Bí Mật Của Những Bí Mật

Chương 11

Chương 11

Chương 11 Cái toàn thể và vòng tròn thiêng Osho ơi, Thầy Lữ tử nói: Không cái gì là có thể mà không có trầm tư. Cảm nhận đem người ta tới mục đích. Điều phải được đảo ngược bằng suy nghĩ là tâm tự ý thức, điều phải chỉ đạo bản thân nó hướng tới điểm mà tâm linh hình thành còn chưa biểu lộ. Bên trong thân thể mét tám chúng ta phải cố gắng để đạt tới hình dạng tồn tại trước khi trời đất dàn ra. Nếu ngày nay mọi người ngồi và thiền chỉ một hay hai giờ, chỉ nhìn vào bản ngã của họ, và gọi điều này là suy nghĩ, làm sao cái gì có thể bắt nguồn từ nó được? Người ta phải nhìn vào chỏm mũi của mình. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta phải tập trung suy nghĩ vào chỏm mũi. Không phải điều đó, trong khi mắt nhìn vào chỏm mũi, ý nghĩ phải được tập trung vào điểm vàng ở giữa. Bất kì chỗ nào mắt

368 nhìn, tâm cũng được hướng tới đó. Làm sao nó có thể được hướng đồng thời lên và xuống? Mọi điều đó ngụ ý lẫn lộn ngón tay chỉ trăng với bản thân trăng. Vậy thì cái gì thực sự được ngụ ý bởi điều này? Cách diễn đạt ‘chỏm mũi’ được chọn lựa một cách khéo léo. Mũi phải phục vụ cho mắt như nguyên tắc chỉ đạo. Nếu người ta không được hướng dẫn bởi mũi, hoặc người ta mở to mắt và nhìn vào khoảng cách, để cho mũi không được nhìn thấy, hay mi mắt khép lại quá nhiều, để cho mắt nhắm lại, và lần nữa mũi không được nhìn thấy. Nhưng khi mắt mở quá to, người ta phạm sai lầm hướng chúng ra ngoài, bởi thế người ta dễ dàng bị sao lãng. Nếu chúng khép lại quá nhiều, người ta phạm sai lầm để cho chúng quay vào trong, bởi thế người ta dễ dàng chìm vào trong mơ màng mộng mị. Chỉ khi mí mắt hạ thấp đúng tới một nửa thì chỏm mũi mới được thấy theo cách đúng. Do đó, điều đó được lấy như nguyên tắc chỉ đạo. Điều chính là hạ thấp mí mắt theo cách đúng, và thế rồi cho phép ánh sáng tràn vào trong bản thân nó; không nỗ lực nào, muốn ánh sáng chảy vào trong một cách tập trung. Nhìn vào chỏm mũi chỉ phục vụ như việc bắt đầu của tập trung bên trong, để cho mắt được mang vào hướng nhìn đúng, và thế rồi được giữ làm nguyên tắc chỉ đạo: sau đó, người ta có thể để nó là vậy. Đây là cách thợ nề treo đường ống nước. Ngay khi người đó treo nó lên, người đó hướng dẫn công việc của mình bằng nó mà không liên tục làm mình bận tâm phải nhìn vào đường ống nước. Người ta nhìn bằng cả hai mắt vào chỏm mũi, ngồi thẳng và trong tư thế thoải mái, và giữ cho tâm

