Bản Sao

phần là do lỗi của mình, nên mỗi khi đi thăm

phần là do lỗi của mình, nên mỗi khi đi thăm

phần là do lỗi của mình, nên mỗi khi đi thăm mộ đều khóc rất to.” “Vậy tại sao mẹ con lại bỏ học đại học và quay về Tokyo?” Khi tôi hỏi điều này, mí mắt dưới đang sụp xuống của bác khẽ cử động. “Chà, chuyện đó…” Bác nghiêng đầu sang một bên, miệng hơi lắp bắp, có lẽ bác là người không giỏi nói dối. “Bác à!” Tôi tựa lưng vào ghế và quay người về phía bác. “Con đã hai mươi tuổi rồi nên những điều nhỏ nhặt không làm con ngạc nhiên đâu. Mẹ

cũng đã mất rồi, và con nghĩ mình nên biết về sự ra đời của bản thân. Vì vậy, con mong bác nói cho con biết sự thật. Việc mẹ con quay về Tokyo có liên quan tới chuyện sinh con đúng không?” Có vẻ như tôi đã đoán đúng. Bác quay lưng lại với tôi và nhìn chằm chằm xuống sàn. Một lúc sau, bác đứng dậy chắp tay trước bàn thờ rồi quay trở lại. “Bác đã đi xin phép Shiho. Liệu bác có thể nói chuyện này với con hay không?” “Vậy mẹ con đã nói gì?” “Không còn cách nào khác… bác cảm thấy giống như mẹ con đang nói như vậy, nên chắc là không sao đâu.” Ông ấy nheo mắt lại, rồi tiếp tục nhìn xuống sàn nhà. “Nhưng mà những chuyện bác biết cũng không có gì đặc biệt đâu.” “Không sao đâu, bác cứ nói đi.” “Được rồi,” bác gật đầu rồi tiếp tục. “Bác không nhớ rõ ngày tháng, nhưng bác nghĩ có lẽ là vào dịp cuối năm. Shiho, người lẽ ra đang ở Asahikawa, lại đột nhiên quay về nhà, và hỏi mượn bác một chút tiền. Điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nhưng việc khiến bác bối rối hơn cả chính là Shiho đang mang thai. Chuyện gì thế này? Đối phương là ai hả? Bác đã hỏi điều đó thay cho ông bà. Nhưng Shiho lại ngoan cố không chịu nói tên ba ruột đứa bé, thay vào đó em ấy lại nói thế này: ‘Em sẽ ở nhà một người bạn và tự chăm sóc bản thân cho tới khi đứa trẻ ra đời, nhưng xin anh đừng nói chuyện này cho ai.’ Dù bác gặng hỏi lý do, song mẹ con vẫn không chịu nói gì. Và đúng như lời Shiho nói, ngày hôm sau bác không thấy em ấy đâu nữa.” “Người bạn đó là ai vậy bác?” “Bạn học của mẹ con ở trường trung học nữ sinh. Nagai, Nagae… Ừ, cô ấy tên là Nagae.” “Con biết cái tên đó,” tôi nói và sực nhớ đến những tấm thiệp chúc mừng năm mới được gửi tới nhà hằng năm. “Vì muốn biết tình hình của mẹ con nên bác đã gọi điện hỏi thăm, nhưng Shiho chỉ nói hãy để em ấy được yên một thời gian nữa. Bác nghĩ mẹ con đang gặp rắc rối, nhưng bác lại không biết phải giúp thế nào. Bác không còn cách nào khác ngoài việc làm theo lời mẹ con. Nhưng vào một ngày nọ, có

