20:
Những con chim cắt
Việc cuối cùng mà Fatima làm là dọn dẹp tầng trên của sân băng, nơi đặt các văn phòng làm việc và phòng họp – hiện giờ đã bị thu hẹp thành một cụm nhỏ ở góc trong cùng. Hầu hết diện tích tầng trên đã được dành cho trường mẫu giáo mới. Quanh đây có những đứa trẻ học đứng trên đôi giày trượt trước cả học đi, việc ấy nói lên tất cả những gì bạn cần biết về mối quan hệ giữa thị trấn này và khúc côn cầu, môn thể thao luôn thúc ép cuộc sống tiếp diễn. Cho dù nó tệ bạc đến thế nào.
Dạo sau này Fatima bắt đầu tránh mặt mọi người ở siêu thị, vì ai cũng muốn biết chuyện gì đã xảy ra với con trai chị trong khi chị không thể trả lời. Hồi mùa xuân vừa rồi, mọi thứ giống như một giấc mơ, con trai chị giành thắng lợi liên tục và ai cũng yêu quý nó, thế rồi thằng bé bị chấn thương, và khiến mọi người thất vọng. Sau đó Amat đi sang Bắc Mỹ để tham gia kỳ tuyển chọn cầu thủ của NHL, một động thái mà chị gần như không thể hiểu được. Thằng bé chỉ ngồi ở bàn bếp và giảng giải như thể nó là người trưởng thành còn chị là đứa trẻ con: “Mẹ à, NHL là giải đấu tuyệt vời nhất, nơi các cầu thủ chuyên nghiệp thi đấu, bên Bắc Mỹ. Mỗi mùa hè họ đều tổ chức một kỳ tuyển chọn, các câu lạc bộ sẽ lần lượt tuyển khoảng hai trăm cầu thủ trẻ muốn có cơ hội thi đấu chuyên nghiệp. Cơ may đó có thể mỉm cười với con, giống như chú Peter ấy!” Amat đã hứa sẽ mua cho mẹ một ngôi nhà lớn ở Khu Thượng và một chiếc Mercedes khi ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên, nhưng Fatima chỉ bật cười đáp: “Mẹ có muốn những cái đó đâu? Nếu con muốn tặng quà cho mẹ, hãy mua một chiếc máy rửa bát mới và một chút bình yên.”
Mùa xuân vừa rồi, giấc mơ của Amat lớn đến nỗi căn hộ bé xíu của hai mẹ con không có đủ chỗ cho nó. Giờ thì tất cả những gì còn lại là chiếc máy rửa bát hỏng. Amat giam mình trong phòng và gần như không bước chân ra ngoài trong mấy tháng liền. Chị là người mẹ kiểu gì khi không thể trả lời những câu hỏi về chuyện đã xảy ra với con trai mình? Ông già quản sân từng dặn chị rằng trong môn khúc côn cầu, thay vì tiết lộ một cầu thủ bị chấn thương ở đâu để đối phương nhắm vào chỗ đó, người ta chỉ nên nói chung chung “chấn thương phần thân dưới” hoặc “chấn thương phần thân trên”. Nhưng Fatima thậm chí còn không biết Amat bị chấn thương ở đâu. Ở chân hay trong tim.
Chị tắt đèn và leo lên khán đài, đứng từ trên đó nhìn xuống vòng tròn giữa sân và cố kìm nước mắt. Sau Amat, những cầu thủ mới sẽ ăn mừng hoặc gục ngã tại đó, nhưng sân băng chẳng quan tâm. Nhìn từ bên ngoài, bạn có thể nghĩ rằng chỉ cần xem nụ cười của một thiếu niên được chọn trong kỳ tuyển quân NHL là có thể biết được mọi thứ về các giải thể thao trẻ, nhưng hằng năm Fatima chứng kiến hàng trăm phụ huynh bỏ ra hàng nghìn giờ đến sân trượt băng, hi vọng rằng thành công sẽ đến với con mình. Họ căng thẳng khi đến đây và kiệt sức lúc ra về, toát mồ hôi trên xe hơi và lạnh cóng trong các buổi tập, chi một khoản thu nhập nhỏ cho phí hội viên và lớn hơn nhiều cho đủ thứ trang bị, nhưng vẫn phải bán thẻ cào xổ số và làm tình nguyện viên trong căng tin mỗi khi câu lạc bộ yêu cầu. Họ phải có toàn bộ thời gian trên đời, không bao giờ phàn nàn, lau giày trượt, quẹt nước mắt và giặt đồ. Lạy trời, giặt cả đống đồ. Dĩ nhiên mọi người được kỳ vọng phải hi sinh bản thân để giúp con cái theo đuổi ước mơ, nhưng nếu bạn muốn hiểu bất cứ điều gì về thể thao trẻ, hiểu thực sự, thì biết đến những đứa trẻ thành công thôi không đủ. Bạn cần biết cả những đứa suýt thành công.