369 thành trung tâm giữa những hoàn cảnh. Điều đó không nhất thiết nghĩa là ở giữa đầu. Nó chỉ là vấn đề cố định suy nghĩ của người ta vào điểm nằm đích xác ở giữa hai mắt. Thế thì mọi sự là tốt. Ánh sáng là cái gì đó cực kì linh động. Khi người ta cố định ý nghĩ vào điểm giữa hai mắt, ánh sáng chảy theo cách riêng của nó. Không cần hướng chú ý đặc biệt vào lâu đài trung tâm. Trong vài lời này điều quan trọng nhất được hàm chứa. ‘Trung tâm ở giữa các hoàn cảnh' là cách diễn đạt rất tinh tế. Trung tâm là toàn năng; mọi thứ đều được bao hàm trong nó; nó được nối với việc đưa ra của toàn thể quá trình sáng tạo. Nhìn cố định trầm tư là không thể thiếu được; nó đảm bảo việc làm nhanh chóng chứng ngộ. Duy nhất người ta phải không ngồi cứng nhắc nếu ý nghĩ trần tục kéo tới, mà người ta phải xem xét ý nghĩ này ở đâu, nó bắt đầu từ đâu, và nó nhạt nhoà ở đâu. Không cái gì được thu lấy bằng việc thúc đẩy suy nghĩ thêm nữa. Người ta phải bằng lòng nhìn nơi ý nghĩ nảy sinh, và không tìm ra bên ngoài điểm khởi thuỷ; vì tìm ra tâm thức trung tâm, đi ra đằng sau tâm thức bằng tâm thức - điều đó không thể được làm. Cùng nhau chúng ta muốn đem các trạng thái của tâm về nghỉ ngơi, đó mới là trầm tư đúng. Điều mâu thuẫn với nó là trầm tư giả. Điều đó không đưa tới mục đích nào. Khi ánh sáng của ý nghĩ cứ mở rộng thên nữa, người ta nên dừng lại và bắt đầu trầm tư. Để người ta trầm tư và thế rồi bắt đầu nhìn cố định lần nữa. Đó là phương pháp kép làm nhanh việc chứng ngộ. Nó có nghĩa là luân quang. Luân chuyển là việc nhìn cố định. Ánh sáng là trầm tư. Nhìn cố định không trầm tư là luân

370 chuyển không ánh sáng. Trầm tư không nhìn cố định là ánh sáng không luân chuyển. Lưu ý tới điều đó. Một người mù tới thăm bạn mình. Lúc đó trời tối khi anh ta ra về, và họ đưa cho anh ta chiếc đèn. “Cám ơn, nhưng tôi không cần nó. Sáng hay tối là như nhau với tôi cả thôi.” “Vâng, nhưng dẫu sao vẫn nên mang nó đi để mọi người không đâm vào anh.” Anh ta đi, và chẳng mấy chốc ai đó đụng vào anh ta và quát lên, “Sao anh không nhìn khi anh đi thế?” “Sao anh không thấy đèn của tôi!” “Rất tiếc, người anh em,” người kia nói, “nến của anh tắt rồi.” Kinh sách trong tay của người không biết thiền là gì, cũng hệt như đèn trong tay người mù - hoàn toàn vô dụng - và người mù không thể biết được liệu đèn vẫn còn sáng hay không. Người đó sẽ đơn giản mang một trọng lượng không cần thiết - thực ra, chẳng giúp ích chút nào; ngược lại, nó có thể là cản trở. Nếu người mù đã đi mà không có đèn, người đó chắc đã cẩn thận hơn, thận trọng hơn. Vì chiếc đèn có trong tay, người đó phải đã bước đi dường như người đó có mắt, người đó phải đã gạt mọi thận trọng sang bên. Đó là điều đã xảy ra cho nhân loại ở qui mô lớn: những người có Kinh Thánh, Koran, Gita - đây là những ngọn đèn có vẻ đẹp và ánh sáng mênh mông, nhưng mắt

