Thị Trấn Nhỏ Giấc Mơ Lớn

5

5

5

Vì sao người ta quan tâm tới khúc côn cầu?

Có lẽ chuyện đó phụ thuộc vào con người. Và nơi chốn.

Không ai thực sự biết Sune bao nhiêu tuổi. Ông là kiểu người dường như đã ở tuổi bảy mươi ít nhất đã hai chục năm rồi, ngay cả ông cũng không nhớ được chính xác mình đã làm huấn luyện viên của đội A trong bao nhiêu năm. Tuổi tác làm ông bị lùn đi, stress và chế độ ăn khiến người ông phình ra. Giờ đây ông có tỉ lệ cơ thể của một ông già Noel. Hôm nay Sune đi làm sớm hơn thường lệ, nhưng ông lánh mặt ở bìa rừng ngay phía bên ngoài sân băng khi nhóm đàn ông kia bước ra khỏi cửa. Ông đợi cho đến khi tất cả bọn họ đã lên xe và lái đi. Không phải bởi ông xấu hổ, mà vì ông không muốn họ khó xử trước mặt mình. Ông biết hầu hết bọn họ từ khi họ mới chào đời, thậm chí còn huấn luyện nhiều người trong số đó. Việc họ muốn sa thải ông và đưa huấn luyện viên của đội trẻ lên thay thế là bí mật được giữ kém nhất thị trấn. Ông không cần người ta bảo mình đừng biến chuyện đó thành một mâu thuẫn công khai, ông sẽ không bao giờ làm thế với câu lạc bộ, và ông biết giờ đây nó không còn là chuyện khúc côn cầu đơn thuần.

Beartown nằm ở một góc nghèo của khu rừng lớn, nhưng vẫn có một số người giàu sống ở đây. Họ đã cứu câu lạc bộ khỏi phá sản, nên giờ đây họ muốn được trả ơn: các cầu thủ trẻ sẽ đưa nó quay lại đẳng cấp ưu tú. Ngày mai các em sẽ thắng trận bán kết, và tuần sau là trận chung kết. Khi hội đồng địa phương quyết định vị trí đặt trường trung học năng khiếu khúc côn cầu, họ sẽ không thể bỏ qua thị trấn có đội trẻ vô địch toàn quốc. Đội bóng sẽ trở thành trái tim của kế hoạch phát triển thị trấn, cùng với ngôi trường trung học sẽ là một sân băng mới, tiếp đó là một trung tâm hội nghị và thương mại. Khúc côn cầu đang trở thành hơn cả một môn thể thao, nó sẽ là một ngành du lịch, một thương hiệu, một thủ phủ. Sự sống còn.

Thế nên câu lạc bộ không chỉ là một câu lạc bộ. Nó là một vương quốc mà những người đàn ông trong rừng đang tranh giành quyền cai trị, và không có chỗ cho Sune ở đó. Ông đưa mắt nhìn sân băng. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho nó. Ông là người không vợ con, thú vui chẳng có, ngay cả một con chó cũng không. Ít lâu nữa ông sẽ thất nghiệp, ông không biết mình sẽ sống bằng cái gì sau đó. Hoặc là vì cái gì. Dẫu vậy, ông không thể trách cứ bất kỳ ai - kể cả tay chủ tịch câu lạc bộ và huấn luyện viên của đội trẻ, Peter lại càng không. Peter tội nghiệp chắc còn chưa biết về chuyện này, nhưng họ sẽ buộc anh ra quyết định sa thải, khiến anh phải vung rìu và giải thích về hành động của mình sau đó trên báo chí địa phương. Để bảo đảm câu lạc bộ vẫn là một khối đoàn kết, những bức tường vẫn dày dặn.

Sớm muộn rồi bất kỳ đội bóng nào cũng phải quyết định điều mà nó thực sự muốn đạt được, và Beartown không còn bằng lòng với việc chỉ chơi thể thao. Họ sẽ thay thế Sune bằng huấn luyện viên của đội trẻ, vì một lý do đơn giản: khi Sune trò chuyện với cầu thủ của mình trước các trận đấu, ông nói nhiều về việc chơi bóng với trái tim. Còn lúc huấn luyện viên đội trẻ đứng trong phòng thay đồ, anh chàng chỉ nói một chữ duy nhất: “Thắng”. Và các cậu bé giành chiến thắng. Mười năm qua họ chỉ làm điều đó.