Fatima để mắt đảo một vòng quanh sân băng, từ đầu này tới đầu kia, cố gắng nhớ xem con trai chị có thể vượt qua khoảng cách đó nhanh như thế nào. “Nhanh như cắt,” ông già quản sân từng nói thế. “Một ngày kia thằng bé sẽ thành công.” Điều đó có nghĩa là chuyển lên hạng chuyên nghiệp, như Fatima được biết. “Thành công” đồng nghĩa với kiếm được tiền từ một trận bóng. Đó là lý do đây không phải trò chơi dành cho bất kỳ ai ở thị trấn này, bởi vì không chỉ Amat được hưởng lợi, mà là tất cả mọi người. “Chẳng có gì là miễn phí trong khúc côn cầu cả, mẹ ạ, người ta phải dành cho nó tất cả những gì mình có!” Amat từng nói như vậy hồi còn bé, và cậu đã đúng. Suốt những năm tháng tuổi thơ, cậu chơi bóng bằng các trang bị cũ của người khác, hai mẹ con phải trông cậy vào lòng từ thiện của những người như Peter Andersson. “Đừng gọi đó là từ thiện, nó là sự đầu tư,” Peter đã nói như thế với giọng thân thiện, nhưng khi Amat trở thành cầu thủ giỏi nhất, chị đã hiểu câu nói đó nghĩa là họ muốn thu hồi vốn.
Fatima nuốt nước mắt vào trong, hít sâu một hơi với đôi mắt nhắm, rồi đi về phía cửa sân băng. Chị gặp ông quản sân, ông ngập ngừng trong giây lát, liếc nhìn cơn bão và nói:
— Này, Đuôi Tôm đang ở đây, tôi có thể nhờ cậu ta đi lấy xe và chở cô về nhà...
— Khỏi cần nhờ cậy tay đó, tôi sẽ đi xe buýt. – Fatima đáp.
Giọng nói của chị không hề có sự thù oán, nhưng tông giọng ấy cũng gần như bộc lộ điều tương tự. Ông quản sân cố gắng thuyết phục chị, nhưng chị không muốn nghe. Ông đành thở dài và để cho chị ra về.
Đuôi Tôm đang đứng ở lối vào, tóc tai rối bù, ống tay áo vấy máu. Họ suýt va vào nhau, anh tránh sang một bên vào giây cuối, và Fatima đi qua trước khi anh kịp mở miệng. Chị biết anh muốn hỏi thăm tình hình của Amat, bởi người dân thị trấn nào cũng muốn hỏi, dù chẳng ai thực sự quan tâm. Họ chẳng quan tâm chuyện thằng bé có hạnh phúc hay không. Họ chỉ muốn biết nó có chơi bóng được không, có giành chiến thắng được không, họ có dùng hình ảnh của nó trong tờ rơi quảng cáo được không. Nhưng ngay cả mẹ nó cũng không trả lời được những thắc mắc đó.
Chị đi bộ tới trạm xe buýt, người gập lại trong gió, tiến lên từng nửa bước một. Chị đợi mãi nhưng xe buýt không xuất hiện. Cơn bão đã khiến mọi thứ đình trệ. Chị có thể quay ngược vào trong sân băng và xin Đuôi Tôm cho mình đi nhờ, bất chấp tất cả, nhưng chị thà chết còn hơn nhờ người đàn ông đó giúp đỡ.