371 bạn mù. Và Gita đã cổ năm nghìn năm - ánh sáng đã tắt từ lâu lâu trước đây rồi. Khi Krishna chết ánh sáng đã tắt. Đấy cũng là trường hợp cho Kinh Thánh và Koran và tất cả những kinh sách linh thiêng khác của thế giới: khi thầy chết đi, ánh sáng tắt. Nhưng mọi người cứ mang kinh sách, tin tưởng vào kinh sách, hi vọng rằng đời họ sẽ vẫn còn đầy ánh sáng bởi vì họ đang mang thông điệp từ một thầy vĩ đại. Thông điệp đó không gì nhiều hơn lời; nó là gánh nặng không cần thiết. Nếu mọi kinh sách của thế giới biến mất, con người có thể trở nên thận trọng hơn, có thể trở nên tỉnh táo hơn, có thể bắt đầu tìm nguồn sáng theo cách riêng của mình. Bởi vì sẽ không có việc dựa dẫm, người đó sẽ phải học đứng trên đôi chân riêng của mình. Có lần Lương Chấn có vị khách tới thăm, Tế San, người này đang tìm kiếm sự sáng tỏ thêm nữa, cứ lưu lại mãi cho tới khi rất muộn. Lương Chấn cuối cùng phải nói, “Đêm khuy dần rồi. Sao ông không về nghỉ?” Tế San xin phép ra về, vén mành tre và bước ra. Thấy bên ngoài tối mịt, ông ấy quay lại và nói, “Bên ngoài tối quá.” Thế là Lương Chấn thắp đèn lên và đưa đèn cho Tế San. Vừa lúc Tế San định cầm nó, Lương Chấn bất thần thổi tắt nó đi. Ngỡ ngàng, Tế San đột nhiên thức tỉnh, và rồi ông ấy cúi lạy. Lương Chấn nói, “Ông thấy loại chân lí gì vậy?” Tế San nói, “Sau ngày hôm nay tôi sẽ không bao giờ hoài nghi lời nói của mọi thầy cổ dưới trời.” Ngày hôm sau Lương Chấn đi tới trước các đệ tử và nói, “Trong nhóm này có một người có răng nanh cây

372 kiếm, có mồm giống như phiến đá đẫm máu, và là người sẽ không quay đầu ngay cả khi bị cú đánh bằng gậy. Một ngày nào đó người đó sẽ thiết lập con đường của ta trên đỉnh núi đơn độc.” Thế rồi Tế San chìa ra bản ghi những lời bình giảng kinh của mình và trước cả phòng thiền, giơ cao một ngọn đuốc và nói, “Phân tích sâu vô tận là giống như đặt sợi tóc trong trống rỗng của không gian; sức mạnh trần tục giống như ném một giọt nước vào trong hẻm núi mênh mông.” Nói rồi, ông ấy đốt hết những lời bình giảng của mình. Bây giờ, nếu bạn không có mắt thì ngay cả ánh sáng cũng thành vô dụng; đèn trong tay bạn chẳng là gì, hoàn toàn không là gì cả. Nhưng nếu bạn có mắt, ngay cả việc thổi tắt ngọn nến cũng có thể trở thành kinh nghiệm chứng ngộ. Vấn đề là về mắt. Người này Lương Chấn được Tế San tới thăm. Lương Chấn là thầy, Tế San là đệ tử của ông ấy. Nhìn thấy tối bên ngoài, đệ tử nói với thầy, “Trời tối quá.” Thầy thắp chiếc nến lên và đưa nó cho đệ tử, và khi anh ta vừa định cầm lấy nó, thầy thổi tắt nó đi. Đột nhiên, tất cả lại trở thành tối đen, còn tối hơn trước. Và việc thổi tắt đột ngột ngọn nến này phải đã là một cú sốc - không dự kiến được. Trong một khoảnh khắc đệ tử phải đã rơi vào trong khe hở giữa hai ý nghĩ. Trong một khoảnh khắc suy nghĩ biến mất và có trầm tư. Trong một khoảnh khắc có im lặng hoàn toàn. Trong im lặng đó người đó có thể thấy ra vấn đề.

