Bụi Kí 1

phần cậu có thể nhìn được của con đường, và

phần cậu có thể nhìn được của con đường, và

phần cậu có thể nhìn được của con đường, và không thấy có vấn đề gì cả; khi cậu quay lại, Asriel đang trao cái bọc nhỏ trở lại qua ô cửa sổ, thì thầm một vài câu, rồi lặng lẽ đóng cửa chớp lại. Sau đó ông ra hiệu, Malcolm liền tới bên ông. Rất khó để không tạo ra một tiếng động nào, kể cả trên cỏ, Malcolm phải quan sát xem người đàn ông này đặt chân xuống như thế nào: có tính chất nọ rất giống báo nơi ông - một thứ để cậu phải luyện tập bản thân. Trở về qua vườn cây, tới bờ giậu, qua những bụi gai để vào đồng cỏ, băng ngang để tới gốc liễu... Rồi một luồng sáng mạnh mẽ hơn, vàng vọt hơn mặt trăng đâm thẳng lên trời. Có ai đó trên cầu đang cầm một cây đèn pha rọi, Malcolm nghe thấy có tiếng động cơ chạy gas. “Chúng kia rồi,” Asriel khẽ nói. “Cứ để ta lại đây, Malcolm.” “Không! Cháu có ý tưởng hay hơn. Ông hãy lấy xuồng của cháu mà xuôi xuống sông. Chỉ cần đưa cháu trở lại bờ bên kia trước là được.” Kế hoạch này nảy ra trong đầu Malcolm cùng lúc với khi cậu nói ra. “Cậu chắc chứ?” “Ông có thể đi xuôi dòng một quãng dài. Họ sẽ không bao giờ nghĩ tới được chuyện đó đâu. Nhanh nào!” Cậu bước vào xuồng, tháo dây neo ra rồi giữ cho thuyền ghé sát vào bờ sông trong lúc Asriel cũng bước vào, sau đó Malcolm chèo đi một cách lanh lẹ và khẽ khàng nhất có thể qua vườn của quán trọ, dù cho dòng chảy như muốn cuốn cậu ra làn nước rộng lớn, nơi họ sẽ bị nhìn thấy từ cây cầu. Asriel nắm lấy sợi dây được đóng cố định trên cầu tàu nhỏ lúc Malcolm bước ra, sau đó Malcolm giữ thuyền trong khi người đàn ông ngồi xuống đuôi, cầm lấy mái chèo, rồi chìa tay ra để bắt.

“Ta sẽ đem cô nàng [8] này trở lại với cậu, ” ông nói rồi chèo đi, lao nhanh với những cú quạt tay dài đầy mãnh lực xuống con sông trên dòng chảy căng tràn, con linh thú báo trông như một bức phù điêu vĩ đại trên mũi xuồng. La Belle Sauvage chưa từng bao giờ lao đi nhanh đến vậy, Malcolm thầm nghĩ.

T 11 Bảo vệ Môi trường rong những ngày nối tiếp, Malcolm suy nghĩ rất nhiều về khoảng nửa tiếng đồng hồ đầy kì lạ với Ngài Asriel trong khu vườn tu viện ngập tràn ánh trăng. Cậu và Asta không ngừng thảo luận về sự kiện đấy. Đó không phải là thứ mà cậu có thể nói với bất kì ai ngoài linh thú của mình, chắc chắn là cậu không thể nhắc tới chuyện này với cha mẹ mình rồi. Họ lúc nào cũng quá bận rộn với quán trọ để có thể nhận ra nhiều điều về cậu, trừ khi cậu cần phải được tắm rửa hay không làm bài tập về nhà; ví dụ, cậu biết họ sẽ chẳng phát hiện ra rằng cái xuồng của cậu đã biến mất. Cậu không kể với ai về việc đó trừ Tiến sĩ Relf. Cho đến khi Ngài Asriel đem trả được La Belle Sauvage lại cho cậu, hành trình đến nhà tiến sĩ ở Jericho sẽ được thực hiện trên đất liền, và khi gõ lên cánh cửa quen thuộc vào ngày thứ Bảy, cậu đã đến muộn hơn mọi khi. “Cháu cho ông ấy mượn thuyền sao? Thật hào phóng quá, ” cô nói sau khi nghe câu chuyện. “À, cháu tin tưởng ông ấy. Vì ông ấy đối xử tử tế với Lyra. Ông ấy cho cô bé tắm ánh trăng, giữ ấm cho nó, không làm nó khóc, và rõ ràng là sơ Fenella đã phải tin tưởng ngay từ đầu nên mới để ông ấy ôm cô bé. Ban đầu cháu còn không thể tin nổi.” “Ông ấy có vẻ rất có sức thuyết phục. Cô dám chắc là cháu đã làm một điều đúng đắn.” “Ông ấy còn biết cách chèo xuồng rất thành thạo nữa.” “Cháu có nghĩ kẻ thù lần này của ông ấy cũng là những kẻ đã cố gắng đem Lyra đi khỏi tu viện không? Cái Toà án Bảo trợ hay

