Thị Trấn Nhỏ Giấc Mơ Lớn

3

3

3

Hơn chục năm qua những người hàng xóm đã quen với tiếng ồn vọng ra từ khu vườn của gia đình Erdahl:

bùm-bùm-bùm-bùm-bùm.

Một khoảng lặng ngắn trong lúc Kevin đi nhặt những trái bóng dẹt. Rồi lại

bùm-bùm-bùm-bùm-bùm.

Thằng bé được hai tuổi lúc xỏ chân vào đôi giày trượt lần đầu tiên, và ba tuổi thì nhận chiếc gậy đầu tiên. Khi lên bốn Kevin đã giỏi hơn những đứa năm tuổi, và lên năm thì giỏi hơn những thằng nhóc bảy tuổi. Trong mùa đông tiếp sau sinh nhật bảy tuổi, Kevin có lần bị cước nặng đến nỗi bây giờ nếu đứng đủ gần bạn vẫn có thể nhìn thấy những dấu vết màu trắng trên gò má của thằng bé. Kevin đã chơi trận đầu tiên vào buổi chiều hôm đó, và trong hiệp cuối nó đã bỏ lỡ một pha ghi bàn vào lưới trống. Đội nhi đồng Beartown giành chiến thắng 12-0 và Kevin là người ghi tất cả các bàn thắng, nhưng thằng bé vẫn không tài nào vui nổi. Tối hôm đó bố mẹ Kevin phát hiện ra con trai mình không nằm trên giường, và một nửa thị trấn nháo nhào bổ đi tìm thằng bé trong rừng giữa đêm hôm khuya khoắt. Trốn tìm không phải là một trò chơi được ưa thích tại Beartown - một đứa trẻ chưa cần đi quá xa cũng đủ để bị bóng tối nuốt chửng, và một cơ thể nhỏ nhắn không mất quá nhiều thời gian để bị lạnh cóng đến chết ở nhiệt độ âm ba mươi độ. Phải đến gần sáng người ta mới nhận ra thằng bé không phải đang ở trong rừng mà là trên mặt hồ đóng băng. Kevin đã lôi một tấm lưới và năm trái bóng dẹt xuống đó, cùng với tất cả những cây đèn pin tìm được, và dành hàng giờ luyện tập ở đúng cái góc mà nó đã bỏ lỡ pha ghi bàn cuối trận. Nó đã khóc như mưa vì giận dữ trong lúc được đưa về nhà. Mới bảy tuổi đầu, Kevin đã cho mọi người thấy trong nó có một con gấu. Trấn áp nó là điều không thể.

Bố mẹ Kevin đã bỏ tiền xây một sân băng nhỏ cho con trai mình ngay trong vườn nhà. Sáng nào thằng bé cũng tự tay dọn tuyết, và mỗi mùa hè những người hàng xóm lại đào được cả tá bóng dẹt trong những luống đất trồng hoa nhà mình. Những mảnh cao su lưu hóa có lẽ sẽ còn được tìm thấy trong đất đai quanh đó sau nhiều thế hệ nữa.

Qua từng năm, họ nghe thấy cơ thể thằng bé lớn lên qua những cú đánh bóng - chúng trở nên càng lúc càng mạnh hơn, càng lúc càng nhanh hơn. Giờ đây Kevin đã mười bảy tuổi, và thị trấn chưa từng thấy một cầu thủ nào tài năng bằng nó kể từ hồi đội bóng còn đấu ở giải hạng nhất, trước khi nó chào đời. Kevin được cả hình thể, đôi tay, cái đầu lẫn trái tim. Nhưng trên hết, nó có thị giác tốt: những gì nó nhìn thấy trên băng dường như diễn ra chậm hơn so với trong con mắt của người khác. Người ta có thể dạy nhiều điều về khúc côn cầu trên băng, nhưng cái đó thì không thể. Bạn hoặc là được sinh ra với nó, hoặc không.

“Kevin hả? Cậu ta đáng gờm thực sự đấy,” giám đốc kỹ thuật Peter Andersson của câu lạc bộ luôn nói như vậy, và không ai biết rõ hơn anh: người cuối cùng tại Beartown chơi giỏi như thế chính là anh. Peter đã được sang tận Canada và NHL để thi đấu với những đối thủ giỏi nhất thế giới.

Kevin biết cần phải làm gì để đạt được điều đó. Tất cả mọi người đều nhắc đi nhắc lại với thằng bé kể từ lần đầu tiên nó xỏ chân vào đôi giày trượt: chơi hết mình. Vậy nên sáng sáng, trong lúc các bạn cùng lớp còn đang ngủ ngon với chăn ấm nệm êm, Kevin đã chạy bộ trong rừng, sau đó về nhà tập đánh bóng.