Thế là chị bắt đầu đi bộ cả đoạn đường dài về Khu Hạ, trên con phố chính, một mình. Gió giật tung tóc chị, nhưng chị gắng gượng di chuyển, cứ vài bước lại ngừng. Đôi chân của chị đã nhức nhối sẵn, nhưng cơn đau lưng đột ngột ập đến không hề báo trước, có lúc dữ dội đến mức làm chị suýt ngã.
Cây cối ngả nghiêng trên con phố, che khuất cả bầu trời, và Fatima nhớ lại chị đã sợ thiên nhiên ở đây như thế nào khi hai mẹ con mới chuyển đến Beartown. Gió, cái lạnh, băng tuyết và khu rừng bất tận, tất cả dường như chỉ chờ để giết bạn; trời lạnh đến nỗi Fatima không biết mình có sống sót qua mùa đông đầu tiên hay không. Giờ thì chị không thể nghĩ ra được thứ gì đẹp hơn. Thiên nhiên thỉnh thoảng vẫn làm chị lóa mắt, khi tuyết trắng đến nỗi mắt chị không thể nhìn lâu hơn vài giây; khi băng sáng đến nỗi nếu bạn đứng bên mặt hồ cạnh sân trượt băng, cảnh quan sẽ trải dài vô tận cho tới khi hòa vào bầu trời. Thế giới vô định có thể khiến bạn quay cuồng, khu rừng có thể thinh lặng như thể tai bạn bị ù đi, như thể những cái cây đã hấp thụ mọi thanh âm cuộc sống. Chị từng thích những con người ở đây và cố gắng bảo vệ con trai mình khỏi thiên nhiên, nhưng giờ đây tình thế đã đảo ngược.
Fatima dừng lại bên lề đường. Trong thâm tâm, chị biết mình không nên làm thế, rằng làm thế nguy hiểm, chị phải về nhà trước khi cơn bão trở nên tồi tệ hơn. Nhưng đôi chân không còn nghe lời chị nữa, lưng chị cứng đơ, và phổi chị không hít thở được. Chị đã đi được nửa đoạn đường giữa sân băng và Khu Hạ, chặng khó khăn nhất của hành trình vẫn còn ở phía trước, khi chỉ có vỉa hè và sự cô đơn. Chị chống bàn tay vào đầu gối, thở hổn hển, và nghĩ về khúc côn cầu. Điều đó không có gì ngạc nhiên, bởi vì khi sợ hãi, người ta sẽ trốn vào những khoảnh khắc hạnh phúc nhất, và những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của chị đều có Amat trong đó. Những đứa con trai sẽ không bao giờ hiểu được.
Amat rất giống bố – giọng nói nhẹ nhàng và ánh mắt kiên quyết. Đó vừa là niềm vui vừa là một lời nguyền đối với Fatima, bởi mỗi khoảnh khắc tự hào về con trai của chị đều kèm theo nỗi đau như dao cắt. Bố của Amat đã mất trước khi họ chuyển đến đây và không bao giờ được chứng kiến con trai mình thành công trong một môn thể thao mà bố nó chưa từng biết đến – cậu bé sinh ra ở một thị trấn gần sa mạc, nhưng lại tìm thấy ngôi nhà của mình giữa một nơi đầy băng giá.
Mọi chuyện đều là lỗi của chị, Fatima nghĩ bụng, vì chị là người đã dạy thằng bé biết ơn mọi thứ. Thị trấn này đã làm Amat suy sụp, nhưng chị đã dạy thằng bé chấp nhận điều đó. “Chúng ta phải biết ơn,” chị lặp đi lặp lại cho đến khi câu nói trở thành hình xăm vô hình bên trong mí mắt của con trai chị. Thằng bé đã trở thành người giỏi nhất, và chị hạnh phúc vì cuối cùng Amat đã bắt đầu được đối xử như thể đây thực sự là nhà của nó. Như thể đây là câu lạc bộ của nó, thị trấn của nó, đất nước của nó. Fatima vẫn chưa biết rằng điều duy nhất nặng nề hơn định kiến của Beartown là kỳ vọng của thị trấn này. Amat vẫn chỉ là một cậu bé, nó mới hiện diện trên cõi đời này mười tám năm, nhưng khúc côn cầu đã đặt một gánh nặng không thể chịu nổi lên nó, một gánh nặng mà ngay cả một người đàn ông trưởng thành cũng khó lòng cáng đáng được.
