ đến nó đều đi cùng.”

“Chú Rikichi vẫn chưa về. Cô Kayako biết chưa?” Tôi hỏi. Genji nghiêng đầu, “Hình như chưa ai cho mợ ấy biết.”

“Xem tình hình thế nào đã. Cần thì để tôi nói với cô ấy.” Noguchi vuốt râu. “Đang sốt mê man lại nghe chuyện này thì chỉ tổ ốm thêm.”

“Vậy nhờ bác nhé. Hoặc đợi tiệc tối nay kết thúc, sáng mai báo với cô ấy cũng được.”

"Ừm."

“À, anh Chuya ơi.” Mio thò đầu ra nhìn tôi từ bên cạnh Midori. “Anh ở đây đến bao giờ?”

Tôi liếc Genji, “Anh định ngày kia về.”

“Ủa? Sao không ở thêm mấy hôm nữa?”

“Đúng đấy, đúng đấy.” Midori phụ họa. “Anh còn hứa sẽ nghe chúng em chơi đàn cơ mà.”

“Ừ, nhưng…”

“Đừng lo, Chuya còn đến chơi nữa mà.” Genji đỡ lời. “Lúc đó cậu ấy sẽ nghe các em chơi đàn, Chuya nhi?”

“Đúng. Nhất định anh sẽ quay lại...”

Midori Mio nhìn nhau, bĩu môi hồng và im lặng gật đầu. Phản ứng quá trẻ con so với tuổi, nhưng tôi lại thấy thú vị. Cặp song sinh với cấu tạo cơ thể không bình thường lại có vẻ đẹp của búp bê cổ điển kiểu Tây. Tôi vừa thích thú vừa kính sợ.

“Chuya xem này.” Genji trỏ bức tường giáp hành lang. “Ở đó treo bức tranh tôi kể với cậu đấy.”

“À, nó đây hả...” Tôi đứng dậy khỏi sofa, từ từ lại gần bức tranh lồng khung đen, tác phẩm

Dấu hiệu

của Fujinuma Issei. Khổ tranh cũng là 81×116 cm, giống

Tiệc đỏ

. Dù là dân ngoại đạo, tôi cũng nhận ra hai tranh mang phong cách khác hẳn nhau.

Tiệc đỏ

có tính trừu tượng cao, Dấu hiệu lại thiên về tả thực. Nhìn qua, người ta có cảm giác họa sĩ chỉ vẽ phong cảnh. Vấn đề là, phong cảnh không bình thường chút nào. Giữa núi non trùng điệp là cái hồ rộng lớn, mặt hồ vốn xanh lam chuyển dần sang sắc đỏ theo hướng từ phải qua trái. Mưa rơi như trút từ bầu trời phủ kín mây đen... Đúng như Genji nói, bức tranh này quá giống cảnh tượng chúng tôi chứng kiến ngoài cổng Bắc, giống đến đáng sợ.

Issei được miêu tả là họa sĩ thiên tài có đôi mắt nhìn thấu ảo ảnh. “Đôi mắt nhìn thấu ảo ảnh” ấy là...

“Anh thích tranh vẽ à?” Midori Mio đã tới bên tôi tự lúc nào. Câu vừa rồi là ai trong hai chị em hỏi nhỉ?

“Dì Mowa vẽ cũng đẹp lắm.” Lần này là Midori.

“Thế ư?” Tôi hơi ngạc nhiên. Trong một thoáng, tôi không sao liên hệ được người phụ nữ lảo đảo đi trên hành lang với cô Mowa vẽ-cũng-đẹp-lắm.

“Bình thường dì toàn nhốt mình trong phòng làm việc, vẽ mải miết. Tranh dì vẽ rất dị biệt.”

“Còn nữa, chỉ cần ra khỏi phòng làm việc là dì lại đi tìm Kiyoshi. Suốt ngày dì than lo lắm lo lắm. Còn nỉ non đòi chịu tội thay nó. Lúc nào hay gặp ai cũng thế.”

Khi miệt mài vẽ tranh, có bao giờ Mowa tạm thời quên được đứa con kém may mắn? Hay là đối với cô, việc vẽ tranh giúp cân bằng tâm lý?

“Bức tranh này.” Tôi chỉ Dấu hiệu, bảo cặp song sinh. “Nghe Genji nói màu đỏ của nước hồ là máu người cá.”