Bùm-bùm-bùm-bùm-bùm.

Nhặt bóng.

Bùm-bùm-bùm-bùm-bùm.

Nhặt bóng. Nó luyện tập với đội trẻ mọi buổi chiều và đội A mọi buổi tối, sau đó đến phòng gym, rồi lại thêm một cuốc chạy nữa trong rừng, và cuối cùng là một tiếng đồng hồ tại sân băng trong vườn, dưới ánh sáng của những ngọn đèn rọi gắn trên mái nhà.

Bùm-bùm-bùm-bùm-bùm.

Môn thể thao này chỉ đòi hỏi một điều duy nhất ở bạn. Chơi hết mình.

Kevin nhận được nhiều lời mời chuyển đến những đội bóng lớn hoặc theo học trường khúc côn cầu ở một thị trấn lớn hơn, nhưng nó từ chối hết lần này đến lần khác. Nó là một người Beartown, bố nó cũng là người Beartown, điều đó chắc chẳng có nghĩa lý gì ở những nơi khác, nhưng tại đây thì có.

Vậy trận bán kết của một giải trẻ có thể quan trọng đến cỡ nào? Chẳng mấy quan trọng, nếu không phải vì cái danh xưng đội trẻ giỏi nhất sẽ nhắc nhở toàn bộ phần còn lại của đất nước về sự tồn tại của nơi này. Và vì các cấp lãnh đạo sẽ có thể rót vốn thành lập một trường dạy khúc côn cầu tại đây thay vì ở tận Hed, để những đứa trẻ có năng khiếu nhất vùng sẽ chuyển đến Beartown thay vì những thành phố lớn. Như thế một đội A toàn cầu thủ địa phương sẽ có thể thăng hạng nhất trở lại, thu hút những nhà tài trợ lớn nhất, buộc hội đồng phải xây một sân băng mới cùng những con đường lớn hơn dẫn tới nó, cộng thêm cả cái trung tâm hội nghị kiêm trung tâm thương mại mà họ đã nhắc đến từ nhiều năm nay. Như thế những doanh nghiệp mới sẽ xuất hiện, tạo ra thêm nhiều việc làm, và cư dân thị trấn sẽ bắt đầu nghĩ tới việc cải tạo nhà cửa thay vì bán đi. Nó sẽ chỉ quan trọng với nền kinh tế của thị trấn. Với niềm kiêu hãnh của nó. Sự tồn vong của nó.

Nó sẽ chỉ quan trọng đến nỗi một thằng bé mười bảy tuổi trong vườn nhà vẫn ở đây suốt từ lúc bị cước trên trán sau cái đêm định mệnh mười năm về trước, đánh bóng hết lần này tới lần khác, với sức nặng của cả một cộng đồng trên đôi vai mình.

Nó có ý nghĩa hơn tất cả mọi thứ. Thế đấy.

Ở đầu kia của Beartown so với khu Thượng, phía bắc cổng chào, là khu Hạ. Giữa chúng, khu trung tâm Beartown bao gồm một dãy nhà và biệt thự nhỏ dành cho giới trung lưu đang trên đà sa sút, nhưng tại khu Hạ thì chẳng có gì ngoài những khối căn hộ cho thuê được xây dựng cách xa khu Thượng nhiều nhất có thể. Lúc đầu, tên của các khu vục này chỉ là một sự mô tả địa lý thiếu sáng tạo: khu Hạ nằm ở vị trí thấp hơn so với phần còn lại của thị trấn, nơi đây các sườn dốc thoải dần về phía một bãi đá cuội ít người lui tới, còn khu Thượng nằm trên sườn đồi trông ra hồ. Tuy nhiên, sau khi tình trạng tài chính của các cư dân cũng chuyển dịch theo cùng xu hướng, những cái tên nêu lên sự khác biệt rõ rệt về cả tầng lớp lẫn đơn vị hành chính. Ngay cả bọn trẻ con cũng có thể nhận thấy càng sống xa khu Hạ bao nhiêu, mọi chuyện sẽ càng tốt đẹp hơn bấy nhiêu.

