phần của vĩnh hằng - không bao giờ sinh và không bao giờ chết - nó kéo dài mãi mãi. Bên trong thân thể mét tám chúng ta phải cố gắng để đạt tới hình dạng tồn tại trước khi trời đất dàn ra. Và bên trong thân thể mét tám của bạn, bạn có phẩm chất nguyên thuỷ đó vẫn sống động, rung động - phẩm chất nguyên thuỷ đó cái đã có trước khi trời đất được tạo ra. Thiền nhân gọi nó là 'mặt nguyên thuỷ': khi không cái gì được sinh ra - thậm chí không trời, không đất - tất cả đều không biểu lộ; khi tất cả đều là im lặng, không âm
379 thanh nào được sinh ra; khi không có hình dạnh và tất cả đều là vô hình dạng, tất cả đều trong hạt mầm. Bạn có cái im lặng nguyên thuỷ đó trong bạn. Người Hindu gọi nó là anahat nad. Phật tử có cách diễn đạt đặc biệt cho nó, “Tiếng vỗ tay của một bàn tay.” Nó ở bên trong bạn, nó là thực tại của bạn. Thưởng thức nó là trở thành bất tử, thưởng thức nó là trở thành vàng. Thế thì bụi được biến đổi thành điều thiêng liêng. Mục đích của mọi giả kim thuật là biến đổi kim loại thấp hơn thành vàng. Nếu ngày nay mọi người ngồi và thiền chỉ một hay hai giờ, chỉ nhìn vào bản ngã của họ, và gọi điều này là suy nghĩ, làm sao cái gì có thể bắt nguồn từ nó được? Người ta có thể ngồi trong thiền và chỉ có thể nhìn vào bản ngã của người ta. Đó là điều mọi người gọi là trầm tư: họ nhìn vào ý nghĩ của họ, họ không thay đổi động thái. Mọi điều xảy ra cho họ là: bình thường họ bận bịu với nhiều thứ thế họ không thể nhìn vào ý nghĩ của họ được; khi họ ngồi đặc biệt dành cho thiền họ quên thế giới đi, trong một khoảnh khắc, và các ý nghĩ trở nên sắc nét hơn, họ tỉnh táo hơn với ý nghĩ của họ. Đây là trạng thái của triết gia, đây là cách triết gia đã từng suy nghĩ, suy đoán, triết lí. Đây không phải là trầm tư đúng. Và điều này sẽ không bao giờ đưa bạn ra ngoài bản ngã, ra ngoài cái chết, ra ngoài thời gian. Và đó là nơi mục đích của người ta nằm đấy. Để tôi nhắc lại: nếu bạn muốn thiền bạn sẽ phải đổi động thái. Chỉ nhắm mắt lại và nhìn vào trong bản ngã sẽ không ích gì.
380 Triết gia người Anh vĩ đại, David Hume, đã viết, “Nghe và đọc lặp đi lặp lại câu châm ngôn vĩ đại này và lời khuyên của mọi thầy lớn, ‘Để biết bản thân ông, thiền đi’, tôi cũng cố thiền. Tôi chẳng thấy gì bên trong ngoại trừ các ý nghĩ, kí ức, tưởng tượng, mơ mộng. Nhưng tôi chẳng thấy gì khác.” Ông ấy đúng bởi vì ông ấy không biết thiền là gì. Ông ấy là triết gia, và là một trong những triết gia tài năng nhất của thế giới - rất rất logic, nhất quán - nhưng chỉ là một triết gia, không phải là thiền nhân. Ông ấy phải đã thử nếu ông ấy nói vậy, và ông ấy phải đã bắt gặp nhiều ý nghĩ vẩn vơ bên trong. Và thế rồi ông ấy nói, “Nhưng tôi không thấy cái ta nào, tôi không thấy im lặng nào, tôi không thấy Thượng đế nào. Điều đó toàn là vô tích sự.” Ông ấy bỏ lỡ bởi vì ông ấy đã không nhận biết rằng đầu tiên bạn phải đổi động thái. Bạn phải không nhìn vào ý nghĩ, bạn phải nhìn vào khe hở, về các khe hở; bạn phải tìm các khe hở và bạn phải nhảy vào trong các khe hở. Nếu ông ấy mà nhảy vào trong khe hở ông ấy chắc đã thấy ý nghĩ biến mất, mơ biến mất, kí ức biến mất - mọi thức đều bị bỏ lại đằng sau. Dần dần, dần dần nó trở thành tiếng ồn rất rất xa xăm, và thế rồi một khoảnh khắc tới: nó đơn giản biến mất và bạn đã đi ra ngoài, bạn đã đạt tới bờ xa hơn. Người ta phải nhìn vào chỏm mũi của mình. Bây giờ điểm thực hành của toàn thể lời kinh này - rất đơn giản, nhưng cố hiểu nó cho đúng, bởi vì tâm trí muốn bóp méo ngay cả những thứ đơn giản. Tâm trí là cái máy bóp méo.