một vị giáo sư từ Đại học Y Hokuto đã đến thăm bác.” “Giáo sư… người đó tên là gì vậy?” “Đáng tiếc, bác không nhớ tên,” bác nhướn mày nói. “Dù sao thì bọn bác cũng chỉ gặp nhau đúng một lần đó thôi. Bác nhớ đó không phải là một cái tên quá phổ biến, nhưng bác không tự tin lắm. Chỉ nhớ đó là một người đàn ông lớn tuổi với dáng người gầy gò.” “Vậy người đó tới làm gì vậy?” “Ông ấy nói muốn gặp Shiho. Chắc hẳn mẹ con đang trốn chạy điều gì đó. Nếu đúng là thế thì bác càng không được nói ra địa chỉ của Shiho. Cuối cùng, vị giáo sư đó đã bỏ cuộc và rời đi. Không lâu sau, mẹ con trở về nhà. Tới giờ bác vẫn còn nhớ rõ nét mặt của mẹ con khi đó, trông rất vui vẻ và thoải mái. Khi bác hỏi rằng đã trút được những lo lắng rồi ư, mẹ con đã trả lời là đúng vậy. Sau đó Shiho ở lại nhà, và tới tháng Năm thì sinh một bé gái.” Vậy đứa bé đó chính là tôi ư? “Chắc con cũng biết những chuyện sau đó phải không? Shiho là một y tá có trình độ, vì vậy em ấy đã làm việc tại bệnh viện để kiếm sống và nuôi nấng con. Bác cũng có ý định giúp đỡ, nhưng mẹ con từ chối vì muốn tự thân vận động. Mẹ con cũng sớm trả lại số tiền trước đây đã vay bác.” Tôi biết điều đó rất rõ. Hơn bất kỳ ai, tôi hiểu mẹ đã làm thế nào để nuôi dưỡng tôi nên người. “Vậy còn việc ba ruột của con là ai thì sao?” Bác lắc đầu. “Đó là điều duy nhất cho tới cuối mẹ con vẫn không chịu nói với bác. Bác đã nghĩ rằng người đó có liên quan tới trường đại học, nhưng Shiho nói không phải.” “Vậy còn vị giáo sư ở Đại học Y Hokuto thì sao?” “Bác cũng nghĩ về người đó. Nhưng Shiho chỉ cười và nói không phải, nụ cười đó không phải là đang diễn đâu.” “Hừm…” “Nhưng có lẽ nào ba con không còn không?” Bác trầm ngâm nói như tự nhủ. “Ở Asahikawa ư?” “Ừm,” bác gật đầu nói. “Có thể Shiho đã định ước với người đó nhưng cuối cùng cả hai không đến được với nhau dù con đã hiện diện. Dù vì lý do gì, thì bác nghĩ vị giáo sư Đại học Y Hokuto kia có thể là người đã làm mai

cho ba mẹ con.” “Quá trời quá đất,” tôi nhìn bác và thốt lên. Tôi thật sự ngưỡng mộ trí tưởng tượng của bác. “Y như phim luôn.” “Nhưng suy luận kiểu đó mới hợp lý đúng không? Nếu ba con còn sống, ông ấy nhất định phải tìm con chứ. Kể cả ba mẹ con có hiềm khích, thì không người cha nào muốn bỏ con mình cả. Chắc chắn là vậy.” “Có lẽ vậy,” tôi lí nhí đáp. Nhìn bác chiều chuộng các anh em họ của mình, tôi hoàn toàn có thể hiểu được điều đó. “Đó là tất cả những gì mà bác biết,” bác nói với giọng buồn bã. “Chỉ có Shiho mới có thể xác nhận mọi điều. Nhưng như vậy cũng tốt, bác hiểu con muốn tìm hiểu về ba ruột, nhưng đôi khi biết rồi chưa chắc đã tốt.” “Con cũng không kỳ vọng điều gì đó tốt đẹp,” tôi cười nhẹ đáp. “Nhưng có một điều khiến con lo lắng, và nó liên quan đến việc con xuất hiện trên tivi vào tuần trước.” Tôi kể cho bác nghe việc mẹ phản đối tôi xuất hiện trên truyền hình. “Tại sao mẹ con lại làm vậy? Bác không nghĩ có lý do gì để phản đối chuyện đó,” bác lắc đầu nói. “Bác cũng thấy kỳ lạ đúng không?” Tôi hỏi. “Ừ. Bởi chẳng cha mẹ nào lại muốn vậy cả. Thường thì mỗi khi con cái được xuất hiện trên tivi, ngay cả khi đứa trẻ không được xinh đẹp như con, hẳn ai cũng cảm thấy phấn khích.” Bác nói điều đó với vẻ mặt nghiêm túc, rồi lảo đảo đứng lên đi đến gần bàn thờ. Sau đó, bác nói chuyện với di ảnh của mẹ. “Này Shiho. Em mất rồi mà vẫn định làm bọn anh phải phiền não sao? Làm ơn hãy dừng lại đi.” “Đúng vậy,” tôi khẽ lẩm bẩm. Sau đám tang, tôi trở về căn hộ của mình cùng vợ chồng bác. Khi chúng tôi đang lắp ráp bàn thờ đơn giản nhận được từ nhà tang lễ, thì chuông cửa reo. Là vị điều tra viên cằm nhọn của Sở Cảnh sát Shakujii. “Chúng tôi đã tìm thấy chiếc Lite Ace màu trắng gây tai nạn,” ông nói khi vẫn còn đang đứng ở cửa. “Chiếc xe bị bỏ lại trong một bãi đậu xe của trung