Fatima sống trong một căn hộ hai phòng ở gần trung tâm khu Hạ. Chị lôi thằng con trai ra khỏi giường với một sự dịu dàng cương quyết, nó vớ lấy đôi giày trượt băng, và không lâu sau đó hai mẹ con đã ngồi trên xe buýt, im lặng. Amat có một hệ thống vận động hoàn hảo cho phép nó di chuyển cơ thể mà đầu óc không cần phải hoàn toàn tỉnh táo. Fatima gọi vui thằng bé là “Xác ướp”. Họ tới sân băng sớm nhất. Người mẹ thay bộ đồng phục lao công, còn đứa con thì cố giúp mẹ nhặt rác trên các khán đài cho đến khi bị ăn mắng và đuổi đi. Amat lo cho cái lưng của mẹ, còn Fatima lại lo những đứa trẻ khác sẽ trông thấy thằng bé đi với mình và trêu chọc nó. Từ hồi Amat biết nhớ, nó đã chỉ có mình mẹ trong đời. Hồi bé nó từng đi nhặt vỏ lon bia rỗng trên các khán đài để kiếm tiền cuối tháng. Bây giờ lâu lâu nó vẫn làm thế.

Sáng nào Amat cũng phụ ông quản sân đi mở cửa nẻo, kiểm tra đèn đóm, phân loại các trái bóng và lái chiếc xe là phẳng mặt băng, chuẩn bị sẵn sàng cho các hoạt động trong ngày. Các vận động viên trượt băng nghệ thuật là những người đầu tiên xuất hiện, vào khung giờ ít ai tập nhất. Sau đó là tất cả các đội khúc côn cầu, lần lượt theo thứ tự xếp hạng. Khung giờ tốt nhất được dành cho đội trẻ và đội A. Hiện thời đội trẻ chơi tốt đến nỗi được ưu tiên gần như hàng đầu.

Amat chưa được vào đội trẻ do mới mười lăm tuổi, nhưng mùa tới thì có thể được. Nếu nó làm tất cả những gì điều đó đòi hỏi. Một ngày kia nó sẽ đưa mẹ đi khỏi nơi này, chắc chắn rồi. Một ngày kia nó sẽ ngừng tính toán chi tiêu liên tục trong đầu như bây giờ. Có một khác biệt rõ nét giữa những đứa trẻ sống trong các gia đình rủng rỉnh tiền bạc và những đứa còn lại. Độ tuổi mà chúng nhận ra điều đó cũng khác.

Amat biết các lựa chọn của mình chỉ có giới hạn, do vậy kế hoạch nó vạch ra rất đơn giản: từ vị trí hiện tại lên đội trẻ, rồi đội A, rồi chuyển lên chuyên nghiệp. Khi nhận được tháng lương đầu tiên trong tài khoản, nó sẽ tống chiếc xe lau dọn đi khuất mắt mẹ. Nó sẽ để cho những ngón tay và cái lưng đau đớn của mẹ được nghỉ ngơi. Nó chẳng đòi hỏi gì nhiều. Nó chỉ muốn được nằm thảnh thơi trên giường vào buổi tối mà không cần tính toán trong đầu.

Ông quản sân vỗ vai Amat khi thằng bé đã làm xong mọi việc và đưa đôi giày trượt cho nó. Amat xỏ chân vào giày, cầm chiếc gậy rồi bước lên sân băng trống trải. Thỏa thuận là thế: ông già được giúp đỡ với những việc nặng cũng như các cánh cửa hai chiều ương ngạnh khiến đôi tay bị viêm khớp của ông phải đầu hàng, và miễn là Amat là lại mặt băng sau khi luyện tập, nó có thể trượt băng một mình cả tiếng đồng hồ trước khi các vận động viên trượt băng nghệ thuật kéo đến. Đó là sáu mươi phút đẹp nhất trong ngày của Amat, luôn là vậy.

Amat đeo tai nghe lên, bật âm lượng to hết cỡ, rồi tăng tốc. Lao qua mặt băng, đâm sầm vào những tấm bảng biên ở đầu kia sân băng, mạnh đến nỗi mũ bảo hộ bị đập vào lớp kính cường lực. Thằng bé lại lao hết tốc lực theo chiều ngược lại. Cứ thế hết lần này đến lần khác.

Fatima ngước mắt lên khỏi xe lau dọn, tự cho phép mình quan sát thằng con trai trong giây lát. Ông quản sân bắt gặp ánh mắt của chị, và Fatima mấp máy môi nói lời cảm ơn. Ông khẽ gật đầu, che giấu một nụ cười. Fatima còn nhớ mình đã cảm thấy gì khi các huấn luyện viên của câu lạc bộ nói với chị rằng Amat có một năng khiếu đặc biệt. Chị chỉ hiểu được chút ít ngoại ngữ vào thời điểm đó, và việc Amat có thể trượt băng khi mới chập chững biết đi là một bí mật thần thánh đối với mẹ nó. Sau nhiều năm tháng sống tại Beartown, chị vẫn chưa quen với cái lạnh, nhưng đã học được cách yêu thị trấn này như bản chất vốn có. Và sẽ không bao giờ tìm được vấn đề nào hóc búa hơn chuyện thằng con trai mình chào đời ở nơi chưa từng thấy tuyết lại dường như sinh ra để chơi một môn thể thao trên băng.