381 Người ta phải nhìn vào chỏm mũi của mình. Tại sao? - vì điều này giúp ích, nó đem bạn vào thẳng hàng với con mắt thứ ba. Khi hai mắt bạn được cố định vào chỏm mũi điều đó làm được nhiều thứ. Điều cơ bản là ở chỗ con mắt thứ ba của bạn ở đích xác thẳng hàng với chỏm mũi - chỉ vài phân ở phía trên, nhưng theo cùng một đường thẳng. Và một khi bạn ở trên đường thẳng của con mắt thứ ba, sự hấp dẫn của con mắt thứ ba, lực kéo, từ lực của con mắt thứ ba là lớn tới mức nếu bạn rơi vào thẳng hàng với nó bạn sẽ được kéo thậm chí ngược lại bản thân bạn. Bạn chỉ phải ở đích xác thẳng hàng với nó để cho lực hút, lực hấp dẫn của con mắt thứ ba bắt đầu vận hành. Một khi bạn ở đích xác thẳng hàng với nó thì sẽ không cần làm nỗ lực nào. Đột nhiên bạn sẽ thấy, động thái đã thay đổi, bởi vì hai con mắt tạo ra nhị nguyên của thế giới và ý nghĩ, và một con mắt ở giữa hai con mắt này tạo ra khe hở. Đây là phương pháp đơn giản cho việc đổi động thái. Người ta phải nhìn vào chỏm mũi của mình. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta phải tập trung tư tưởng vào chỏm mũi. Đó là cách tâm trí có thể bóp méo nó. Tâm trí có thể nói, “Thôi được rồi, bây giờ nhìn vào chỏm mũi. Nghĩ về chỏm mũi, tập trung vào nó.” Nếu bạn tập trung quá nhiều vào chỏm mũi bạn sẽ bỏ lỡ vấn đề, bởi vì bạn phải ở đó tại chỏm mũi nhưng rất thảnh thơi để cho con mắt thứ ba có thể kéo bạn. Nếu bạn quá tập trung vào chỏm mũi - bị bắt rễ, bị hội tụ, bị cố định ở đó - con mắt thứ ba của bạn sẽ không có khả năng kéo bạn vào, bởi vì con mắt thứ ba chưa bao giờ vận hành trước đây. Sức kéo của
382 nó không thể rất lớn lúc ban đầu. Dần dần, dần dần nó phát triển ngày càng nhiều hơn. Một khi nó bắt đầu vận hành và bụi đã tụ tập quanh nó biến mất với việc sử dụng và cái máy này chạy rù rù êm ru, thế thì cho dù bạn bị cố định vào chỏm mũi bạn vẫn sẽ bị kéo vào... nhưng không thế lúc ban đâu. Bạn phải rất rất nhẹ, không nặng gánh, không có bất kì căng thẳng hay dồn nén nào. Bạn phải đơn giản ở đó, hiện diện, trong một loại buông bỏ. Không phải điều đó, trong khi mắt nhìn vào chỏm mũi, ý nghĩ phải được tập trung vào điểm vàng ở giữa. Cho nên đừng tập trung vào chỏm mũi nếu không - thủ đoạn thứ hai mà tâm trí có thể giở ra.... Thầy đơn giản cố gắng làm cho bạn tỉnh táo về mọi khả năng, về mọi trò mà tâm trí có khả năng chơi. Đầu tiên nó sẽ nói, “Được, vậy thầy nói đấy nhé, ‘Tập trung vào chỏm mũi.’” Thầy không nói, “Tập trung vào chỏm mũi,” thầy đơn giản nói, “Nhìn thôi. Chỉ cái nhìn rất nhẹ, vô nỗ lực.” Hay tâm trí có thể nói, “Được, nếu mình chỉ nhìn vào chỏm mũi, thế thì tập trung vào con mắt thứ ba vậy.” Tâm trí bao giờ cũng thiên về tập trung vì tâm trí được nuôi dưỡng bằng tập trung, sống bằng tập trung. Do đó trong trường phổ thông, cao đẳng, đại học, tập trung được dạy chứ không phải thiền, bởi vì chúng tất cả đều là cơ xưởng để tạo ra tâm trí, chúng chế tạo ra tâm trí. Bất kì chỗ nào mắt nhìn, tâm cũng được hướng tới đó. Làm sao nó có thể được hướng đồng thời lên và xuống?