tâm mua sắm cách hiện trường khoảng một ki-lô-mét về phía Đông. Có vết xước ở gần đèn pha bên trái, trùng khớp với những gì quan sát được tại hiện trường.” Nghe thấy vậy, vợ chồng bác từ trong nhà chạy ra. “Vậy, hung thủ là ai?” “Đó chính là vấn đề,” mặt vị cảnh sát trở nên u ám. “Chiếc xe được thông báo là bị đánh cắp.” “Xe ăn cắp…” Tôi thốt lên, một cảm giác khó hiểu tràn ngập trong lòng tôi. “Báo cáo về vụ trộm đã được gửi vào sáng hôm qua. Chủ sở hữu là một thợ sơn xe ở Ogikubo. Cô có biết người này không?” Ông nói rồi chìa ra một mảnh giấy. Đó là bản sao bằng lái xe, nhưng tôi không nhận ra người trong ảnh. “Tôi không biết người này,” tôi trả lời. Hai bác cũng trả lời tương tự. “Vậy à,” vị điều tra viên cất tờ giấy vào túi với vẻ mặt lãnh đạm. “Có điều,” bác vừa gãi má vừa nói, “nếu đó là một chiếc xe bị đánh cắp, thì có nghĩa là người lái nó không phải là chủ xe đúng không?” “Ít nhất có vẻ vậy,” ông nhanh chóng trả lời. “Vào thời điểm bà Kobayashi bị đâm, người này đang tham dự một buổi họp mặt với các đồng nghiệp. Anh ta nói rằng vì định uống rượu nên đã không lái xe.” Có vẻ người đó có chứng cứ ngoại phạm. “Không nhất thiết phải là anh ta nhưng biết đâu lại là người quen của anh ta hoặc nhân viên nào đó của anh ta,” bác nói ra suy luận của mình. “Đúng như anh nói,” vị điều tra viên gật đầu đồng ý với ý kiến của bác. “Thực tế cũng có những trường hợp như thế. Để che đậy việc tông xe rồi bỏ chạy, người ta sẽ di chuyển xe đi nơi khác và trình báo mất cắp. Đáng ngờ hơn là báo cáo mất cắp lại được gửi lên sau vụ tai nạn. Tuy nhiên, chỗ họ không có người làm. Hơn nữa, người duy nhất trong nhà biết lái xe là con trai cả, năm nay hai mươi lăm tuổi.” Đôi mắt bác tôi mở to như thể muốn nói là hắn ta. “Hiện tại chúng tôi đang tiến hành điều tra tự nguyện đối với người con trai cả này. Anh ta cho biết vào thời điểm xảy ra tai nạn, anh ta đang ở nhà xem tivi, nhưng nhân chứng duy nhất chỉ có người mẹ.” “Lời khai của người nhà thì sao có thể coi là bằng chứng được,” bác vừa