Nhưng Sune không còn tin rằng đó là thứ duy nhất một đội bóng cần: những cậu bé không bao giờ thua.

Chiếc xe hơi nhỏ lăn bánh trên những con đường mới được dọn tuyết. Maya tựa đầu vào cửa kính xe theo cách mà chỉ một cô bé mười lăm tuổi có thể làm. Xa hơn về phía nam, mùa xuân đã đến, nhưng Beartown dường như chỉ có hai mùa, và mùa đông là một khía cạnh cuộc sống hiển nhiên đến nỗi mùa hè khiến ai nấy đều bất ngờ. Mọi người còn chưa kịp làm quen với ánh nắng rực rỡ trong khoảng hai, ba tháng gì đó thì nó lại bị tước mất, và trong phần còn lại của năm, đôi khi họ cảm thấy như đang sống dưới hầm.

Ana véo mạnh vào vành tai của Maya.

– Cái quái gì th...? - Con bé thốt lên, đưa tay xoa toàn bộ một bên mặt.

– Tớ chán quá rồi! Mình chơi gì đi! - Ana nằn nì.

Maya thở dài, nhưng không phản đối. Bởi vì nó thích cái trò sinh tố ngu ngốc, bởi vì hai đứa mới mười lăm tuổi và mẹ nó luôn bảo rằng: “Sau này con sẽ không bao giờ có lại kiểu bạn bè mà con có lúc mười lăm tuổi nữa. Ngay cả nếu như con giữ chúng nó ở lại với mình cả đời, chúng cũng sẽ không bao giờ giống như lúc mười lăm tuổi.”

– Mình chơi trò này đi: mù và giỏi đánh lộn, hay điếc và giỏi... - Ana mở đầu.

– Mù. - Maya đáp luôn.

Đây là trò chơi ưa thích của Ana. Hai đứa đã chơi trò này từ hồi còn bé. Bất chấp mọi chuyện, thật yên tâm khi vẫn còn một số thứ chưa biến mất khi chúng lớn lên.

– Cậu chưa nghe lựa chọn thay thế mà! - Ana phản đối.

– Kệ. Tớ không thể sống thiếu âm nhạc, nhưng tớ có thể sống mà không nhìn thấy cái mặt ngố của cậu hàng ngày.

– Dở hơi. - Ana thở dài.

– Không biết bơi. - Maya nhăn nhở.

– Thôi được, trò này vậy: luôn ngoáy mũi, hay hẹn hò với thằng luôn ngoáy mũi.

– Luôn ngoáy mũi.

– Câu trả lời nói lên con người.

– Câu hỏi nói lên con người.

Ana tìm cách đánh vào đùi Maya, nhưng con bé đã vùng ra, cấu trả vào tay bạn. Ana hét lên và hai đứa cùng cười với nhau. Cười với chính mình.

Những người bạn mà bạn có lúc mười lăm tuổi, bạn sẽ không bao giờ có lại nữa.

Ở hàng ghế phía trước, với một sự phớt lờ đã được tôi luyện qua nhiều năm trước những âm thanh gây ra bởi chị mình cùng người bạn thân của chị, Leo quay sang hỏi bố:

– Bố có đến xem con luyện tập hôm nay không đấy?

– Ờ... bố sẽ cố... nhưng mẹ sẽ đến! - Peter đáp.

– Mẹ luôn đến. - Leo nói.

Đó là nhận định của một cậu bé mười hai tuổi, không phải một lời buộc tội. Nhưng Peter vẫn cảm thấy như mình bị buộc tội. Anh xem giờ liên tục đến nỗi phải gõ vào đồng hồ đeo tay để chắc ăn rằng nó vẫn đang chạy.