383 Và thế rồi tâm trí có thể nói, “Trông đấy, điều này là không thể được, đòi hỏi này là phi lí. Làm sao mình có thể nhìn theo hai hướng đồng thời được, vừa vào chỏm mũi và vào con mắt thứ ba? Điều đó là không thể được, điều đó không thể được thực hiện, nó không thể được làm. Đừng có ngu xuẩn!” Bây giờ trò thứ ba của tâm trí - kết án cái gì đó là phi lí. Đầu tiên nó tạo ra ý tưởng hư huyễn và thế rồi nó bắt đầu phá huỷ điều đó. Và khi nó phá huỷ, nó có niềm vui lớn - niềm vui rất tự bạo, tàn bạo. Nó nói, “Trông đấy, đây là điều thầy ngụ ý. Ngớ ngẩn! Đầu tiên nhìn vào chỏm mũi và thế rồi nhìn vào con mắt thứ ba - làm sao mình có thể làm được cả hai, nhìn lên và nhìn xuống? Điều đó là không thể được.” Mọi điều đó ngụ ý lẫn lộn ngón tay chỉ trăng với bản thân trăng. Vậy thì cái gì thực sự được ngụ ý bởi điều này? Cách diễn đạt ‘chỏm mũi’ được chọn lựa một cách khéo léo. Mũi phải phục vụ cho mắt như nguyên tắc chỉ đạo. Có vậy thôi - chỉ là nguyên tắc chỉ đạo: để cho bạn ở trong trường này, trong trường lực này của con mắt thứ ba, để cho bạn ở rất gần với năng lượng từ trường của con mắt thứ ba. Nó không thể vận hành theo cách nào khác. Bạn chỉ phải hiện diện trong từ tường, trong trường của nó, và thế thì nó đem bạn vào. Bạn không cần đi vào, bạn cần không làm nỗ lực nào để đi vào; nó xảy ra theo cách riêng của nó.
384 Nếu người ta không được hướng dẫn bởi mũi, hoặc người ta mở to mắt và nhìn vào khoảng cách, để cho mũi không được nhìn thấy, hay mi mắt khép lại quá nhiều, để cho mắt nhắm lại, và lần nữa mũi không được nhìn thấy. Nhưng khi mắt mở quá to, người ta phạm sai lầm hướng chúng ra ngoài, bởi thế người ta dễ dàng bị làm sao lãng. Và chức năng khác của việc nhìn rất nhẹ vào chỏm mũi là thế này: rằng nó không cho phép bạn mở to mắt ra nhìn. Nếu bạn mở to mắt nhìn toàn thế giới sẽ thành sẵn có, và có cả nghìn lẻ một sao lãng. Một cô gái đẹp đi qua và bạn bắt đầu đi theo - ít nhất là trong tâm trí. Hay ai đó đang đánh nhau; bạn không liên quan, nhưng bạn bắt đầu nghĩ, “Chuyện gì xảy ra thế nhỉ?” Hay ai đó khóc và bạn trở nên tò mò - và cả nghìn lẻ một thứ liên tục di chuyển quanh bạn. Nếu mắt mở to, bạn trở thành năng lượng nam tính, dương. Nếu mắt nhắm hoàn toàn bạn rơi vào trong một loại mơ màng, bạn bắt đầu mơ; bạn trở thành năng lượng nữ tính, âm. Để tránh cả hai điều này, cứ nhìn vào chỏm mũi - một phương cách đơn giản, nhưng kết quả là gần như thần kì. Và điều này không chỉ là vậy với Đạo nhân; các Phật tử biết điều đó, người Hindu biết điều đó. Trong nhiều thời đại mọi thiền nhân bằng cách nào đó đều vớ phải sự kiện là nếu mắt bạn chỉ mở một nửa, trong chính cách thức kì diệu đó bạn thoát ra khỏi hai cạm bẫy. Người này bị sao lãng bởi thế giới bên ngoài; người khác bị sao lãng bởi thế giới mơ bên trong; bạn vẫn còn đích xác ở trên biên giới của của cái bên trong và cái bên ngoài. Và đó mới là vấn đề: ở ngay biên giới của cái bên trong và cái bên ngoài nghĩa là bạn không là nam không là nữ vào