nói vừa thở dài. “Trông anh ta có giống một người lái xe ẩu tả không?” Tôi hỏi. “Thoạt nhìn người con trai cả này cũng có vẻ là một thanh niên nghiêm túc và tốt bụng,” vị điều tra viên nói. “Tuy nhiên, với nhiều năm kinh nghiệm làm việc của mình, tôi hiểu ấn tượng đầu tiên không phải lúc nào cũng chính xác.” “Ừ, tôi cũng nghĩ vậy,” bác cũng đồng tình. “Sao người chủ xe lại nói xe bị đánh cắp?” Tôi thử thay đổi câu hỏi. “Ông ta đậu xe ở con đường phía sau nhà, nhưng nó đã biến mất lúc nào không hay. Ông ta nói chắc chắn chiếc xe đã ở đó cho đến sáng hôm xảy ra vụ tai nạn. Vì là xe chở hàng nên thường xuyên cắm sẵn chìa khóa ở xe.” “Thường xuyên ư?” Bác tôi nói với giọng điệu ngờ vực. “Có điều,” điều tra viên nói tiếp, “cảnh sát còn phát hiện mùi dầu dưỡng tóc thoang thoảng trên ghế ô tô, nhưng tôi chắc chắn người ở tiệm sơn không ai xài thứ đó. Người ba bị hói, còn đứa con trai cắt đầu đinh năm phân.” “Dầu dưỡng tóc, ý ông là bọt tạo kiểu tóc ư?” Tôi hỏi. “Không, đó là dung dịch dưỡng da đầu hoặc dưỡng tóc có hương cam quýt khá nồng.” “Hương cam quýt à…” Sau đó, ông hỏi từ hôm qua tới giờ có chuyện gì kỳ lạ xảy ra hay không. Tôi trả lời có lẽ là có, nhưng do bận cả đêm lo tang lễ nên không để ý. Tỏ ra cảm thông, vị điều tra viên gật đầu liên tục. “Ông đã điều tra người đàn ông đó chưa? Vị giáo sư đại học đã tới gặp mẹ tôi trước ngày xảy ra tai nạn đó,” tôi vội vàng hỏi khi thấy ông chuẩn bị rời đi. “À, người đó hả? Tôi đã tìm hiểu rồi. Nhưng không thấy có vấn đề gì cả. Người đó là Fujimura từ Đại học Y Hokuto, nghe nói ông ấy đã đến Tokyo công tác từ thứ Sáu tuần trước. Vào ngày cuối cùng, ông ấy có ghé qua thăm bà Kobayashi Shiho, sau đó trở về Asahikawa trên chuyến bay sớm nhất vào sáng hôm sau để kịp lên lớp vào buổi chiều. “Khi tôi kể về vụ tai nạn của bà Kobayashi, ông ấy đã rất đau buồn. Họ mới gặp lại nhau sau hai mươi năm, nên ông ấy không bao giờ mong đợi điều gì đó như thế xảy ra. Ông ấy đau khổ vì cảm thấy mình như người mang lại

xui xẻo. À, phải rồi. Ông ấy nhờ tôi chuyển lời hỏi thăm tới cô đấy,” vị điều tra viên tiếp tục. Tôi không biết nên biểu hiện thế nào khi nghe vậy, nên chỉ đáp lại một cách mơ hồ: “Vâng.” Tuần tang đầu tiên đã qua, tạm thời các vấn đề liên quan tới pháp lý cũng đã được giải quyết, nhưng vẫn còn rất nhiều rắc rối cần xử lý, chẳng hạn như thủ tục bảo hiểm liên quan đến bảo hiểm nhân thọ mà mẹ đã mua cho tôi. Chủ xe Lite Ace vẫn khẳng định chiếc xe của ông ta đã bị đánh cắp và cơ quan công tố cũng không tìm được bằng chứng nào giúp bác bỏ điều này. Và có vẻ chứng cứ ngoại phạm cũng đang đứng về phía người con trai thuộc diện tình nghi. Có vẻ các điều tra viên của Sở Cảnh sát Shakujii vẫn chưa tìm được thêm manh mối gì. Lúc này, tôi bắt đầu hoài nghi liệu họ có đang thật sự nghiêm túc tiếp tục điều tra hay không. Có vẻ phía cảnh sát đã chấp nhận với kết quả điều tra sơ bộ là gây tai nạn rồi bỏ trốn, nhưng tôi không có cùng quan điểm với họ. Đúng như dự đoán của mẹ, sau khi tôi xuất hiện trên tivi, một điều tồi tệ thật sự đã xảy ra, và tôi không muốn loại bỏ suy nghĩ này. Ai đó đã cố ý làm vậy. Tóm lại, tôi tin mẹ đã bị người khác cố ý sát hại. Vừa suy nghĩ điều này, tôi vừa bắt tay vào dọn dẹp đồ đạc của mẹ. Trước hết tôi đặt quần áo và đồ dùng cá nhân của mẹ vào các thùng giấy. Tôi làm vậy vì hai mục đích. Vì tôi không định chuyển nhà nên thứ nhất là tôi muốn thay đổi không gian để phù hợp với cuộc sống một mình, và thứ hai là tôi muốn chìm đắm trong những kỷ niệm về mẹ bằng cách chạm vào những món đồ mẹ từng sử dụng. Điều khiến tôi đau đầu chính là các loại sách. Trong phòng của mẹ có hai kệ sách to với rất nhiều sách được xếp ngay ngắn trên đó. Mẹ làm y tá nên có nhiều sách liên quan tới công việc này là điều đương nhiên, nhưng việc mẹ cũng đọc khá nhiều sách văn học khiến tôi – một sinh viên khoa Văn học Nhật Bản – cảm thấy ghen tị đôi chút. Tôi đang cân nhắc các lựa chọn, bỏ hết sách đi cũng không được, mà để lại cũng không xong, và điều đó thực sự khiến tôi bối rối. Nếu chúng còn mới,