– Chú căng thẳng về chuyện gì à? - Ana hỏi từ hàng ghế sau với giọng điệu khiến người ta chỉ muốn đập tan một cái gì đó.

– Chú có một cuộc họp. Cảm ơn vì cháu đã quan tâm.

– Với ai vậy ạ? - Ana hỏi tiếp.

– Chủ tịch câu lạc bộ. Bọn chú sẽ bàn về trận đấu ngày mai của đội trẻ...

– Trời, mọi người chưa chán với cái đội ấy à! Chú thừa biết đó chỉ là một trận đấu ngu ngốc, đúng không? Chẳng ai thực sự quan tâm đâu!

Ana chỉ đùa, nó rất yêu thích khúc côn cầu. Nhưng Maya đã lập tức rít lên:

– Đừng có nói thế với bố tớ hôm nay!

– Bố sẽ nổi điên mất! - Leo phụ họa.

– Ý con là sao? Ai điên? - Peter hỏi.

Maya chồm tới trước và nói:

– Bố không cần phải đưa bọn con đến tận cổng trường đâu. Bố có thể thả bọn con xuống đây.

– Vấn đề không phải ở đó. - Peter nhấn mạnh.

– Không phải với bố thôi. - Maya rên rỉ.

– Con nói vậy là sao? Con xấu hổ vì bố à?

Ana chen vào:

– Đúng quá còn gì!

Leo đế thêm:

– Và chị Maya không muốn bất cứ ai trông thấy bố bởi vì mọi người trong lớp sẽ vây chị ấy lại để hỏi han về khúc côn cầu.

– Chuyện đó thì có gì sai? Đây là một thị trấn khúc côn cầu mà! - Peter ngạc nhiên.

– Phải, nhưng không phải vì thế mà mọi thứ cứ phải xoay quanh môn thể thao ngu ngốc đó. - Maya bật lại, trong đầu cân nhắc việc mở cửa lao ra ngoài dù chiếc xe vẫn đang chạy. Tuyết vẫn còn khá dày nên nó nghĩ mình sẽ không bị gãy gì. Cũng đáng để liều một phen.

– Sao con lại nói thế? Sao chị con lại nói

như thế

, hả Leo? - Peter hói.

– Bố không thể ngừng xe lại được sao? Hoặc là chạy chậm lại, bố không cần phải ngừng hẳn đâu. - Maya van nài.

Ana vỗ vai Leo và nói:

– Được rồi, Leo, thử trò này nhé: Không bao giờ chơi khúc côn cầu nữa, hay không bao giờ chơi điện tử nữa?

Leo liếc nhìn bố. Thằng bé buột miệng phát ra một tiếng ho húng hắng đáng xấu hổ, bàn tay bắt đầu gỡ dây an toàn và tìm tới nắm cửa. Peter lắc đầu một cách tuyệt vọng.

– Đừng có trả lời, Leo. Con đừng có trả lời được không?

Mira ngồi trên chiếc Volvo đang đi xa dần khỏi Beartown. Chị đã nghe thấy Peter ói trong phòng tắm sáng nay. Nếu đó là điều mà khúc côn cầu gây ra với những người đàn ông trưởng thành ở cái thị trấn này, thì có trời mới biết nó tác động thế nào tới những cậu thiếu niên mười bảy tuổi thi đấu ngày mai. Có một câu nói đùa cũ rích về những người phụ nữ Beartown: “Tôi chỉ ước được chồng nhìn mình như cách anh ta xem khúc côn cầu.” Nó không bao giờ làm Mira cười nổi, bởi vì chị quá hiểu điều đó.

Chị biết những gì mà cánh đàn ông nói về mình, bởi chị khác xa hình ảnh phu nhân một giám đốc kỹ thuật mà họ mong đợi khi chọn Peter. Họ xem câu lạc bộ như một đội quân, không phải một nơi sử dụng lao động bình thường. Những người lính cần phải lên đường khi được triệu tập, gia đình sẽ tự hào tựa cửa tiễn người ra đi. Lần đầu tiền Mira gặp chủ tịch câu lạc bộ là tại một giải đánh golf được tổ chức bởi các nhà tài trợ, và trong lúc mọi người đi loanh quanh uống rượu trước bữa tối, ông ta đã đưa chị cái ly rượu cạn của mình. Có quá ít phụ nữ tồn tại trong thế giới khúc côn cầu của ông ta, đến nỗi khi trông thấy chị, ông ta đã không nhận ra và nghiễm nhiên coi chị là một cô bồi bàn.