gì gì đó?” “Văn phòng Bảo trợ Trẻ em ạ. Cháu không nghĩ vậy. Cháu cứ nghĩ ông ấy sẽ tự mình đem Lyra đi để bảo vệ cô bé an toàn khỏi những người kia, nhưng hẳn ông ấy cho rằng cô bé sẽ được an toàn ở nơi hiện tại hơn là với mình. Vậy nên chắc hẳn là ông ấy đang gặp rất nhiều nguy hiểm. Cháu hi vọng La Belle Sauvage không bị đạn bắn thủng lỗ chỗ.” “Cô dám chắc là ông ấy sẽ chăm sóc con thuyền. Còn giờ, mấy cuốn sách mới thì sao nhỉ?” Malcolm về nhà với một cuốn sách viết về các hình ảnh biểu tượng, vì những gì Tiến sĩ Relf kể về chiếc Chân Kế đã khiến cậu rất thích thú, và một cuốn sách có tên Con đường tơ lụa. Vì một lí do nào đó, cậu đã nghĩ rằng đó sẽ là một cuốn truyện trinh thám giết người, nhưng hoá ra đó lại là một sự mô tả chân thật, bởi một nhà du hành hiện đại, về những tuyến đường thương mại xuyên qua Trung Á từ Tartary cho tới Levant. Khi về tới nhà, cậu đã phải tìm những nơi này trong tập bản đồ của mình, và sớm nhận ra rằng cậu cần một tập bản đồ chi tiết hơn. “Mẹ, con có thể có một tập bản đồ lớn cho sinh nhật của mình không?” “Con muốn cái đó làm gì vậy?” Bà đang rán khoai tây còn cậu đang ăn bánh pudding gạo. Đó là một đêm bận rộn, họ sẽ sớm cần cậu giúp trong quán. “Thì, để tìm mấy thứ ạ, ” cậu đáp. “Mẹ cũng đoán vậy” bà nói. “Mẹ sẽ nói với ba con về chuyện này. Nào, ăn nốt đi.” Căn bếp nghi ngút hơi nước và ồn ã dường như đối với Malcolm lại là nơi an toàn nhất trên thế giới. Trước đây an toàn chưa bao giờ là một thứ cần phải nghĩ tới, đó là một thứ người ta không coi trọng, giống như những món ăn hào phóng, dễ dàng, bất tận của mẹ cậu, và sự thật rằng sẽ luôn luôn có bếp điện sẵn sàng để hâm nóng thức ăn. Vì vậy, cậu biết rằng mình đang được an toàn, rằng Lyra đang an toàn trong tu viện, và Ngài Asriel cũng an toàn vì ông đã trốn