tôi có thể mang qua tiệm sách cũ hoặc thư viện, nhưng hầu hết đều được sử dụng triệt để, cho thấy mẹ chăm đọc vô cùng. Đang lạc trôi với các suy nghĩ trước giá sách thì chuông cửa reo. Tôi ra mở cửa, người đến là Yutaka, một thành viên trong ban nhạc, trên tay cậu ấy có cầm một túi đồ của cửa hàng tiện lợi. “Mình tự hỏi không biết cậu thế nào rồi?” Yutaka vừa vuốt tóc mái vừa nói. “Mình vẫn sống,” tôi đùa đáp lại và mời cậu ấy vào nhà. Yutaka vừa cởi giày vừa nói xin phép. Đây chính là điểm dễ thương ở cậu ấy. “Cậu đang dọn dẹp hả?” Cậu ấy nhìn quanh căn phòng bừa bộn như thể vừa có một cơn bão quét ngang qua và hỏi. “Đúng vậy. Nếu không làm sớm thì không biết tới bao giờ mình mới làm được. Để mình pha trà nha?” “Ừm, mình có mua bánh Eclair tới,” Yutaka nói, tay giơ chiếc túi ở cửa hàng tiện lợi lên. “Chà, cảm ơn cậu. Vậy thì uống cà phê sẽ hợp hơn nhỉ?” Cà phê ở đây thực chất là loại cà phê hòa tan, bởi mẹ nói rằng buổi sáng bận rộn nên không thể chuẩn bị những thức rườm rà. “Kanta lo lắng về ban nhạc của chúng ta,” Yutaka nói sau khi nhấp một ngụm cà phê hòa tan. “Vì cậu ấy nghĩ có lẽ Futaba sẽ không có thời gian để tập luyện.” “Ừ, đúng vậy. Hiện tại có lẽ hơi khó,” tôi trầm ngâm nói. “Nhưng đừng nói là cậu sẽ rời nhóm nha,” Yutaka chú mục nhìn tôi. “Bao lâu bọn mình cũng có thể đợi được.” “Ừ không, chờ mọi thứ ổn định, rồi mình quay lại chứ,” tôi nói để trấn an cậu ấy. “Ừm, nghe được câu này, mình thật sự an tâm rồi,” Yutaka cười, sau đó cắn một miếng bánh. Sau khi nhấp thêm một ngụm cà phê, cậu ấy nhìn tôi ái ngại. “Từ giờ cậu sẽ phải sống một mình rồi. Vất vả lắm đó.” Giọng cậu ấy thay đổi một cách kỳ lạ. “Biết sao được. Mình cũng chuẩn bị tinh thần rồi.” “Ừm, cậu là người mạnh mẽ, chắc chắn sẽ ổn thôi, Futaba,” Yutaka nói nhẹ nhàng, nhưng khuôn mặt vẫn có phần kiên định. Khi tôi đang nghĩ cậu ấy sao vậy, thì Yutaka nói tiếp: “Nghe này, cậu có thể nói với mình bất cứ chuyện gì, hiểu không? Mình muốn giúp đỡ cậu và sẽ rất vui nếu nhận được