Vài năm trước, Amat dường như quá nhỏ con và yếu đuối đối với môn khúc côn cầu, nhưng tất nhiên, ở nơi này bạn không được phép yếu đuối. Peter đã an ủi Fatima, kể cho chị nghe câu chuyện anh đã đứng trong phòng thay đồ vào đêm trước trận đấu lớn nhất lịch sử Beartown và hét lên rằng đội bóng thành phố có thể có tiền, nhưng “khúc côn cầu là của chúng ta!” Những gì người khác coi là điểm yếu ở Amat thực ra lại là điểm mạnh của thằng bé, theo lời Peter: Amat dẻo dai, trượt băng mà không cần gắng sức, vì vậy với nó mọi thứ diễn ra nhanh hơn so với những người khác. Có lẽ điều đó đúng, Fatima nghĩ, hoặc có thể nó chỉ cố gắng thoát khỏi những thằng bé khác, những đứa to gấp đôi và cố gắng triệt hạ nó. Đó là một môn thể thao tàn khốc, chị chưa bao giờ quen với những chú gấu nhỏ trên băng lẫn những gã gấu lớn ngoài sân băng – hình ảnh những người cha tụ tập hò hét quanh sân băng trong các trận đấu: có vẻ nặng nề chậm chạp, nhưng nhanh như chớp và tàn bạo ngay khi bạn lọt vào tầm mắt của họ. Từ lâu chị đã hiểu rằng khúc côn cầu ở đây giống như một đặc quyền của xã hội thượng lưu, bạn sẽ chỉ trở thành một cầu thủ khúc côn cầu nếu bạn sinh ra trong một gia đình có điều kiện. Đó là lý họ phát minh ra nhiều truyền thống và quy tắc đến thế, cả một ngôn ngữ với nhiều khái niệm riêng, để ngay đến những đứa trẻ cũng có thể phân biệt được ai thuộc về cộng đồng ấy và ai đứng bên lề. Có lần Fatima nghe một trong những người đàn ông nói đùa: “Có rất nhiều môn thể thao trong môn thể thao này!” Chị hiểu anh ta muốn ám chỉ điều gì. Họ không hài lòng với một môn thể thao thuần túy, họ muốn một trò chơi tinh vi trong đó họ có thể mua một chỗ cho bản thân và con cái của mình.
Câu nói này được thốt ra từ miệng Đuôi Tôm – người gần như không đếm xỉa gì tới Fatima trong suốt khoảng thời gian chị làm việc tại sân băng, cho đến khi Amat được vào đội A của câu lạc bộ. Từ khoảnh khắc đó, anh ta đột nhiên bắt đầu khuyên nhủ chị “về tương lai”, nói với chị “điều gì là tốt nhất cho cậu bé,” nhắc đến NHL, người đại diện và các bản hợp đồng. Fatima có thể không hiểu hết tất cả những lời lẽ đao to búa lớn đó, nhưng chị nhận ra ngay một điều: Đuôi Tôm cho rằng con trai chị thuộc sở hữu của đội Beartown. Anh ta đã in một tờ rơi có ảnh của Amat kèm theo một lời khẳng định rằng tài trợ cho Beartown không chỉ dễ dàng, mà còn là điều đúng đắn cần làm, và chuyện Amat đến từ Khu Hạ đột nhiên trở nên hữu ích. Đuôi Tôm thậm chí còn muốn chụp ảnh Fatima và Amat đang nhặt lon bia trên khán đài, bởi anh ta nghe nói họ làm như vậy để trang trải tiền thuê nhà, nhưng khi biết chuyện này ông quản sân đã quát anh ta lớn đến nỗi kính cửa sổ rung bần bật. Fatima thì không nói gì, chị cố gắng tỏ ra biết ơn, mặc dù điều đó ngày càng trở nên khó khăn.