“Người cá á?”

“Người cá á?”

Cặp song sinh đồng thanh hỏi rồi gật đầu lia lịa.

“Vâng.”

“Máu người cá đấy ạ.”

Mio hỏi tiếp, “Anh có thích người cá không?”

Hả? Sao lại hỏi thế? Thấy tôi ngạc nhiên, hai chị em cười khúc khích. Tiếng cười véo von như chim hót.

“Anh Chuya thích kiểu con gái nào?”

Lần này là câu hỏi của Midori. Tôi không biết phải trả lời ra sao, cặp song sinh lại bật cười khúc khích ra chiều thích thú. Họ có biết Hiruyama gặp nạn không nhỉ?

“Biển Bắc, không có người cá.” Mio bỗng thầm thì.

“Chỉ có sóng to.”

“Gì vậy?” Tôi ngơ ngác nhìn họ.

Mio cười tinh nghịch, “Thơ của Chuya ạ.”

“À, thơ của Nakahara Chuya hả?”

“Bài thơ có tên

Biển Bắc

, nằm trong một tập thơ anh em tặng. Bài thơ hay ơi là hay nên dễ thuộc.”

Nói mới nhớ, tôi cũng từng đọc bài này trong tập thơ Genji tặng, nhưng không nhớ.

“Anh có thích thơ không?” Midori hỏi tiếp, không đợi tôi trả lời, cô bé lại đọc, “Dưới trời âm u, sóng dồi cuồng loạn, như muôn cái miệng, ngày đêm hướng lên. Thét bao lời nguyền, từ sâu lòng biển.”

Mio đọc lại hai câu mở đầu.

“Biển Bắc, không có người cá, chỉ có sóng to.”

“Bài thơ hay không?” Midori hỏi.

“Biển Bắc không có người cá. Chỉ hồ nhà ta có người cá.”

Phía Đông và phía Tây phòng khách đều có cửa dẫn sang phòng bên cạnh. Bên Đông là thư viện, như Genji cho biết lúc chúng tôi đi ngang hồi chiều. Rất nhiều sách xưa ở Nhà Bắc đã chìm trong biển lửa ngày trước, may là vẫn còn không ít sách hiếm. Tôi không cuồng sách, nhưng rất tò mò về bộ sưu tập tiểu thuyết trinh thám của Seijun. Tôi mê trinh thám lắm, đọc đủ mọi tác giả từ Đông sang Tây: Edgar Allan Poe, Conan Doyle, Chesterton, Edogawa Ranpo, Yokomizo Seishi... Khi tôi rời tranh để đi xem thư viện, Midori Mio lại nói, “Sang bên này đi anh.” Và kéo tôi sang bên Tây, là phòng giải trí.

“Anh thích chơi cờ vua không?” Midori hỏi.

Cặp song sinh vào trước rồi cùng ngoái đầu nhìn tôi. Cờ tướng tôi nắm sơ sơ, cờ vua thì chỉ biết là “trò chơi gần giống cờ tướng”. Khi tôi thật thà khai rằng mình biết mỗi tên quân cờ và các nước đi cơ bản, họ thất vọng ra mặt.

“Thế anh ngồi xem chúng em chơi cờ vậy.” Mio nói.

Cặp song sinh đi về phía chiếc bàn nhỏ hình vuông để bàn cờ, đặt hai ghế cạnh nhau rồi cùng ngồi xuống.

Tôi đi sau, tiện thể nhìn quanh phòng. Mặt sàn lát ván gỗ đan xen hai màu đen đỏ, giống phòng khiêu vũ ở Nhà Đông. Cửa sổ trông ra sân treo rèm nhung đen. Phía trước tấm rèm là bàn tròn lớn phủ khăn trải đỏ thẫm, chắc là để chơi bài. Ngoài ra còn mấy chiếc bàn nhỏ giống chiếc bày bàn cờ, hình như một trong số đó là bàn mạt chược.

Midori Mio ngồi xuống, đã xếp xong bàn cờ vua. Nhìn từ sau lưng thì Midori ở bên trái, cầm quân trắng. Mio ở bên phải, cầm quân đen. Đối với hai người dính liền nhau, muốn chơi cờ đúng là chỉ có cách ngồi như vậy.

“Ai chơi giỏi hơn?” Tôi nhìn với lên bàn cờ.