Khi nhận ra sự nhầm lẫn của mình ông ta chỉ bật cười, như thể Mira cũng phải cảm thấy tình huống đó hài hước. Thấy chị không cười, ông chủ tịch thở dài và nói: “Cô đừng có coi mọi chuyện quá nghiêm túc như thế chứ?” Khi nghe chị hé lộ dự định tiếp tục sự nghiệp của mình song song với sự nghiệp của chồng, ông ta đã ngạc nhiên thốt lên: “Nhưng ai sẽ chăm sóc bọn trẻ?” Chị đã thực sự cố gắng để nín nhịn. Ừ thì, không hẳn là

thực sự

, nhưng ngẫm lại thì chị thấy mình đã

cố gắng,

ít ra là thế. Chị đã quay về phía ông chủ tịch câu lạc bộ và chỉ vào những ngón tay chuối mắn nhờn mỡ lúc đó đang cầm một chiếc sandwich tôm, rồi trỏ cái thân hình đẫy đà đang kéo căng hàng cúc áo sơ mi của ông ta, và đáp: “Tôi nghĩ ông có thể chăm sóc chúng được đấy. Ngực ông to hơn tôi mà.”

Ở lần tổ chức kế tiếp của giải golf, mấy chữ “được dẫn theo một người” đã bị xóa khỏi thư mời. Thế giới khúc côn cầu của những người đàn ông bành trướng thêm, thế giới của những người phụ nữ thu hẹp lại, và bằng chứng rõ rệt nhất của tình yêu mà Mira dành cho Peter là chị đã không đi tới sân băng để đấm bất kỳ ai vào ngày hôm đó. Chị đã học được rằng người ta cần phải có bộ da dày tại Beartown. Nó giúp bạn chống chọi cái lạnh và những lời sỉ nhục.

Mười năm đã trôi qua kể từ dạo ấy, và Mira đã nhận ra rằng mọi chuyện sẽ dễ chịu hơn nhiều nếu bạn có một dàn âm thanh thật xịn trong xe. Chị vặn lớn âm lượng danh sách nhạc “to hơn nữa” của Maya và Leo, không phải vì chị thích loại nhạc đó, mà chỉ vì nó giúp chị cảm thấy gần gũi với bọn trẻ con hơn. Khi con cái còn nhỏ, người ta thường cho rằng sự áy náy trong lòng mình khi rời nhà mỗi sáng chỉ là thoáng qua. Nhưng thật ra nó không bao giờ biến mất, mà chỉ tồi tệ thêm. Thế nên chị có danh sách nhạc của bọn trẻ trong điện thoại, những bài hát được lựa chọn chỉ vì chúng là loại nhạc khiến cho một trong hai đứa hét lên “TO HƠN NỮA! TO HƠN NỮA!” khi được phát trên radio. Mira vặn nhạc lớn đến nỗi cửa kính xe rung bần bật, bởi vì có những lúc sự im lặng của khu rừng làm chị phát điên. Đã gần trưa, nhưng gần như quanh năm suốt tháng bầu trời ở đây dường như đè nặng bên trên những hàng cây. Thật khó để làm quen điều đó đối với một người lớn lên tại thành phố, nơi thiên nhiên được dùng chủ yếu như hình nền máy tính hoặc điện thoại.