thoát khỏi những kẻ săn đuổi mình, nhưng dù có vậy đi nữa thì nguy hiểm vẫn đang rình rập khắp nơi. Ngày hôm sau là Chủ Nhật, mưa trút xuống dữ dội hơn bao giờ hết. Hannah Relf đi kiểm tra số bao cát đang bảo vệ cửa chính nhà mình, rồi đi tới cuối phố để xem mực nước dưới kênh đã dâng lên bao nhiêu. Cô hoảng hốt khi thấy rằng phía bên kia con kênh, toàn bộ dải đất có tên Port Meadow, hàng mẫu đất trải rộng, lại trở nên vô hình dưới một miền nước hoang tàn xám xịt bị mưa gió càn quét. Cơn gió tạo ra cho nó vẻ ngoài đang chảy, dù cô biết rằng điều đó là không thể: một khối nước khổng lồ tuôn chảy không khoan nhượng về phía những ngôi nhà và các cơ sở kinh doanh của Jericho phía sau cô. Cứ đứng mà nhìn lâu chỉ khiến cô cảm thấy ảm đạm và buồn phiền, hơn nữa, mưa lại đang nặng hạt, lạnh buốt đến thấu xương, vậy nên cô quay người đi, định bụng đóng cửa lại, cho một khúc củi nữa vào lò rồi ngồi đọc những bài nghiên cứu của mình cùng một cốc cà phê. Nhưng có một chiếc xe tải đang đỗ bên ngoài căn nhà của cô, một chiếc xe không được đánh dấu nhưng lại toả ra tính ‘chính quyền” từ mọi đường nét trên thân xe kim loại màu xám không có cửa sổ. “Cứ đi qua đi,” linh thú của cô nói. “Cứ bước thật tự nhiên rồi tiếp tục đi qua.” “Họ đang làm cái gì vậy?” Cô thì thào. “Gõ cửa. Đừng nhìn.” Cô cố gắng duy trì tốc độ đều đặn. Cô chẳng có gì để phải sợ cảnh sát, hay bất cứ cơ quan nào khác, chỉ trừ việc cũng giống như mọi công dân khác, cô có mọi thứ để mà phải sợ. Họ có thể nhốt cô lại mà chẳng cần lệnh bắt và giữ cô ở đó dù không có lời buộc tội nào; luật đình quyền giam giữ cũ đã bị gạt sang một bên, với rất ít chống đối từ những quan chức trong Nghị viện, những người đáng ra phải chăm lo cho quyền tự do của Anh Quốc, và giờ thì người ta nghe được những câu chuyện về các vụ

bắt bớ trong bí mật và tống giam mà không xét xử, và sẽ chẳng có cách nào tìm hiểu được xem những lời đồn đó có thật hay không. Mối liên kết của cô với Phố Oakley sẽ chẳng giúp ích được gì; trên thực tế, nếu có ai phát hiện ra điều đó thì mọi việc có thể sẽ chỉ tồi tệ đi. Những tổ chức và thế lực nửa ẩn mình này đang cạnh tranh nhau gay gắt. Nhưng cô không thể cứ đi lang thang trong mưa suốt cả buổi chiều được. Như thế thật là ngớ ngẩn. Hơn nữa, cô có bạn bè mà... Cô là một thành viên rất được coi trọng của một trường đại học lớn thuộc Oxford. Người ta sẽ nhớ đến cô, các nghi vấn sẽ được đặt ra, cô biết những luật sư có thể cứu thoát cô khỏi bất kì xà lim nào chỉ trong vòng vài giờ. Cô quay lại rồi tiến thẳng tới nhà mình. Vừa lội bì bõm qua mặt nước đã cao vài phân trên vỉa hè, cô vừa gọi lớn khi đã tới đủ gần: “Tôi có giúp gì được không? Các ông cần gì?” Người đàn ông đang gõ cửa quay lại nhìn. Cô đứng ở cổng vào, cố gắng tỏ ra mình không hề sợ hãi. “Đây là nhà của bà sao, thưa bà?” “Phải. Các ông cần gì?” “Chúng tôi tới từ Hội Bảo vệ Môi trường, thưa bà. Chúng tôi chỉ đi gọi cửa tất cả các nhà trên con phố này và các phố khác để xem mọi người có gặp vấn đề gì không, phòng trường hợp chúng ta bị lụt.” Người đang trả lời là một người đàn ông trạc tứ tuần, linh thú của ông là một con chim cổ đỏ có vẻ tã tượi. Người còn lại trông trẻ hơn. Linh thú của anh ta là một con rái cá, nó đang đứng trên đống bao cát bên ngoài cửa nhà Hannah. Khi Hannah lên tiếng, con linh thú liền lao về phía người thanh niên, và anh ta bế nó lên. “Tôi...” Hannah bắt đầu. “Các bao cát này đang bị bục, thưa bà, ” người thanh niên nói. “Nước sẽ ngấm vào được ở góc dưới kia.” “Ồ. Cảm ơn đã cho tôi biết.”