lời nhờ vả từ cậu. Mình nói thiệt đó.” Tôi đã rất ngạc nhiên trước sự đường đột này, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt đang đỏ bừng của cậu ấy, tôi chợt hiểu ra. À, ra là vậy, hôm nay cậu ấy tới đây là để bày tỏ điều này. “Futaba, mình, từ trước tới giờ vẫn luôn…” Có vẻ cậu ấy muốn nói một lời quyết định. “Thôi nào… Nói thật với cậu là bây giờ mình cảm thấy rất mông lung. Mình thấy kiệt sức và lo lắng cho tương lai lắm. Nếu cậu tự tin, vậy thì hãy đợi mình mạnh mẽ trở lại nhé.” Cậu ấy cúi đầu như vừa bị mắng, rồi sau đó ngẩng mặt lên cười với vẻ ngại ngùng: “Mình hiểu rồi. Quyết định vậy đi. Mình xin lỗi nha.” “Cậu không cần phải thấy có lỗi đâu,” tôi trấn an rồi cảm ơn cậu ấy. Sau đó, Yutaka hỏi cậu ấy có thể giúp gì không, nên tôi đã đẩy cậu ấy ra trước giá sách của mẹ. Chính cậu ấy cũng ngạc nhiên trước số lượng sách trên kệ. “Mình không nghĩ xung quanh mình có người trưởng thành nào đọc nhiều tới vậy đâu.” Tôi cũng gật đầu đồng tình. Yutaka nói rằng nếu là sách chuyên ngành thì có thể mang tới thư viện của trường đại học, nên hai chúng tôi bắt đầu đóng gói chúng. Chúng tôi định đóng gọn vào thùng giấy, rồi nhờ Kanta chở giúp cho nhanh. Yutaka quay lưng lại với tôi và tiếp tục làm việc trong im lặng. Nhìn từ phía sau, dáng vẻ của cậu ấy như có vẻ buồn bã. Có lẽ cậu ấy đã bị tổn thương bởi lời nói của tôi lúc nãy. Thực ra tôi đã biết tình cảm của cậu ấy từ lâu rồi, nên những lời bày tỏ tình cảm vừa rồi cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Dù có vẻ tôi đã quá phũ nhưng thật lòng tôi không áy náy. Không biết vì lý do gì mà tôi chỉ coi những người trong ban nhạc như anh em trai của mình vậy. Chà, tôi nghĩ từ giờ sẽ phải cẩn thận trong cách hành xử hơn một chút, bởi chúng tôi thực ra đều đã lớn cả rồi. “Gì đây?” Khi tôi đang mải suy nghĩ vẩn vơ thì Yutaka lên tiếng. “Đây là cái gì vậy nhỉ?” “Có gì lạ à?” “Ừ, đây,” cậu ấy quay sang và đưa cho tôi một cuốn sổ lưu niệm màu đen mà tôi chưa từng thấy trước đây. Khi mở nó ra, tôi thấy những mẩu báo và tạp chí hàng tuần được cắt dán bên trong. Tôi tưởng đó là thông tin liên quan

tới công việc của mẹ nhưng dường như không phải vậy. “Cái gì thế này?” Tôi bất giác thốt lên. “Sao mẹ mình lại cắt dán những bài báo như thế này nhỉ?” “Đúng không? Mình cũng thấy kỳ lạ đó,” Yutaka vừa nói vừa vặn cổ lần nữa. Mọi mẫu báo trong sổ đều là về Ihara Shunsaku. Ông ấy là một thành viên đầy quyền lực của Đảng Bảo thủ và từng giữ chức Thủ tướng vài năm trước. Dù hiện tại ông ấy không xuất hiện công khai nữa nhưng ai cũng biết ông ấy vẫn nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị. “Có vẻ mẹ cậu quan tâm đến chính trị nhỉ?” “Không hẳn là không quan tâm, nhưng mình không nghĩ tới mức cắt những mẩu báo như thế này. Hơn nữa, những mẫu báo này cũng lạ lắm, tất cả đều là về cuộc sống riêng tư của Ihara Shunsaku.” “Nếu vậy thì càng lạ thật,” Yutaka từ bên cạnh nhìn qua cũng gật đầu đồng ý. “Nếu đọc kỹ, cậu sẽ thấy thông tin đều là về trẻ con.” “Ừm, có vẻ là vậy.” Ở phần đầu của cuốn sổ, những mẩu báo cho biết Ihara Shunsaku có một đứa con, một bé trai, chào đời khi ông ở tuổi năm mươi ba. Ngoài ra còn có một bức ảnh Ihara Shunsaku đang bế đứa bé trong tay. Bức ảnh được chụp khi ông chưa vào nội các, khuôn mặt đầy trẻ trung nhưng nổi bật trên đó là đôi mắt sắc bén như loài chim săn mồi. Nhìn ngày tháng thì họ biết đó là mẩu báo từ mười bảy năm trước. Ngoài ra, còn có một bài viết về người vợ thứ ba của Ihara Shunsaku, người đã sinh con cho ông, khi đó cô ấy mới ba mươi tuổi. Bài báo cũng đề cập tới những khó khăn mà cô ấy đã gặp phải trong hành trình tìm con. Khi lật các trang của cuốn sổ lưu niệm, tôi cũng tìm thấy tin tức về sự phát triển của đứa trẻ, qua đó cho thấy tính cách của Ihara Shunsaku thông qua việc ông dành thời gian cho đứa con trai tên là Hitoshi của mình. “Chà, ba con họ giống nhau ghê,” Yutaka lầm bẩm. “Như tạc luôn ấy.” Và đúng như cậu ấy nói, hai ba con họ thật sự rất giống nhau. Thế nhưng điều tôi thắc mắc là tại sao mẹ lại sưu tầm những bài báo như thế này. Nếu xét từ góc độ của một y tá, thì những mẩu tin này có tính chất tham khảo ư? Tuy nhiên, tôi không nghĩ việc sưu tầm thông tin kiểu này lại có giá trị, vì