Dĩ nhiên tất cả mọi người ở Beartown đều ghét thành phố, và họ nuôi một sự phẫn uất thường trực đối với việc khu rừng là kho dự trữ đủ loại tài nguyên thiên nhiên, nhưng tiền lại cứ luôn chảy đi nơi khác. Đôi khi có cảm giác như thể người Beartown thích thú với khí hậu khắc nghiệt tại đây, bởi vì không phải ai cũng chịu nổi nó: điều đó nhắc nhở họ về sức mạnh và sự kiên cường của họ. Câu châm ngôn địa phương đầu tiên mà Peter dạy cho Mira chính là: “Gấu đi ị trong rừng, còn người ta thì ị vào Beartown, do vậy người dân nơi đây phải học cách tự lo cho bản thân!”

Chị đã làm quen với nhiều thứ khi sống tại Beartown, nhưng có một số thứ chị sẽ không bao giờ hiểu được. Chẳng hạn như làm thế nào một cộng đồng đầy những người câu cá lại không có nổi một nhà hàng sushi. Hoặc tại sao người ta đủ kiên cường để sống ở nơi có khí hậu khắc nghiệt đến mức ngay cả lũ thú hoang cũng gần như không tồn tại nổi lại chẳng bao giờ có đủ dũng khí để nói thật lòng suy nghĩ của mình. Tại Beartown, im lặng luôn đi kèm với sự xấu hổ. Mira vẫn còn nhớ khi chị hỏi Peter vì sao mọi người có vẻ ghét người thành phố nhiều đến thế, anh đã đáp rằng: “Dân thành phố không biết xấu hổ là gì.” Anh luôn lo lắng về những suy nghĩ của người khác. Mỗi khi họ được mời đi ăn tối, anh lại lo ngay ngáy nếu chị mua một chai vang quá đắt tiền làm quà. Chính vì thế mà anh từ chối sống trong một ngôi nhà sang chảnh ở khu Thượng, dù mức lương của Mira dư sức để họ làm điều đó. Cả gia đình tiếp tục sống trong ngôi nhà khiêm tốn ở khu trung tâm của thị trấn, chỉ vì phép lịch sự. Peter không chịu dọn đi, ngay cả khi Mira cố dụ dỗ chồng rằng một ngôi nhà rộng hơn “sẽ có nhiều không gian để anh bày cúp hơn”.

Mười năm trời, và Mira vẫn chưa học được cách chung sống với thị trấn, chị chỉ tồn tại cùng nó. Và sự im lặng vẫn khiến chị muốn mua một cái trống rồi mang đi gõ cật lực khắp phố phường. Chị lại vặn nhạc to thêm. Nhịp tay vào vô lăng. Hát nghêu ngao văng mạng theo từng bài hát đến nỗi chị suýt lao xe ra khỏi con đường khi tóc bị vướng vào gương chiếu hậu.

Việc gì chị phải quan tâm tới khúc côn cầu kia chứ? Chị đâu có yêu nó. Chị chỉ yêu cái người nặng lòng vì khúc côn cầu kia thôi. Và chị mơ một mùa hè nào đó - chỉ một thôi - chồng chị có thể nhìn thị trấn của anh mà không phải cụp mắt xuống.

Lồng ngực Sune phập phồng bên dưới đôi vai buông xuôi khi ông bắt đầu đi bộ tới lối vào của sân băng. Lần đầu tiên trong đời ông cảm nhận được tuổi tác của mình, cơ thể ông cử động một cách èo uột như thể ai đó đã trùm bộ đồ thể thao lên một cái bao đựng đầy sứa. Nhưng khi Sune mở cửa, một sự bình thản lạ lùng vẫn trùm lên người ông, y như cách nó vẫn làm mọi ngày. Đây là nơi duy nhất trên thế giới này ông thực sự thông thạo. Thế nên Sune cố gắng nhớ đến những gì nó đã cho ông, thay vì những gì bọn họ đang rắp tâm tước đoạt khỏi ông. Cả một cuộc đời phụng sự thể thao, nhiều hơn những gì người ta có thể nói. Ông đã được ban cho những khoảnh khắc tuyệt vời, và đã chứng kiến hai tài năng xuất chúng ra đời.