385 khoảnh khắc đó; cái nhìn của bạn là tự do với nhị nguyên, cái nhìn của bạn đã siêu việt lên trên sự phân chia trong bạn. Chỉ khi bạn ở bên ngoài phân chia trong bạn thì bạn mới rơi vào trong đường thẳng của từ trường của con mắt thứ ba. Nếu chúng khép lại quá nhiều, người ta phạm sai lầm để cho chúng quay vào trong, bởi thế người ta dễ dàng chìm vào trong mơ màng mộng mị. Chỉ khi mí mắt hạ thấp đúng tới một nửa thì chỏm mũi mới được thấy theo cách đúng. Do đó, điều đó được lấy như nguyên tắc chỉ đạo. Điều chính là hạ thấp mí mắt theo cách đúng, và thế rồi cho phép ánh sáng tràn vào trong bản thân nó… Điều đó là rất quan trọng cần nhớ: bạn không kéo ánh sáng vào, bạn không ép buộc ánh sáng vào. Nếu cửa sổ để mở, ánh sáng tới, theo cách riêng của nó; nếu cửa mở, ánh sáng tràn ngập vào. Bạn không cần mang nó vào, bạn không cần đẩy nó vào, bạn không cần lôi nó vào. Và làm sao bạn có thể lôi nó vào được? Làm sao bạn có thể đẩy ánh sáng vào được? Mọi điều được cần là ở chỗ bạn phải mở và mong manh với nó. Và đó đích xác là điều xảy ra khi bạn nhìn vào chỏm mũi: chỉ nhìn mà không có tập trung nào, chỉ nhìn mà không có nặng nề gì trong nó, không căng thẳng nào trong nó, đột nhiên cửa sổ của con mắt thứ ba mở ra và ánh sáng bắt đầu đổ dồn vào. Ánh sáng mà bao giờ cũng đi ra bắt đầu đi vào nữa, và vòng tròn là đầy đủ. Và vòng tròn này làm ra con người hoàn hảo. Và vòng tròn này làm ra con người hoàn toàn nghỉ ngơi, được thảnh thơi. Vòng tròn này làm cho con người thành toàn thể và linh thiêng - con người không còn bị phân chia. Bằng
386 không mọi người đều tinh thần phân liệt, nhiều hay ít. Chỉ người này, người có khả năng tạo ra vòng tròn ánh sáng và luân quang, mới ở ngoài chứng tinh thần phân liệt, mới thực sự mạnh khoẻ, mới thực sự không thần kinh. Bằng không sự khác biệt giữa mọi người là không mấy. Người thần kinh và cái gọi là người không thần kinh khác nhau chỉ ở mức độ. Thực ra, bệnh nhân và nhà phân tâm không phải là những loại người khác nhau, họ là một thôi - người thần kinh này cố giúp người thần kinh khác. Và thỉnh thoảng chuyện xảy ra: người đi giúp có thể còn thần kinh hơn người mà người đó đang cố giúp. Nhiều nhà phân tâm phát điên hơn bất kì nghề nào khác trên thế giới. Nhiều nhà phân tâm tự tử hơn bất kì nghề nào khác trên thế giới. Tại sao? Theo một cách nào đó điều đó dường như hợp lí, logic: liên tục xử lí với chứng thần kinh, mọi loại điên khùng - và bản thân họ lại không là toàn thể - một cách tự nhiên, họ sẽ bị ảnh hưởng. Họ đang nuôi dưỡng bản thân họ bằng những chứng thần kinh này. Khi nhà phân tâm lắng nghe bệnh nhân và mọi cái vô nghĩa và rác rưởi của người đó, một cách vô ý thức nhà phân tâm đang thu thập nó vào trong bản thân mình. Bệnh nhân đang xổ mọi thứ vô nghĩa lên nhà phân tâm. Thực ra, người đó trả tiền cho điều đó. Dần dần, dần dần nhà phân tâm có nhiều chứng thần kinh được xổ lên ông ta tới mức nó sẽ bùng nổ. Điều đó là tự nhiên. Nếu như tôi quyết định về ai nên là nhà phân tâm, thế thì quá trình làm luân quang sẽ là yêu cầu cơ sở, yêu cầu nền tảng cho nhà phân tâm: chừng nào một người còn chưa có khả năng luân quang của mình, người đó sẽ không được phép trị liệu cho bất kì ai. Và nếu một người có khả năng luân quang trong bản thân mình, người đó sẽ không bao giờ bị ảnh hưởng bởi bất kì loại thần kinh nào;