“Phía sau ổn cả chứ?” Người còn lại hỏi. “Vâng, đằng đó cũng được chất bao cát rồi.” “Bà có phiền nếu chúng tôi xem xét một chút không?” “Không sao, tôi không phiền... Xin hãy vòng theo đường này.” Cô dẫn họ men theo khoảng trống hẹp giữa nhà của mình và tường rào của nhà hàng xóm, rồi đứng lại phía sau khi họ kiểm tra đống bao cát dưới chân cửa hậu. Trong lúc người trẻ hơn xem xét khe hở giữa cánh cửa và khung cửa, người đàn ông lớn tuổi hơn nói, chỉ vào nhà bên cạnh: “Cô có biết ai sống ở đó không?” Giờ thì lại là cô à, Hannah thầm nghĩ. “Một người đàn ông tên Hopkins, ” cô đáp. “Ông ấy khá già rồi. Tôi nghĩ ông ấy đã đến ở cùng với con gái.” Ông ta nhòm qua hàng rào. Căn nhà tối đen và lặng thinh. “Không có bao cát ở đó, ” ông nói. “Charlie, chúng ta nên đặt một vài bao ở đây, trước và sau.” “Đồng ý, ” Charlie đáp. “Vậy là sắp có lũ à?” Hannah hỏi. “Chẳng có cách nào đoán được đâu, thật đấy. Dự báo thời tiết...” Ông nhún vai. “Tốt hơn hết là phải sẵn sàng, tôi luôn nghĩ như vậy.” “Đúng vậy, ” cô nói. “Cảm ơn các vị đã đến kiểm tra.” “Không có gì, thưa cô. Tạm biệt.” Họ ì oạp lái xe đi. Hannah kéo rồi đẩy rồi đá cái góc mà họ nói đang bị rỉ nước, để phân bố lại lượng cát, sau đó đi vào nhà và khoá cửa lại. Malcolm háo hức muốn được nói chuyện với sơ Fenella và hỏi bà xem Ngài Asriel đã nói gì với bà vào buổi đêm;,nhưng bà một mực từ chối nói về chuyện đó khi cậu ghé qua vào ngày thứ Năm sau giờ học.

“Nếu cháu muốn giúp thì đi gọt táo đi,” là tất cả những gì bà nói. Cậu chưa từng thấy bà sơ già tỏ ra ương ngạnh đến vậy. Bà thậm chí còn không công nhận những câu hỏi của Malcolm. Cuối cùng, cậu cảm thấy như mình đang tỏ ra vô lễ, và cũng thấy rằng đáng ra mình nên nhận thấy điều đó từ đầu, vì vậy cậu đã giữ yên lặng trong lúc gọt vỏ và tách lõi số táo Bramley, quả nào cũng méo mó và đầy vết thâm. Các sơ bán những mẫu ngon lành nhất và giữ lại những quả kém hoàn hảo hơn để ăn, mặc dù Malcolm nghĩ rằng bánh của sơ Fenella có vị khá ngon kể cả táo trông có thế nào đi nữa. Bà thường dành lại một lát nhỏ cho cậu. Khi thời gian trôi qua đã đủ dài, cậu cất tiếng: “Không biết ông Boatwright đang làm gì, sơ nhỉ.” “Nếu người ta chưa bắt được ông ấy ta đoán là ông ấy đang trốn trong rừng,” sơ Fenella đáp. “Có khi ông ấy đang cải trang.” “Cháu nghĩ ông ấy sẽ cải trang thành gì?” “Thành một... Cháu không biết nữa. Linh thú của ông ấy cũng sẽ phải được cải trang nữa.” “Với trẻ con sẽ dễ dàng hơn nhiều, ” linh thú sóc của sơ Fenella nhận xét. “Khi còn nhỏ, hai người đã chơi những trò chơi kiểu gì vậy?” Malcolm hỏi. “Trò chơi yêu thích của chúng ta là Vua Arthur, ” bà lão đáp, đặt trục cán bột xuống. “Chơi như thế nào ạ?” “Kéo thanh gươm ra khỏi tảng đá. Cháu nhớ không, không ai khác có thể kéo được nó ra, ngài ấy không hề biết rằng việc đó là bất khả thi nên cứ thế đặt tay lên cán, và nó tuột ra...” Bà lấy một con dao sạch ra từ ngăn kéo rồi sục nó vào tảng bột lớn vẫn chưa được nhào.