Những kẻ to mồm ở các thành phố lớn sẽ không bao giờ hiểu được việc nuôi dưỡng một cầu thủ thực sự xuất sắc trong một câu lạc bộ khúc côn cầu rất nhỏ là như thế nào. Chuyện đó giống như nhìn thấy một cây anh đào nở hoa giữa một khu vườn băng giá. Bạn có thể chờ đợi nhiều năm, chờ cả đời, thậm chí là vài kiếp, và nó vẫn thật kỳ diệu nếu bạn được trải nghiệm một lần. Hai lần sẽ là không thể. Ở bất kỳ đâu, ngoại trừ nơi đây.

Lần đầu tiên là Peter Andersson. Cách nay hơn bốn mươi năm. Sune lúc ấy chỉ mới vừa được chỉ định làm huấn luyện viên đội A, và bắt gặp Peter trong lớp học trượt băng. Một cậu bé gầy gò nhỏ con với đôi găng tay thừa hưởng từ người khác, một ông bố nát rượu, và những vết bầm tím mà mọi người đều thấy nhưng không ai hỏi thăm. Khúc côn cầu tìm ra cậu bé khi không ai để ý đến cậu. Và thay đổi cuộc đời cậu một cách mạnh mẽ. Cậu bé nhỏ con trưởng thành và đưa một câu lạc bộ bên bờ vực phá sản không ai dòm ngó tới vị trí số hai toàn quốc, rồi cậu đưa bản thân tới NHL, đi một lộ trình không thể tưởng tượng từ khu rừng tới thẳng các vì sao. Trước khi bị định mệnh tước đoạt tất cả.

Sune là người đã gọi điện sang Canada cho Peter sau đám tang và bảo rằng Beartown cần một giám đốc kỹ thuật. Rằng tại đây vẫn có một câu lạc bộ và một thị trấn cần được giải cứu. Mà Peter thì cần một thứ gì đó để giải cứu. Gia đình Andersson đã quay về như thế.

Lần thứ hai là khoảng mười năm về trước. Sune cùng với Peter tách ra khỏi một cuộc tìm kiếm trong rừng, bởi vì ông nhận ra họ đang đi tìm một người chơi khúc côn cầu, trong khi những người khác chỉ nghĩ rằng mình đang tìm một đứa trẻ bình thường. Hai người tìm thấy Kevin trên mặt hồ vào lúc tảng sáng với hai gò má bị cước nặng, nhưng trong ánh mắt thằng bé có một con gấu. Chính Peter là người đã cõng cậu bé bảy tuổi về nhà. Sune im lặng đi bên cạnh, hít thở thật sâu qua mũi. Giữa mùa đông giá buốt, thị trấn lại thoảng mùi hoa anh đào một lần nữa.

Khi một cầu thủ lầm lì ít nói hai mươi hai tuổi của đội A bỏ cuộc do chấn thương dai dẳng và thiếu năng lực, Sune là người đã chặn cậu ta lại ở bãi đậu xe. Ông là người đã nhận ra tiềm năng của một huấn luyện viên xuất sắc khi tất cả những người khác chỉ thấy một cầu thủ thất bại. Chàng thanh niên hai mươi hai tuổi mang tên David đã lúng túng đứng trước mặt Sune và lí nhí nói rằng mình không giỏi huấn luyện, nhưng Sune chỉ đưa cho cậu ta một cái còi rồi bảo: “Những người nghĩ mình là huấn luyện viên giỏi thì chẳng bao giờ giỏi cả.” Đội bóng đầu tiên của David là lứa cầu thủ bảy tuổi với một trong số đó là Kevin. David đã bảo chúng phải thắng. Và chúng đã thắng. Thắng không ngừng.

Giờ đây Kevin đã mười bảy tuổi, David là huấn luyện viên của đội trẻ, và mùa giải tới cả hai sẽ lên đội A. Cùng với Peter, họ làm nên bộ ba thần thánh trong tương lai: đôi tay trên băng, trái tim trên ghế huấn luyện, và khối óc trong văn phòng. Và những phát hiện của Sune giờ đây chính là sự thất bại của ông. Peter sẽ sa thải ông, David chiếm lấy công việc của ông, và Kevin sẽ chứng tỏ cho mọi người thấy đó là quyết định đúng đắn.