387 người đó có thể lắng nghe, người đó có thể giúp đỡ, người đó sẽ vẫn còn không bị động chạm. Việc luân quang của người đó sẽ giữ cho người đó sạch sẽ, thuần khiết. Người đó sẽ là người linh thiêng. Đó là khác biệt giữa guru và nhà phân tâm. Chỉ guru mới có thể thực sự là nhà phân tâm, chỉ guru mới có thể là nhà trị liệu. Chỉ một người đã đi tới tính toàn thể của mình mới có thể là sự giúp đỡ thực cho người khác, những người còn đang trên đường, vật lộn, loạng choạng trong bóng tối. Bằng không người mù đang dẫn người mù khác - cả hai đều sẽ ngã vào giếng nào đó. Cuốn sách này, Bí mật của Hoa Vàng, phải trở thành thực hành nền tảng nhất trong tương lai cho bất kì ai muốn trở thành nhà trị liệu tâm lí. Bạn sẽ ngạc nhiên: người này, Wilhelm, người đã dịch cuốn sách này sang ngôn ngữ phương Tây lần đầu tiên, bản thân ông ấy là nhà tâm lí lớn; đó là cách ông ấy trở nên quan tâm tới cuốn sách này. Nhưng sau khi ông ấy dịch nó, ông ấy phát điên; ông ấy trở nên rất bị rối loạn. Toàn thể đào tạo phân tâm của ông ấy và cuốn sách này đã tạo ra mâu thuẫn trong ông ấy, đã tạo ra câu đố trong ông ấy, tới mức ông ấy trở nên bị phân chia nhiều hơn. Việc dịch cuốn sách này đã nhấn chìm ông ấy vào một loại điên khùng. Ông ấy trở nên bị mất phương hướng bởi vì toàn thể đào tạo của ông ấy, toàn thể hiểu biết của ông ấy, bị rối loạn. Nhớ điều đó. Bí mật này không phải là rất khó khăn. Điều là khó khăn của nó: nó là đơn giản tới mức bạn chỉ phải cảnh giác để cho tâm trí bạn không làm cho nó thành khó, không cho nó xoắn xuýt và rối rắm và vặn vẹo và méo mó. Do đó, điều đó được lấy như nguyên tắc chỉ đạo. Điều chính là hạ thấp mí mắt theo cách đúng, và thế
388 rồi cho phép ánh sáng chảy vào trong bản thân nó, không nỗ lực nào, muốn ánh sáng chảy theo cách được tập trung. Không cần đem ánh sáng vào theo cách tập trung, nó tới theo cách riêng của nó. Và khi nó tới theo cách riêng của nó, nó là đẹp. Nếu bạn bắt đầu thử đem nó vào bạn sẽ thất bại, nỗ lực của bạn mang định mệnh thất bại. Và bạn càng thất bại bạn sẽ càng cố gắng vất vả hơn, và bạn càng cố gắng hơn, thất bại của bạn sẽ càng được đảm bảo hơn. Đừng cố đem nó vào. Cứ bỏ bản thân bạn vào trong tình huống đúng nơi nó trở thành sẵn có. Chẳng hạn, nếu trăng có đó, chỉ đi tới cửa sổ và đứng cạnh cửa sổ, và trăng bắt đầu trút nước cam lồ của nó lên bạn. Bạn không cần làm gì khác cả. Cứ ở tại chỗ mà trăng đã ùa tới; chỉ làm cho bản thân bạn thành sẵn có trong trường đúng và mọi sự bắt đầu xảy ra - những thứ có giá trị mênh mông. Nhìn vào chỏm mũi chỉ phục vụ như việc bắt đầu của tập trung bên trong, để cho mắt được mang vào hướng nhìn đúng, và thế rồi được giữ làm nguyên tắc chỉ đạo: sau đó, người ta có thể để nó là vậy. Đây là cách thợ nề treo đường ống nước. Ngay khi người đó treo nó lên, người đó hướng dẫn công việc của mình bằng nó mà không liên tục làm mình bận tâm phải nhìn vào đường ống nước. Người ta nhìn bằng cả hai mắt vào chỏm mũi, Nhớ lấy, bạn phải nhìn bằng cả hai mắt vào chỏm mũi để cho tại chỏm mũi đó cả hai mắt bạn mất đi tính nhị nguyên của chúng, để cho trên chỏm mũi đó, ánh