trong số những đoạn cắt ra thậm chí còn có những mẩu tin tầm phào trên tạp chí hằng tuần, chẳng hạn như biểu cảm trên khuôn mặt của Ihara Shunsaku khi đến dự lễ khai giảng của con mình. Nhưng khi mở tới nửa sau của cuốn sổ lưu niệm, tôi vô cùng ngạc nhiên trước những tiêu đề hoàn toàn khác với nội dung yên bình trước đó. Đầu tiên là bài báo đăng tin cậu con trai của Ihara Shunsaku, Hitoshi phải nhập viện. Thời điểm này, bệnh tình của đứa bé vẫn chưa được tiết lộ, sau đó là các bài báo u ám hơn với sự xuất hiện của thuật ngữ “suy giảm miễn dịch bẩm sinh”. “Mình nhớ rồi,” Yutaka khẽ vỗ tay. “Con trai của Ihara Shunsaku đã chết, có lẽ từ bảy hoặc tám năm trước. Mình nhớ là vậy.” Tôi mở tiếp cuốn sổ lưu niệm thì thấy ảnh chụp Ihara Hitoshi nằm trên giường bệnh. Theo bài báo, hồi tiểu học, hệ thống miễn dịch của Hitoshi bắt đầu có biểu hiện suy giảm, nhưng không xác định được nguyên nhân, và thời đó cũng không có phương pháp điều trị thích hợp. Cuốn sổ lưu niệm của mẹ kết thúc bằng bài viết về cái chết của Ihara Hitoshi. Ký ức của Yutaka hoàn toàn chính xác. Những hình ảnh về đám tang được cắt dán trong sổ đủ để thấy nó quá khoa trương tới mức tôi không thể nghĩ đó là đám tang của một đứa trẻ chín tuổi. Tang chủ Ihara Shunsaku trông già đi cả ba mươi tuổi so với lúc con trai được sinh ra. “Gia đình Ihara là gia đình chính trị gia nhiều thế hệ ở Sendai,” Yutaka nói. “Ông Shunsaku là đời thứ ba. Người dân địa phương tin rằng miễn là gia đình Ihara có người kế vị thì cuộc sống của họ sẽ được yên bình, chính vì vậy khi Hitoshi qua đời, có vẻ như toàn vùng Tohoku, nhất là khu vực trung tâm Sendai, đã vô cùng hoang mang.” “Vậy, cậu nghĩ tại sao mẹ mình lại thu thập những mẩu tin tức này?” “Mình cũng không rõ,” Yutaka nghiêng đầu nói. “Có thể mẹ cậu quan tâm tới căn bệnh này thì sao? Bà biết đứa trẻ nào đó mắc chứng bệnh tương tự chẳng hạn.” “Giả thiết này không ổn lắm. Bởi vì có cả những bài báo về đứa trẻ này trước khi nó bị bệnh mà.” “Ừ nhỉ?” Yutaka khoanh tay lại lẩm bẩm, nhưng rồi lập tức buông tay như bỏ cuộc. “Mình chịu thật rồi. Không thể đoán nổi.” “Còn mình cũng chưa từng nghe nói về chuyện mẹ đã ở Sendai,” tôi nhìn