Một ông già thấy trước tương lai. Và giờ đây cái tương lai ấy đã đuổi kịp ông. Ông mở cánh cửa dẫn vào sân băng, để mặc cho những tiếng ồn của nó ập vào mình.

Tại sao ông lại yêu khúc côn cầu? Bởi vì cuộc đời ông sẽ thinh lặng biết bao nếu không có nó.

Tại sao? Chưa từng có ai hỏi Amat như thế. Khúc côn cầu làm người ta khốn khổ, đòi hỏi sự hi sinh vô nhân đạo cả về mặt thể xác, tinh thần lẫn cảm xúc. Khúc côn cầu bẻ gãy đôi chân, xé rách những sợi dây chằng, và buộc thằng bé phải rời khỏi giường trước lúc mặt trời mọc. Khúc côn cầu chiếm trọn thời gian của Amat, nuốt chửng mọi năng lượng trong nó. Vậy thì tại sao? Bởi hồi còn nhỏ nó từng nghe nói “không tồn tại khái niệm cựu cầu thủ khúc côn cầu”, và nó hiểu chính xác điều đó có nghĩa là gì. Câu chuyện diễn ra ở lớp trượt băng, khi Amat mới năm tuổi. Huấn luyện viên đội A đã xuống tận mặt băng để trò chuyện với những đứa trẻ. Sune khi ấy đã là một ông già mập mạp, ông nhìn thẳng vào mắt Amat và nói: “Một số trong các cháu sinh ra đã có tài năng, số khác thì không. Một số nhận được mọi thứ, số khác chẳng có gì. Nhưng nên biết rằng tất cả đều bình đẳng trên băng. Và hãy nhớ rằng: ý chí luôn thắng năng lực.”

Đối với một đứa trẻ, thật dễ để yêu thích một bộ môn nào đó nếu được bảo rằng khi khát khao đủ lớn, nó có thể trở thành người giỏi nhất. Và không ai khát khao nhiều bằng Amat. Khúc côn cầu đã mở ra một con đường hòa nhập cộng đồng cho nó và mẹ. Dự định của nó còn hơn cả thế - đây sẽ là một lối thoát.

Mọi bộ phận trên cơ thể Amat đều đau nhức, mọi tế bào đều van xin nó nằm xuống và nghỉ ngơi. Nhưng thằng bé vẫn đảo người, chớp mắt xua đi những giọt mồ hôi, nắm cây gậy chặt hơn, và trượt trên băng. Nhanh hết mức có thể, mạnh hết mức có thể. Tiếp nào. Tiếp nào. Tiếp nào.

Đối với tất cả mọi thứ, khả năng gây ngạc nhiên rồi sẽ biến mất theo thời gian. Điều này áp dụng cho cả khúc côn cầu. Trong phần lớn thời gian, mọi người có cảm giác rằng chẳng còn ý tưởng nguyên bản nào nữa, tất cả đều đã được nghĩ, nói, và viết bởi cả đống huấn luyện viên tự tin có thừa. Những thời điểm còn lại, khi mà lớp băng vẫn có thể phát lộ những thứ chưa được mô tả, hiếm hoi hơn nhiều. Những thứ gây ngạc nhiên. Những thứ thay đổi tất cả. Chuẩn bị cho điều đó là chuyện không thể: nếu muốn dành cả cuộc đời mình cho môn thể thao này, bạn đơn giản là phải có niềm tin rằng mình sẽ nhận ra khoảnh khắc ấy.

Người quản sân đi về phía khán đài để vặn ốc cho một cái lan can cũ. Ông hơi ngạc nhiên khi nhìn thấy Sune mở cửa ra vào, vì ông già chưa bao giờ đi làm sớm như vậy.

– Hôm nay ông dậy sớm như gà thế. - Ông quản sân chế giễu.

– Người ta phải năng nổ hơn trước khi tiếng còi mãn cuộc vang lên. - Sune đáp với một nụ cười yếu ớt.