“Đó, giờ thì cháu sẽ giả bộ như không thể lôi được nó ra, ” bà nói, rồi Malcolm bắt đầu đóng một vở kịch câm ra vẻ gắng sức hết mình, người căng ra, miệng gầm gừ, răng nghiến ken két và giật mạnh con dao mà chẳng hề làm nó suy chuyển. Asta cũng tham gia, ráng sức kéo cổ tay trong hình dạng khỉ. “Và rồi cậu bé Arthur trở về để lấy thanh gươm của anh mình...” Linh thú của sơ Fenella nói. “Cậu thấy thanh gươm bị cắm trong tảng đá và nghĩ, Ồ, mình sẽ lấy cái đó, ” sơ Fenella nói, rồi con linh thú của bà chốt lại: “Cậu đặt tay lên chuôi gươm và nó cứ thế tuột ra!” Sơ Fenella kéo con dao ra rồi vung vẩy nó trong không khí. “Arthur đã trở thành vua như vậy đấy, ” bà nói. Malcolm cười phá lên. Nét mặt bà đang co lại thành một thứ mà bà cho rằng là một cái chau mày oai nghiêm, con linh thú sóc chạy lên cánh tay rồi ngồi lên vai bà với vẻ đắc thắng. “Sơ vẫn luôn là Vua Arthur ạ?” Malcolm hỏi. “Không. Ta luôn muốn được đóng vai đó. Thông thường ta là một địa chủ hoặc một kẻ hèn mọn nào đó.” “Nhưng chúng ta cũng tự chơi với nhau nữa, ” linh thú của bà bảo. “Khi đó thì lúc nào cũng được đóng vai Vua Arthur.” “Phải, lúc nào cũng vậy, ” bà nói rồi lau sạch con dao và đặt nó trở lại ngăn kéo. “Các cháu thì chơi trò gì hả Malcolm?” “À, cháu đoán là những trò thám hiểm ạ. Khám phá ra những nền văn minh đã mất hay kiểu như thế.” “Ngược dòng Amazon bằng xuồng của cháu sao?” “Ờ - vâng. Dạng như vậy ạ.” “Dạo này thuyền của cháu thế nào rồi? Nó sống sót qua khỏi mùa đông chứ?” “À... Cháu cho Ngài Asriel mượn rồi. Khi ông ấy tới gặp Lyra.” Lúc đó bà không nói gì và quay lại cán bột. Rồi bà bảo: “Chắc chắn là ông ấy rất biết ơn đó.” Nhưng giọng bà gần như chưa bao giờ gay gắt đến thế.

Sau khi cả hai rời khỏi nhà bếp, Asta nói: “Sơ ấy đang xấu hổ. Sơ thấy ngượng vì biết mình đã làm một việc sai trái.” “Không biết sơ Benedicta có phát hiện ra không.” “Sơ ấy có thể sẽ cấm sơ Fenella không bao giờ được chăm sóc Lyra nữa.” “Có lẽ. Nhưng có thể sơ ấy vẫn chưa phát hiện ra.” “Sơ Fenella sẽ thú nhận thôi.” “Phải,” Malcolm đồng tình. “Có lẽ vậy.” Chúng không ngó vào xưởng của ông Taphouse vì ở đó tối um. Có lẽ ông ấy đã về nhà sớm. “Không, đợi đã, ” Asta đột ngột kêu lên. “Có ai đó ở đằng kia.” Lúc đó trời đã nhá nhem tối, bầu trời xám xịt sũng nước mưa đánh dấu sự khởi đầu của bóng tối sâu thẳm nhất vào một tiếng trước khi thật sự đến giờ. Malcolm dừng lại trên con đường dẫn tới cầu và nhòm ngược trở về căn xưởng tối đen. “Đâu cơ?” Cậu thì thầm. “Vòng ra phía sau. Tớ thấy một cái bóng...” “Bóng ở khắp nơi mà.” “Không, dạng như một người đàn ông ấy...” Chúng đang đứng cách xưởng chừng một trăm mét. Lối đi rải sỏi nằm trần trụi và rõ mồn một trong ánh chạng vạng nhợt nhạt và những tia sáng vàng le lói từ cửa sổ tu viện. Mọi thứ đều bất động. Rồi, xuất hiện từ sau nhà xưởng, lảo đảo trên những cái chân, một hình dạng có kích cỡ của một con chó bự, nhưng đôi vai lại còng queo, nặng nề, nó đứng đó nhìn thẳng vào chúng. “Đó là một con linh thú, ” Asta hít thở. “Chó à? Nhưng cái gì...” “Không phải chó. Đó là một con linh cẩu.” “Và nó có... có chỉ có ba chân thôi.” Con linh cẩu không nhúc nhích, nhưng phía sau nó, dáng dấp của một người đàn ông đang tự tách mình khỏi bóng tối của toà nhà. Ông ta nhìn thẳng vào Malcolm, dù cho Malcolm hoàn