chằm chằm vào bìa đen của cuốn sổ lưu niệm một lúc, sau đó chán nản và gạt nó sang một bên. “Thật lãng phí thời gian với thứ mình không biết. Lần sau, mình sẽ thử hỏi bác xem sao.” “Có thể mẹ cậu chỉ đơn giản là một người hâm mộ Ihara Shunsaku mà thôi.” “Không thể nào. Mẹ mình thích những người đẹp trai cơ.” Vì cuốn sổ Yutaka phát hiện ra mà công việc phân loại sách bị trì hoãn lại, sau đó tôi cũng không thể tập trung làm được gì. Tôi cảm thấy mình thật tệ nếu giữ Yutaka ở lại tới tối, nên quyết định dừng việc. “Mình có thể tới nữa không?” Sau khi xỏ giày ở lối vào, Yutaka quay sang hỏi, nhưng vì gương mặt của cậu ấy lúc này hệt như lúc cậu ấy bày tỏ tình cảm nên tôi hơi do dự một chút. “Được chứ. Lần sau cậu hãy rủ cả Kanta và Tomohiro nữa nhé.” Chắc hẳn cậu ấy hiểu ý nghĩa của câu nói đó. “Mình hiểu rồi,” cậu ấy trả lời với gương mặt có vẻ hơi thất vọng. Vì ngại ra ngoài mua sắm nên tôi mở một lon măng tây và làm món salad, hâm nóng lại cơm cấp đông, rồi đổ thêm một gói cà ri vào để làm bữa tối. Cả mẹ và tôi đều không ghét đồ hộp, bởi vậy chúng tôi luôn nấu nướng đơn giản nhất có thể. Dù là một y tá nhưng mẹ cũng không mấy quan tâm đến vấn đề cân bằng dinh dưỡng. Khi tôi đang mải vừa ăn vừa nghĩ đến việc tôi cũng đã ăn cơm cà ri vào đêm mẹ qua đời, thì điện thoại đổ chuông. Tôi giật mình tới mức suýt phun cơm ra khỏi miệng. “Alo, cho hỏi đây có phải nhà Kobayashi không?” Một giọng nam điềm tĩnh vang lên. Khi tôi trả lời đúng vậy, thì người đàn ông ở đầu dây bên kia dừng lại một lúc. Đó là một sự im lặng kỳ lạ. “Cháu là con gái của Kobayashi Shiho phải không?” Ông hỏi lại tôi. “Vâng. Xin lỗi nhưng cho cháu hỏi ai vậy ạ?” “À, ta xin lỗi, ta là Fujimura.” Tôi nghĩ mình đã từng nghe thấy cái tên này ở đâu rồi, sau đó tôi chợt nhớ ra, “À, vị giáo sư ở Đại học Y Hokuto…”

“Đúng vậy, đúng vậy.” Ông Fujimura nói với giọng điệu vui vẻ, sau đó quay về giọng nói trầm ngâm: “Ta đã nghe tin về chuyện của mẹ cháu từ cảnh sát. Xin chia buồn với cháu về mất mát to lớn này. Nếu biết sớm hơn, ta đã có thể đến dự đám tang rồi.” “Đám tang diễn ra riêng tư và đơn giản thôi ạ,” tôi đáp lịch sự. “Ta nghĩ chắc cảnh sát cũng đã nói với cháu, nhưng ta có đến nhà cháu ngay trước hôm xảy ra tai nạn nhân dịp đi công tác. Kobayashi Shiho từng học ở Đại học Y Hokuto, hồi đó ta với mẹ cháu rất thân thiết.” “Vâng, cháu cũng có nghe nói ạ.” “Đã hai mươi năm rồi mới có dịp gặp lại, nhưng Shiho không thay đổi nhiều, thực sự khiến ta cảm thấy rất hoài niệm đó. Ta cũng định từ giờ mỗi khi tới Tokyo sẽ thường xuyên ghé thăm cô ấy. Chính vì vậy mà khi nghe tin về vụ tai nạn, ta sốc quá. Ta cứ nghĩ mình là một điểm rủi.” “Không, bác đừng nghĩ vậy,” tôi trả lời, nhưng trong thâm tâm lại cảm thấy nghi ngờ về người này. Bởi mẹ đã trở nên rất kỳ lạ sau khi ông Fujimura đến thăm. “Cháu ổn chứ? Nếu cần hỗ trợ, bác rất sẵn lòng.” “Dạ không ạ, cháu xin nhận tấm chân tình này.” “Ta đã rất vui khi gặp lại mẹ cháu, nhưng không ngờ lại xảy ra chuyện như thế này. Ta thậm chí không biết phải nói gì nữa.” Nghe giọng điệu của ông Fujimura, tôi có thể cảm nhận được ông ấy đang rất đau khổ ở bên kia điện thoại. Tôi đang nghĩ đến việc hỏi về quá khứ của mẹ, vì tôi dám chắc ông sẽ biết nhiều điều, nhưng lại không biết phải bắt đầu như thế nào. Sau đó, như thể hiểu được cảm xúc của tôi, ông Fujimura lên tiếng. “Nhân tiện, cháu có biết gì về chuyện

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 10

Đang tải bình luận...