Ông quản sân buồn bã gật đầu. Như đã nói, việc sa thải Sune là bí mật được giữ kém nhất tại Beartown. Vị huấn luyện viên già đang tiếp tục đi lên văn phòng ngang qua khán đài thì dừng lại. Ông quản sân nhướng mày. Sune hất đầu về phía cậu bé trên sân và nheo mắt. Thị lực của ông không còn như trước nữa.

– Ai thế kia?

– Amat. Một cầu thủ thuộc lứa mười lăm tuổi của câu lạc bộ.

– Thằng bé làm gì vào cái giờ sớm sủa như thế này?

– Sáng nào cậu ấy cũng ở đây.

Amat đã đặt găng tay, mũ và áo khoác làm dấu mốc giữa các vạch kẻ trên sân. Thằng bé trượt nhanh hết mức tới chỗ chúng, rồi đổi hướng mà không hề giảm tốc độ, đột ngột dừng lại, và vung gậy. Trái bóng dẹt không bao giờ rời cây gậy của nó. Tới rồi lui. Năm lần. Mười lần. Cường độ không hề suy giảm. Rồi đến các cú đánh bóng ghi bàn. Trái bóng luôn chạm vào cùng một vị trí trên tấm lưới sau mỗi pha tiếp cận khung thành. Hết lần này đến lần khác.

– Mọi buổi sáng? Thằng bé bị ai phạt à? - Sune lẩm bẩm.

Ông quản sân cười khẽ.

– Chỉ là cậu ấy yêu khúc côn cầu thôi. Ông vẫn còn nhớ cảm giác đó chứ?

Sune không đáp. Ông càu nhàu gì đó khi xem đồng hồ, và tiếp tục đi lên khán đài. Khi gần tới hàng trên cùng thì ông dừng lại. Ông cố bước thêm bước nữa, nhưng trái tim đã ngăn ông lại.

Ông đã từng quan sát Amat trong lớp trượt băng, ông đã quan sát tất cả các cậu bé, nhưng khi đó mọi chuyện chưa rõ ràng. Khúc côn cầu là môn thể thao đề cao sự lặp lại. Vẫn những bài tập, những động tác ấy, cho đến khi phản ứng của cầu thủ trở thành bản năng, được khắc sâu vào xương tủy của anh ta. Trái bóng dẹt không chỉ trượt trên băng, nó còn nảy được nữa, thế nên sự tăng tốc quan trọng hơn tốc độ tối đa, khả năng kết hợp giữa tay và mắt quan trọng hơn sức mạnh. Mặt băng phán xét bạn trên khả năng đổi hướng và suy nghĩ nhanh hơn những người khác - đó là điều làm nên sự khác biệt nơi những cầu thủ giỏi nhất.

Những ngày như thế này rất hiếm, những ngày mà bộ môn khúc côn cầu có thể gây ngạc nhiên được cho chúng ta. Khi điều đó xảy ra, nó sẽ ập đến không báo trước, chỉ cần ta tin rằng mình nhận ra được nó. Thế nên khi tiếng những lưỡi trượt cắt vào mặt băng vang vọng trên các hàng ghế, Sune khựng lại và chờ một chút trước khi liếc nhìn lần cuối qua vai. Ông trông thấy cậu bé mười lăm tuổi đổi hướng, cầm chắc cây gậy trong tay, rồi lao tới với một tốc độ kinh người, và ông sẽ ghi nhớ chuyện này như một trong những ân sủng của đời mình: chứng kiến điều không thể xảy ra một lần thứ ba tại Beartown.

Ông quản sân ngước mắt lên khỏi những con ốc của hàng lan can và trông thấy người huấn luyện viên già buông người xuống một chiếc ghế ở hàng trên cùng. Thoạt đầu nom ông già giống như bị khó thở. Nhưng rồi ông quản sân nhận ra đó là vì ông chưa bao giờ chứng kiến Sune cười.

Sune hít thở bằng lỗ mũi qua làn nước mắt giàn giụa, và sân băng bỗng thơm ngát mùi hoa anh đào.

Tại sao người ta yêu khúc côn cầu?

Bởi vì nó kể cho ta nghe những câu chuyện.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 12

Đang tải bình luận...