389 sáng đang phát ra từ mắt bạn trở thành một, rơi vào một điểm. Chỗ hai mắt bạn gặp gỡ, đó là chỗ từ đó cửa sổ mở ra. Và thế thì tất cả đều là tốt. Thế thì cứ để nó vậy. Thế thì bạn đơn giản tận hưởng, thế thì bạn đơn giản mở hội, vui sướng, hân hoan. Thế thì chẳng cái gì phải được làm. Người ta nhìn bằng cả hai mắt vào chỏm mũi, ngồi thẳng... Ngồi thẳng là có ích. Khi xương sống của bạn thẳng, năng lượng từ trung tâm dục cũng trở thành sẵn có cho con mắt thứ ba - chỉ là những phương cách đơn giản, không cái gì phức tạp về chúng. Chính điều là khi hai mắt bạn gặp gỡ tại chỏm mũi, bạn là sẵn có cho con mắt thứ ba; làm cho năng lượng dục của bạn cũng thành sẵn có cho con mắt thứ ba, thế thì hiệu quả sẽ gấp đôi. Hiệu quả sẽ là mạnh mẽ, bởi vì trung tâm dục của bạn có mọi năng lượng mà bạn có. Khi xương sống dựng thẳng, đứng, trung tâm dục cũng sẵn có cho con mắt thứ ba. Điều tốt hơn cả là lao vào con mắt thứ ba từ cả hai chiều, cố gắng xuyên thấu vào con mắt thứ ba từ cả hai hướng. Người ta … ngồi thẳng và trong tư thế thoải mái… Thầy đang làm mọi thứ rất rõ ràng: thẳng đứng, chắc chắn, nhưng không làm nó một cách không thoải mái, bằng không bạn lại sẽ bị sao lãng bởi sự không thoải mái của bạn. Đó là nghĩa của tư thế yoga. Từ tiếng Phạn asana nghĩa là tư thế thoải mái. Thoải mái là phẩm chất cơ bản của nó. Nếu nó không thoải mái thì tâm trí bạn sẽ bị sao lãng bởi sự không thoải mái. Nó phải thoải mái. Nếu bạn không thể ngồi trên sàn như người phương Đông có thể ngồi - vì họ đã từng ngồi hàng thế kỉ.... Nếu
390 một người tìm kiếm phương Tây không thể ngồi thẳng trên sàn, một cách thoải mái, và phải ép buộc bản thân mình và điều đó trở thành không thoải mái và đau, thế thì tốt hơn cả là ngồi thẳng trên ghế. Nhưng để lưng ghế thẳng. Bạn phải đã thấy những bức tranh và tượng về các vua và hoàng hậu Ai Cập cổ đại: ghế của họ có lưng rất thẳng. Thế thì ngồi giống điều đó đi. Đó cũng là tư thế yoga đấy. Những người Ai Cập cổ đại đó biết bí mật này. Dẫu sao đi chăng nữa, có hai điều: xương sống của bạn phải thẳng và tư thế của bạn phải thoải mái. Nếu cả hai điều này là không thể được... thỉnh thoảng nó là vậy, cả hai là không thể được - nếu bạn làm cho xương sống của bạn thẳng nó trở thành không thoải mái, nếu bạn trở nên thoải mái, xương sống không còn thẳng - thế thì chọn thoải mái đi. Nó sẽ không được tốt nhưng điều tốt tiếp đó là chọn thoải mái. Thế thì quên chuyện xương sống và việc thẳng của nó đi, bởi vì tâm trí bị sao lãng, bởi vì nếu tâm trí bị sao lãng, chẳng cái gì sẽ xảy ra. Nếu có thể có cả hai thế thì điều đó là rất hay. Ngồi trong tư thế thoải mái. Người ta ngồi thẳng và trong tư thế thoải mái, và giữ cho tâm thành trung tâm giữa những hoàn cảnh. Và đừng trốn khỏi thế giới. Sống trong thế giới, trong các hoàn cảnh của nó. Tiếng ồn giao thông có đó, và máy bay bay qua, và tầu hoả qua lại như thoi và đủ mọi thứ có đó - tất cả những tình huống này, thế giới đấy - nhưng bạn ngồi im lặng trong thế giới. Bởi vì trốn lên hang Himalayan bao giờ cũng nguy hiểm - nguy hiểm bởi một lí do là im lặng của Himalayas có tính lây nhiễm và bạn sẽ cảm thấy rằng bạn đã trở nên im lặng. Và cái mát