373 Ngày hôm sau ông ấy đốt tất cả mọi kinh sách. Bây giờ chúng không còn được cần tới nữa; bây giờ ông ấy biết chân lí qua kinh nghiệm riêng của ông ấy. Một chút ít kinh nghiệm còn có giá trị hơn cả núi tri thức. Chỉ hai con mắt nhỏ còn có giá trị hơn mặt trời và mặt trăng và mọi vì sao. Toàn thể vấn đề là ở chỗ tôn giáo là kinh nghiệm. Nó không phải là suy đoán, nó không phải là phân tích liên tục - nó là sáng suốt. Bây giờ đến lời kinh. Những lời kinh này có giá trị mênh mông vì chúng cho bạn kĩ thuật dưới dạng đơn giản nhất có thể được. Và phương pháp này thực sự là đơn giản - chừng nào bạn còn chưa quyết tâm làm nó thành phức tạp. Tâm trí bao giờ cũng biến những thứ đơn giản thành phức tạp - cẩn thận về điều đó - bởi vì tâm trí không thể tồn tại với cái đơn giản được; nó không được cần tới. Nếu mọi thứ thực sự đơn giản, cần gì tâm trí? Tâm trí được cần tới chỉ khi mọi thứ là phức tạp. Thế thì bạn phải phụ thuộc vào tâm trí bởi vì thế thì tâm trí sẽ tìm ra cách ra khỏi điều bí ẩn. Nhưng nếu không có điều bí ẩn, tâm trí hoàn toàn vô dụng; bạn có thể vứt bỏ nó. Cho nên đầu tư của tâm trí là vào sự phức tạp. Nhớ điều đó. Những lời kinh này là rất đơn giản. Chân lí bao giờ cũng đơn giản, hoàn toàn đơn giản. Thầy Lữ tử nói: Không cái gì là có thể mà không có trầm tư. Trầm tư là gì? - một khoảnh khắc của vô ý nghĩ.

374 Từ tiếng Anh ‘contemplation-trầm tư’ không cho ý đúng của dhyana. Trong tiếng Anh không có từ nào có thể dịch được từ ‘dhyana-thiền’. Có ba từ sẵn có. Một là ‘concentration-tập trung’, điều rất xa vời, bởi vì tập trung nghĩa là nỗ lực, căng thẳng - một trạng thái bị ép buộc, không phải là trạng thái tự phát tuôn chảy - và dhyana-thiền là tự phát tuôn chảy. Không có căng thẳng trong nó, cho nên từ concentration￾tập trung không thể là việc dịch của nó. Thế rồi từ khác là ‘contemplation-trầm tư’. Nhưng trong tiếng Anh, contemplation-trầm tư cho ý tưởng về suy nghĩ. Khi bạn nói ai đó đang trầm tư, bạn ngụ ý suy nghĩ về cái gì đó. Hay từ thứ ba là ‘meditation-suy ngẫm’. Nhưng từ này nữa cũng ngụ ý suy nghĩ: suy ngẫm về cái gì đó. Cả ba từ này không từ nào mang nghĩa của dhyana-thiền. Dhyana nghĩa là trạng thái vô ý nghĩ, trạng thái của im lặng, trạng thái của việc có ý thức nhưng không có nội dung nào. Tấm gương có đó nhưng không phản xạ xái gì, không cái gì dù là bất kì cái gì. Cũng giống như gương, tâm thức có đó, nhưng không cái gì làm bận bịu nó. Nhận biết vô bận bịu đó là dhyana-thiền. Đạo nhân dùng từ ‘contemplation-trầm tư’ để dịch nó. Đó chỉ là vì một số từ phải được dùng. Cho nên nhớ lấy nghĩa này - nó không phải là nghĩa trong từ điển. Nếu bạn nhìn vào trong từ điển bạn sẽ có ý tưởng sai lầm hoàn toàn về trầm tư. Thực ra đó là điều Bí mật của Hoa Vàng gọi là ‘trầm tư giả’. Trầm tư giả nghĩa là suy nghĩ về cái gì đó. Nó có thể là Thượng đế - đó là điều người Ki tô giáo ngụ ý bởi trầm tư: suy nghĩ về Thượng đế, suy nghĩ về những điều thiêng liêng, những điều siêu việt. Nhưng sự vật là sự vật; dù chúng là linh thiêng hay không linh