Fatima mở mắt. Chị đang ngồi trên đường, ở đâu đó giữa sân băng và Khu Hạ. Chị nhấn gót chân xuống đất và chậm chạp đứng dậy, rồi bắt đầu bước đi, nhưng chị không còn sức lực. Gió thốc từ phía sau như một cú đá vào lưng, chị cố gắng giữ thăng bằng nhưng không được, và ngã nhào xuống rãnh thoát nước. Chị nằm đó với tiếng gió thổi ù ù bên tai. Rồi chị bất tỉnh.
Mùa xuân vừa rồi, trong một bài phỏng vấn của tờ báo địa phương, Đuôi Tôm gọi trường hợp Amat là “câu chuyện Lọ Lem” để chứng minh rằng “ở Beartown, mọi người đều có thể chơi khúc côn cầu.” Không đâu, Fatima nghĩ, nó là một câu chuyện cổ tích vì nó hiếm khi xảy ra. Chị đọc được Đuôi Tôm khoe khoang rằng họ đang “đầu tư vào đội nữ,” dù anh ta đến sân trượt băng mỗi tuần và thuyết phục người quản sân cho đội nữ tập vào những khung giờ xấu nhất, để dành những khung giờ đẹp cho con trai của những ông bố giàu có. Họ chẳng mặn mà gì với các bé gái hơn những đứa trẻ Khu Hạ, chúng chỉ là những kẻ cạnh tranh thời gian sử dụng sân băng. Bởi vì khúc côn cầu thuộc về họ, như Peter đã nói.
Dòng suy nghĩ trong đầu Fatima quay về những năm đầu tiên của chị ở Beartown, khi đó chị chẳng biết gì về gấu, nhưng hình ảnh gấu được đặt ở khắp nơi trong sân băng, thế nên chị đã lấy một cuốn sách về gấu từ thư viện và bắt đầu đọc, hi vọng hiểu rõ thị trấn hơn thông qua loài vật này. Và đúng thế thật. Điều đầu tiên chị biết được là có đến bốn mươi phần trăm gấu con chết trong năm đầu đời, chủ yếu bị giết bởi những con gấu đực trưởng thành không phải cha nó. Fatima nhận ra rằng một ngày nào đó, nếu ai đó đe dọa con của chị, chị cũng phải trở thành một con gấu. Chị đấu tranh để Amat có quyền được là một chú gấu vô tư, ngây thơ và vô lo giống như con nhà người ta. Có quyền được chơi đùa và vui vẻ. Thành thật mà nói, ngay cả chị cũng không ngờ Amat có thể chơi hay như vậy và “đi xa đến thế”; chị chỉ thích việc thằng bé không cần lo nghĩ về sân băng. Nó không đau đớn ở đó, và thế là đủ. Nhưng dần dà, khi thằng bé càng lớn lên, khúc côn cầu dường như càng trở nên công bằng. Khi bọn trẻ còn nhỏ, những đứa bé con nhà giàu có được lợi thế, nhưng khi chúng trở thành thiếu niên, mọi người đều quên mất cha mẹ của Amat là ai, họ chỉ quan tâm đến tài năng của thằng bé. Chừng nào đội bóng còn chiến thắng, mọi người còn yêu mến thằng bé. Amat nhanh chóng quen với điều đó. Và có lẽ Fatima cũng vậy. Bây giờ chị cảm thấy xấu hổ về chuyện đó – có lẽ chị đã chọc giận thượng đế và vũ trụ, chị đã coi mọi thứ là điều hiển nhiên, nhưng của phù vân có chân nó chạy. Mùa xuân rồi, chị là người đầu tiên nhận thấy có điều gì đó không ổn: Amat vẫn ghi bàn trong mọi trận đấu, nhưng thằng bé không còn dẻo dai nữa. Nó căng thẳng vì phải gánh cả thế giới trên vai, cho đến khi cơ thể nó không chịu đựng được nữa.
Không lâu sau đó, một người hàng xóm nói với Fatima rằng dân Khu Hạ rất bất bình về “tin đồn,” và tất cả họ đều đứng về phía Amat. “Tin đồn gì cơ?” Fatima thắc mắc, và người hàng xóm nói rằng Internet đang đưa tin Amat giả vờ bị chấn thương. Rằng thằng bé chỉ quan tâm đến giải NHL và “bất trung”. Bất trung ư? Bất trung với cái gì? Làm như thân xác nó thuộc về câu lạc bộ vậy.