391 mẻ của không khí có tính lây nhiễm, và bạn sẽ nghĩ rằng bạn đã mát mẻ lại. Nó sẽ là vay mượn, và bất kì khi nào bạn quay lại bãi chợ mọi thứ sẽ bị mất đi. Và thế thì bạn sẽ biết rằng tất cả những năm ở Himalayas đã là sự phí hoài, cực kì phí hoài: bạn đơn giản tự lừa bản thân bạn. Tốt hơn cả là hiện hữu trong thế giới và đạt tới việc định tâm, bởi vì thế thì nó không thể bị lấy đi khỏi bạn được. Cho nên bất kì chỗ nào bạn ở, bạn đều phải trở nên được định tâm trong các hoàn cảnh đó. Điều đó không nhất thiết nghĩa là ở giữa đầu. Và bằng việc định tâm điều đó không có nghĩa là bạn phải được định tâm vào giữa đầu. Nó chỉ là vấn đề cố định suy nghĩ của người ta vào điểm nằm đích xác ở giữa hai mắt. Và nhớ, không tập trung, nhưng vẫn còn tỉnh táo, chỉ tỉnh táo hơi chút: nhìn vào chỏm mũi và vẫn còn hơi tỉnh táo tới con mắt thứ ba. Thực ra, khoảnh khắc bạn nhìn vào chỏm mũi bạn sẽ trở nên tỉnh táo với con mắt thứ ba, bởi vì đó là cực kia của mũi. Một cực là chỏm này, cực ngoài - một đầu; đầu kia của mũi được nối liền với con mắt thứ ba. Khoảnh khắc bạn trở nên nhận biết về chỏm này bạn sẽ đột nhiên trở nên nhận biết về đầu kia nữa. Nhưng vẫn còn nhận biết, nhận biết vô nỗ lực. Nó chỉ là vấn đề cố định suy nghĩ của người ta vào điểm nằm đích xác ở giữa hai mắt. Thế thì mọi sự đều tốt.
392 Một phát biểu mênh mông: Thế thì mọi sự là tốt. Bạn đã bắt đầu tới nhà. Bạn đang ở ngưỡng của cuộc cách mạng. Ánh sáng là cái gì đó cực kì linh động. Ánh sáng bao giờ cũng chuyển động, ánh sáng là chuyển động. Và ánh sáng là chuyển động lớn nhất trên thế giới. Trong một giây, tốc độ của ánh sáng là một trăm tám mươi sáu nghìn dặm (ba trăm nghìn ki lô mét). Không cái gì chuyển động với tốc độ lớn hơn ánh sáng. Ánh sáng là tốc độ thuần tuý, nó là cái tên khác cho tốc độ. Ánh sáng chưa bao giờ ngủ, nó bao giờ cũng động, nó bao giờ cũng chuyển động, bao giờ cũng tuôn chảy. Ánh sáng là cái gì đó cực kì linh động. Khi người ta cố định ý nghĩ vào điểm giữa hai mắt, ánh sáng chảy theo cách riêng của nó. Bạn cần không lo nghĩ: chỉ mở cửa sổ và chờ đợi. Ánh sáng là hiện tượng chuyển động tới mức nếu cửa sổ mở nó sẽ đi vào. Thực ra, nó đã gõ cửa sổ nhiều nhiều kiếp rồi, nhưng cửa sổ đã không mở, cho nên nó không thể buộc cửa sổ mở ra được. Cũng giống như vào buổi sáng mặt trời đã lên và bạn còn ngủ say, và những tia sáng tới trên cửa sổ và chúng gõ vào cửa sổ - nhưng cái gõ của chúng im lặng, chúng không tạo ra tiếng ồn nào, và chúng đợi ở đó. Khoảnh khắc bạn thức dậy và bạn mở cửa sổ, ánh sáng tràn vào. Và với ánh sáng cuộc sống tới, và với ánh sánh vui mừng tới.