375 thiêng thì cũng chẳng tạo ra khác biệt gì. Và suy nghĩ là suy nghĩ; dù bạn nghĩ về dục hay samadhi cũng không tạo ra khác biệt gì. Trạng thái vô ý nghĩ, khe hở... và nó bao giờ cũng xảy ra, nhưng bạn không tỉnh táo về nó, bằng không chẳng có vấn đề gì trong nó cả. Ý nghĩ này tới, thế rồi ý nghĩ khác tới, và giữa hai ý nghĩ này bao giờ cũng có khe hở nhỏ. Và khe hở đó là cánh cửa tới điều thiêng liêng, khe hở đó là trầm tư. Nếu bạn nhìn vào trong khe hở đó một cách sâu sắc, nó bắt đầu trở thành ngày một lớn hơn. Tâm trí giống như con đường đầy lưu thông: xe này qua, thế rồi xe khác qua, và bạn trở nên bận tâm với xe nhiều tới mức bạn không thấy khe hở bao giờ cũng có giữa hai xe. Bằng không thì chúng sẽ đụng nhau mất. Chúng không đụng nhau; cái gì đó có đó giữa chúng giữ cho chúng tách rời. Ý nghĩ của bạn không đụng nhau, chúng không đè lên nhau, đâm vào nhau. Chúng thậm chí không chờm lấp nhau theo bất kì cách nào. Từng ý nghĩ đều có biên giới riêng của nó, từng ý nghĩ đều là định nghĩa được. Nhưng việc diễu hành của các ý nghĩ là nhanh thế, có tốc độ tới mức bạn không thể thấy được khe hở chừng nào bạn còn chưa thực sự chờ đợi nó, tìm nó. Trầm tư nghĩa là thay đổi động thái. Bình thường chúng ta nhìn vào ý nghĩ: ý nghĩ này, ý nghĩ khác, ý nghĩ khác nữa. Khi bạn đổi động thái bạn nhìn: khe hở này, khe hở khác, khe hở khác nữa. Nhấn mạnh của bạn không còn vào ý nghĩ mà vào khe hở. Chẳng hạn, bạn ngồi đây. Tôi có thể nhìn vào bạn theo hai cách: hoặc như người này, người khác, người khác nữa - nhấn mạnh của tôi là vào người, tôi có thể đếm có bao nhiêu người ở đó - hay tôi có thể quên về người và tôi có thể đếm khe hở giữa hai người, bao nhiêu khe hở

376 có đó. Đây là thay đổi động thái. Nếu bạn đếm khe hở, bạn sẽ ngạc nhiên: người trở thành mơ hồ, bạn không nhìn rõ họ bởi vì bạn đang nhìn vào khe hở, bạn đang đếm các khe hở. Một ngày nào đó, đứng bên cạnh đường, chỉ đếm bao nhiêu khe hở đi qua và bạn sẽ ngạc nhiên là bạn không thấy mầu sắc của xe, bạn không thấy hình dáng của xe, bạn không thấy người lái xe và hành khách trong xe, nhưng bạn có thấy các khe hở. Khe hở này qua, khe hở khác qua - bạn liên tục đếm khe hở. Động thái của bạn là khác. Trầm tư là thay đổi động thái: không nhảy từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, mà nhảy từ khe hở này sang khe hở khác. Dần dần, dần dần bạn trở thành rất rất nhận biết về khe hở. Và đó là một trong những bí mật lớn lao nhất của cuộc sống, bởi vì chính qua những ke hở đó bạn sẽ rơi vào trong bản thể riêng của bạn, vào trong trung tâm riêng của bạn. Thầy Lữ tử nói: Không cái gì là có thể mà không có trầm tư. Cảm nhận đem người ta tới mục đích. Cảm nhận, chỉ cảm nhận… điều ở Ấn Độ chúng ta gọi là darshan. Việc nhìn đem người ta tới mục đích, không đi đâu cả. Bạn không cần đi đâu cả - chỉ nhìn! Một khi bạn bắt đầu nhìn vào trong các khoảng trống, vào trong các khe hở, bạn sẽ có khả năng thấy bạn là ai. Và bạn là mục đích, bạn là cội nguồn và mục đích, cả hai - cái bắt đầu và cái kết thúc, alpha và omega. Bạn chứa mọi điều bạn đã từng khao khát, bạn có mọi điều bạn đã từng ham muốn. Bạn không cần là kẻ ăn xin. Nếu bạn chọn