Tại một trong những ngôi nhà nhỏ nằm ở khu trung tâm của thị trấn, Peter Andersson bước ra khỏi vòi sen với đôi mắt đỏ quạch, hơi thở đứt quãng. Anh gần như không ngủ và dòng nước cũng không thể cuốn trôi được sự căng thẳng của anh. Peter bị ói hai lần. Anh nghe thấy Mira bước ngang qua cửa phòng tắm trên đường đi đánh thức bọn trẻ con, và biết đích xác chị sắp nói gì: “Trời đất quỷ thần ơi, Peter, anh ngoài bốn chục rồi đó. Khi một giám đốc kỹ thuật căng thẳng hơn cả cầu thủ trước một trận đấu giải trẻ, có lẽ đã đến lúc dùng một viên an thần, uống chút gì đó và bình tĩnh lại đôi chút!” Gia đình Andersson đã sống ở đây hơn mười năm kể từ khi từ Canada quay về, nhưng Peter vẫn chưa thể làm cho vợ mình hiểu được ý nghĩa của khúc côn cầu đối với Beartown. “Thật á? Anh không nghĩ tất cả những gã đàn ông trưởng thành ở đây đang hơi phấn khích quá hay sao?” Mira đã luôn hỏi như thế trong suốt mùa giải. “Bọn trẻ chỉ mới có mười bảy tuổi, chúng vẫn còn là một đám nhóc con!”

Hồi đầu thì anh im. Nhưng đêm nọ anh đã nói cho chị nghe sự thật: “Anh biết đây chỉ là một trận đấu. Anh biết chứ. Nhưng chúng ta là một thị trấn nằm sâu trong rừng. Chúng ta không có du lịch, không có mỏ, không có ngành công nghệ cao. Chúng ta chỉ có bóng tối, cái lạnh và nạn thất nghiệp. Nếu chúng ta có thể làm cho nơi này phấn khích trở lại, dù là về bất cứ điều gì, thì đó sẽ là một chuyện tốt. Anh biết em không phải dân vùng này, cưng à, đây không phải là thị trấn của em, nhưng nhìn xung quanh em mà xem: việc làm đang mất đi, hội đồng thì cắt giảm ngân sách. Những người sống ở đây rất kiên cường, bọn anh có con gấu bên trong, nhưng bọn anh đã nhận hết cú đánh này đến cú đánh khác suốt bấy lâu nay. Thị trấn này cần thắng một cái gì đó. Bọn anh cần cảm thấy, dù chỉ một lần, rằng bọn anh là số một. Nó không chỉ là... một trận đấu. Không phải luôn luôn như vậy.”

Mira đã hôn lên trán chồng khi nghe Peter nói vậy và ôm anh thật chặt, nói khẽ: “Anh ngốc lắm.” Sự thật đó, dĩ nhiên là anh biết.

Peter rời khỏi phòng tắm và gõ cửa phòng cô con gái mười lăm tuổi cho đến khi nghe thấy tiếng guitar đáp lại. Con bé yêu cây guitar của mình chứ không thích thể thao. Có những ngày chuyện đó làm Peter cảm thấy buồn, nhưng cũng có nhiều ngày khác anh thấy mừng thay cho con bé.

Maya vẫn đang nằm trên giường, con bé gảy đàn to hơn khi tiếng gõ cửa vang lên và nó nghe thấy bố mẹ mình ở bên ngoài. Một người mẹ với hai bằng đại học có thể đọc làu làu cả bộ luật hình sự, nhưng lại không phân biệt được luật đóng băng và việt vị. Một người bố thì có thể giải thích cặn kẽ mọi chiến thuật khúc côn cầu, nhưng không thể xem một bộ phim truyền hình có nhiều hơn ba nhân vật mà không thốt lên mỗi năm phút một lần: “Chuyện gì đang diễn ra vậy? Ai đây? Con bảo im đi là sao? Bố bỏ lỡ mất họ nói câu gì rồi... chúng ta tua lại được không?”

Maya bật cười rồi thở dài khi nghĩ đến đó. Lúc bạn mười lăm tuổi, mong muốn bỏ nhà ra đi chưa bao giờ cao hơn thế. Cũng giống như mẹ nó luôn nói sau ba, bốn ly rượu vang, khi cái lạnh và bóng tối rút cạn sự kiên nhẫn của mình: “Người ta không thể sống ở cái thị trấn này, Maya, họ chỉ tồn tại thôi.”

Không ai trong số họ nhận ra câu nói đó chính xác tới mức nào.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 10

Đang tải bình luận...