Nhiều người đàn ông đến sân băng và siêu thị để cho Fatima lời khuyên, nhưng cuối cùng chị đã không nghe theo bất kỳ ai trong số họ, kể cả Peter. Amat đã đến Bắc Mỹ và mất tất cả, để rồi trắng tay quay về.
Chị không biết mình đã nằm trên mặt đất bao lâu trước khi cuối cùng cũng lấy lại được sức lực một lần cuối và bò dậy, đau đớn đến nỗi gió thổi cũng đủ khiến da dẻ buốt nhói. Trong một thoáng, chị hối hận vì đã quá tự tin khi xe buýt không đến, lẽ ra chị nên quay lại sân băng và xin Đuôi Tôm cho đi nhờ xe. Nội suy nghĩ ấy cũng đủ cho thấy chị đang sợ hãi thế nào.
Cơn bão gầm rú bên tai Fatima lớn tới nỗi chị gần như không nghe thấy tiếng Amat hét gọi mẹ. Những đứa con trai không bao giờ hiểu rằng đó là từ lớn lao nhất trên đời. “Mẹ. Mẹ. MẸ!” Phải rất lâu sau chị mới nhận ra thằng bé đang chạy tới chỗ chị. Thằng bé thực sự không còn là chính nó nữa. Từ một người luôn gầy như que củi, giờ nó đã trở nên tròn trịa, nó cũng không cạo râu và có mùi rượu. Nhưng đôi tay thằng bé mạnh mẽ như một người đàn ông khi nó nhấc chị đứng dậy.
— Con đang làm gì ở đây vậy? – Chị lo lắng hỏi.
— Mẹ đang làm gì ở đây vậy? Tại sao mẹ lại ĐI BỘ về nhà? – Amat gào lên để át tiếng gió.
Ông quản sân là người tốt bụng nhất mà bạn có thể có trong một câu lạc bộ khúc côn cầu, nên ông không ngốc tới nỗi để mặc Fatima cứ thế đi bộ về nhà. Khi chị rời khỏi sân băng, ông đã gọi cho công ty xe buýt và yêu cầu kết nối với tài xế để chắc chắn chị đón được xe. Khi họ nói với ông rằng mọi chuyến buýt đều đã bị hủy do bão, ông lập tức gọi cho Amat. Ông đã định đích thân ra ngoài để tìm kiến Fatima, nhưng Amat đã thuyết phục được ông không làm vậy, để cậu không phải mất công tìm kiếm cả hai người. Đó là một cuộc trò chuyện khó xử; ông già từng gặp Amat hằng ngày trong suốt thời thơ ấu của cậu bé, nhưng cậu đã không đến sân băng kể từ khi bị chấn thương ở chân vào mùa xuân năm ngoái và bỏ lỡ giai đoạn cuối mùa giải. Cậu thậm chí không rời khỏi Khu Hạ kể từ khi trở về nhà sau kỳ tuyển chọn của NHL mùa hè vừa rồi mà cứ ở lì trong căn hộ. Đây thực sự là lần đầu tiên Amat chạy ra đường kể từ khi bị chấn thương.
Nhưng Amat chạy mới nhanh làm sao. Nhanh như cắt.
Từ Khu Hạ, men theo con đường, xuyên qua cơn bão cho đến khi nhìn thấy mẹ. Amat cởi phăng áo khoác của mình ra và quấn nó quanh người mẹ mình. Sau đó, hai người đi bộ về nhà, lom khom dưới sức mạnh của thiên nhiên. Fatima nắm chặt cánh tay con trai.
— Con có đói không? Chúng ta có nên đi mua một ít bánh mì loại con thích không? – Chị hét lên át tiếng gió.
— Siêu thị đóng cửa rồi mẹ! Đừng nói nữa, chúng ta phải về nhà! – Amat hét lên đáp lại.
— Con không nên chạy đến đây, con cần phải bảo vệ bàn chân của mình! – Chị hét.
— Đừng lo lắng cho con nữa!
Tất nhiên, Amat có thể nói như vậy bao nhiêu cũng được, nhưng chị là mẹ thằng bé. Người nào định ngăn cản chị thì xin chúc may mắn!