377 nhìn vào trong khe hở bạn sẽ là hoàng đế, nếu bạn liên tục nhìn vào các ý nghĩ bạn sẽ vẫn còn là kẻ ăn xin. Cảm nhận đem người ta tới mục đích. Thậm chí không một bước nào cần phải lấy bên ngoài bản thân bạn vì Thượng đế đã ở bên trong bạn, Thượng đế đã là hoàn cảnh rồi. Đó là cốt lõi bên trong nhất của bạn. Thượng đế không có đó trên cao, đâu đó trên trời; Thượng đế ở bên trong bạn, đâu đó nơi các ý nghĩ không quấy rối bạn, nơi im lặng ngự trị, nơi tâm thức không bận bịu hoàn toàn hiện diện, không phản xạ cái gì. Thế thì bạn kinh nghiệm hương vị riêng của bạn lần đầu tiên, thế thì bạn đầy hương thơm của bản thể riêng của bạn: hoa vàng nở ra. Điều phải được đảo ngược bằng suy nghĩ là tâm tự ý thức, điều phải chỉ đạo bản thân nó hướng tới điểm mà tâm linh hình thành còn chưa biểu lộ. Ý nghĩ là cái biểu lộ, vô ý nghĩ là cái không biểu lộ. Nếu động thái của bạn chỉ bao gồm các ý nghĩ, bạn sẽ sẽ không biết cái gì nhiều hơn bản ngã. Bản ngã được gọi là ‘tâm tự ý thức’. Bạn vẫn còn không là gì ngoài chùm các ý nghĩ. Chùm các ý nghĩ đó cho bạn một ý thức về cái ta, ‘tôi đây’. Descartes, cha đẻ của triết học phương Tây hiện đại, nói, “Tôi nghĩ, do đó tôi hiện hữu.” Nghĩa riêng của ông ấy là rất khác bởi vì ông ấy không phải là thiền nhân, nhưng phát biểu này là hay; trong một hoàn cảnh khác toàn bộ thì nó là hay. Tôi cho nó một nghĩa khác. Vâng,

378 tôi hiện hữu - chỉ nếu tôi nghĩ. Nếu suy nghĩ biến mất, cái tôi cũng biến mất. “Tôi nghĩ, do đó tôi hiện hữu” - cái tính tôi này, cái tâm tự ý thức này không là gì ngoài sự liên tục các ý nghĩ. Nó không thực sự là thực thể, nó là thực thể giả, ảo tưởng. Nó cũng giống như cầm ngọn đuốc trong tay bạn và nếu bạn bắt đầu xoay vòng ngọn đuốc trong tay bạn, bạn sẽ thấy vòng tròn lửa mà không có đó. Nhưng ngọn đuốc chuyển động nhanh tới mức nó tạo ra vòng tròn lửa ảo, nó tạo ra ảo tưởng về vòng tròn lửa. Nó không có đó. Ý nghĩ chuyển động nhanh tới mức chúng tạo ra ý tưởng về tôi. Lữ tử nói người ta phải di chuyển từ tâm tự ý thức sang tâm không tự ý thức: người ta phải di chuyển từ bản ngã sang vô bản ngã, người ta phải di chuyển từ cái ngã sang vô ngã. Cái ngã là phần biểu lộ - tí hon, rất nhỏ, thô. Không ngã là phần không biểu hiện - vô hạn, vĩnh hằng. Cái ngã là hiện tượng nhất thời, được sinh ra một ngày nào đó, sẽ phải chết đi một ngày nào đó. Cái không ngã, điều Phật gọi là anatta, vô ngã, là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 93

Đang tải bình luận...