Bên cầm quân trắng đi trước. Trên bàn cờ bằng đá hoa nặng trịch là quân cờ cũng bằng đá hoa được chạm khắc tỉ mỉ. Quân đen thật ra có màu đỏ thẫm.

“Ngang ngửa ạ.” Mio trả lời.

“Vâng, chúng em đều có thắng có thua.” Midori nói.

“Anh Genji giỏi lắm.”

“Nhờ anh Genji dạy anh nhé.”

“Hay đó. Để anh Genji dạy anh đi.”

“Anh mà biết chơi thì có thể chơi cùng chúng em.”

“Chắc chắn anh sẽ chơi giỏi nhanh thôi.”

Cặp song sinh vừa trò chuyện rôm rả vừa liên tục di chuyển quân cờ. Họ chơi rất nhanh, như thể đoán trước được nước đi của người kia.

“Anh có thích mèo không?” Đột nhiên tôi lại nhận được câu hỏi. Lần này là Mio.

“Mèo hả? Để anh nghĩ... Tuy chưa nuôi bao giờ nhưng anh không ghét mèo.”

Câu trả lời của tôi làm Mio cười vui sướng, “Thế lát nữa cho anh xem mèo của chúng em nhé.”

“Ủa? Ở đây có nuôi mèo à?” Bất ngờ thế. Tôi không khỏi nghĩ, dinh thự mà nuôi mèo, chắc chắn là mèo mun.

“Cheshire ở tầng hai, trong phòng ngủ của chúng em.” Midori đáp.

“Cheshire? Tên nó đấy à?”

“Vâng, vô cùng đáng yêu ạ. Nó quấn chúng em lắm.” Tôi nhớ ngay đến Alice ở xứ sở diệu kỳ của Lewis Carroll. Trong truyện có nhân vật mèo Cheshire.

Ván cờ tiếp tục. Liên hệ từ cờ tướng, tôi hơi hơi nhìn ra cục diện. Thế cờ càng mở rộng, trò chuyện càng thưa, thời gian suy nghĩ cũng dài thêm. Quân trắng của Midori đang chiếm ưu thế. Tôi không để ý đến ván cờ nữa, đan tay vươn vai cho đỡ mỏi, quan sát xung quanh lần nữa và phát hiện ra góc Tây Bắc phòng có một chiếc đồng hồ kì lạ. Đồng hồ cao ngang đầu người, điểm này thì bình thường thôi. Mặt đồng hồ hình tròn, đường kính tầm hai gang tay, số La Mã từI đến XII rải vòng quanh, hai kim màu đen, một dài một ngắn, chỉ gần 8 giờ. Đồng hồ khảm trên bức tường rộng chưa đầy một mét, tường như ăn vào đồng hồ, đây mới là điểm kì lạ. Một thiết kế cực kì hiếm gặp. Động cơ của đồng hồ ẩn trong tường, tường cấu trúc nên một phần đồng hồ.

Trong lúc tôi xem xét đồng hồ, hai kim di chuyển đến 8 giờ. Đầu tiên là tiếng bánh răng khớp nhau giòn tan. Tiếp đó mảng tường bên dưới đồng hồ biến đổi, từ phẳng phiu biến thành cửa đôi, mở đánh cạch, bên trong bắn ra một chiếc bục hình hộp màu đen gắn đĩa tròn với hai con búp bê bên trên. Búp bê nam mặc vest đuôi tôm đen tuyền, búp bê nữ mặc váy đỏ thẫm. Hai con cao chừng một gang tay, chế tác rất tinh xảo, đứng ôm nhau trên đĩa. Giai điệu phát ra từ hình hộp, mềm mại, trong trẻo, phảng phất cô đơn. Chiếc đĩa thong thả xoay theo nhạc. Đôi búp bê chậm rãi ôm nhau xoay tròn như nhảy điệu van.

Cầu kì tâm huyết ghê! Tôi nín thở lắng nghe giai điệu trầm bổng và dõi theo chuyển động của đôi búp bê.

Sau vài đoạn lặp, khúc nhạc mới kết thúc, đôi búp bê ngừng nhảy. Bục thu về cùng tiếng bánh răng khớp nhau, cửa đôi đóng lại. Trên tường còn mỗi mặt đồng hồ.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 11

Đang tải bình luận...