393 Khi người ta cố định ý nghĩ vào điểm giữa hai mắt, ánh sáng chảy theo cách riêng của nó. Nhớ lời này ... theo cách riêng của nó. Bạn không là người làm, bạn chỉ là một loại buông bỏ: bạn buông xuôi theo ánh sáng. Không cần hướng chú ý đặc biệt vào lâu đài trung tâm. Trong vài lời này điều quan trọng nhất được hàm chứa. Chính bí mật của việc biến đổi toàn thể bản thể bạn, chính bí mật của vương quốc của Thượng đế, chính bí mật của niết bàn.... ‘Trung tâm ở giữa các hoàn cảnh' là cách diễn đạt rất tinh tế. Trung tâm là toàn năng; mọi thứ đều được bao hàm trong nó; nó được nối với việc đưa ra của toàn thể quá trình sáng tạo. Và khi bạn đã đạt tới điểm con mắt thứ ba và bạn được định tâm ở đó và ánh sáng tràn vào, bạn đã đạt tới điểm từ đó toàn thể việc sáng tạo đã nảy sinh - bạn đã đạt tới cái vô dạng, cái không biểu lộ - gọi nó là Thượng đế nếu bạn muốn. Đây là điểm đó, đây là không gian đó, từ đây mọi thứ đã nảy sinh, đây là chính hạt mầm của toàn thể sự tồn tại. Nó là toàn năng, nó là toàn diện, nó là vĩnh hằng.
394 Bây giờ bạn sẽ không biết tới cái chết nào. Bây giờ bạn sẽ không biết sự đồng nhất nào với bất kì thân thể nào - trẻ, già, đẹp, xấu. Bây giờ bạn sẽ không biết loại bệnh tật nào - không phải là bệnh tật sẽ không xảy ra cho thân thể, nhưng chúng sẽ không xảy ra cho bạn thêm nữa vì bạn không còn bị đồng nhất. Ramana Maharshi chết vì ung thư. Thân thể đang trong đau đớn nhưng ông ấy mỉm cười. Các bác sĩ phân vân, họ không thể tin được vào điều đó. Điều đó là không thể nào tin nổi. Thân thể đang trong đau đớn thế và ông ấy đã trong cực lạc lớn lao thế. Làm sao điều đó là có thể được? Và họ cứ hỏi đi hỏi lại, “Làm sao điều đó là có thể được?” Và ông ấy sẽ nói đi nói lại, “Chẳng có gì lạ về điều đó. Tôi không phải là thân thể. Cho nên bất kì cái gì xảy ra trong thân thể, nó cũng hệt như bạn đang chứng kiến thân thể tôi, tôi cũng đang chứng kiến thân thể tôi. Bạn không cảm thấy đau nào cho nên sao tôi phải cảm thấy? Bạn là nhân chứng, tôi là nhân chứng. Thân thể chỉ là một đối thể - một đối thể ở giữa cả hai chúng ta. Bạn đang thấy từ bên ngoài rằng nó là đau đớn, tôi đang nhìn từ bên trong rằng nó là đau đớn. Nếu bạn không bị ảnh hưởng chỉ bởi việc nhìn nó, sao tôi phải bị ảnh hưởng?” Thực ra, các bác sĩ đã bị ảnh hưởng. Họ cảm thấy rất thông cảm. Họ buồn, họ cảm thấy bất lực; họ muốn cứu người này... một trong những người đẹp nhất đã từng bước đi trên trái đất, nhưng họ không thể làm được. Họ khóc, nhưng Ramana không bị ảnh hưởng chút nào. Có điểm siêu việt bên trong bạn từ đó đột nhiên bạn trở nên được ngắt ra khỏi mọi cái biểu lộ và bạn trở nên được nối với cái không biểu lộ. Được nối với cái không biểu lộ là được tự do - tự do khỏi mọi khổ, mọi giới hạn, mọi tù túng.
395 Cố định trầm tư là không thể thiếu được… Và đây là cái gì đó mà bạn không thể né tránh - nó là không thể thiếu được. Nếu bạn muốn đạt tới trạng thái của cái đẹp bạn sẽ phải đi qua việc cố định này - quá trình trầm tư này, thiền, hay dhyana. …nó đảm bảo việc làm nhanh chóng chứng ngộ. Duy nhất người ta phải không ngồi cứng nhắc nếu ý nghĩ trần tục kéo tới… Bây giờ phần thứ hai, lời khuyên rất quan trọng từ Thầy: …người ta phải không ngồi cứng nhắc nếu ý nghĩ trần tục kéo tới, mà người ta phải xem xét ý nghĩ này ở đâu, nó bắt đầu từ đâu, và nó nhạt nhoà ở đâu. Điều này sẽ không xảy ra trong việc thử đầu tiên. Bạn sẽ nhìn vào chỏm mũi và ý nghĩ sẽ tới. Chúng đã từng tới trong nhiều kiếp rồi, chúng không thể bỏ bạn một mình dễ dàng thế. Chúng đã trở thành một