g g toàn không thể nhìn thấy mặt ông ta, rồi sau đó lại nhập trở lại bóng tối. Nhưng linh thú của ông ta vẫn ở nguyên vị trí, sau đó nó dạng hai chân sau rồi tè ngay giữa lối đi. Gương mặt với bộ hàm nặng nề của nó bất động trong lúc nó nhìn Malcolm chằm chằm, tất cả những gì cậu có thể thấy ở nó là hai đốm phản chiếu nơi mắt nó bắt sáng. Nó lảo đảo tiến tới một bước, dồn trọng lượng lên cái chân trước, rồi nhìn Malcolm thêm một lúc nữa trước khi quay đầu và vụng về nhảy lò cò trở lại bóng đêm. Sự kiện nhỏ này đã gây chấn động đáng kể đến Malcolm. Cậu chưa từng thấy một linh thú bị thương tật nào, hay một con linh cẩu, hay cảm nhận một luồng sóng ác ý cuồn cuộn đến vậy. Thế nhưng... “Chúng ta phải...” Asta nói. “Tớ biết rồi. Biến thành cú đi.” Asta lập tức biến hình rồi ngồi lên vai cậu, chăm chú nhìn vào hình dạng đen ngòm của nhà xưởng. “Không thấy họ, ” nó thì thầm. “Đừng có rời mắt khỏi cái bóng đó đấy...” Cậu lùi ngược lại theo lối đi, hay đúng hơn là theo bãi cỏ bên cạnh lớp sỏi, và tới cửa nhà bếp, cậu dò dẫm tìm tay nắm cửa và suýt nữa thì ngã nhào vào trong. “Malcolm,” sơ Fenella thốt lên. “Cháu quên thứ gì à?” “Chỉ là một việc cháu cần nói với sơ Benedicta thôi. Sơ có ở trong văn phòng không ạ?” “Ta nghĩ là có, cháu yêu ạ. Mọi chuyện ổn cả chứ?” “Vâng, vâng,” Malcolm nói trong lúc vội vã chạy tới hành lang. Mùi sơn vẫn còn phảng phất gần phòng ngủ của Lyra. Cậu gõ lên cửa phòng của sơ Benedicta. “Mời vào, ” bà nói, rồi chớp mắt kinh ngạc khi thấy cậu bé. “Sao vậy, Malcolm?” “Cháu đã thấy - cháu vừa mới - bọn cháu đang định về qua xưởng của ông Taphouse thì thấy một người đàn ông - linh thú

của ông ta là một con linh cẩu có ba chân - và họ...” “Chậm lại nào, ” bà nói. “Cháu có thấy rõ họ không?” “Chỉ con linh thú thôi ạ. Nó - nó có ba chân, và nó... Cháu không nghĩ là họ nên ở đó, nên - ý cháu là cháu nghĩ sơ cần phải biết, để có thể kiểm tra chắc chắn hơn là tất cả các cửa chớp đều được khoá kĩ.” Cậu không thể nói với bà việc con linh cẩu đã làm. Kể cả có tìm được từ phù hợp thì cậu cũng sẽ chẳng thể diễn tả nổi sự khinh miệt và căm hờn trong hành động đó. Nó khiến cậu cảm thấy bị vấy bẩn và coi thường. Bà hẳn là nhận ra phần nào của điều đó trên gương mặt cậu, bởi vì bà đã đặt bút xuống rồi đứng dậy đặt một tay lên vai cậu. Cậu không hề có kí ức về việc từng được bà chạm vào. “Vậy mà cháu vẫn tới cảnh báo cho chúng ta. Malcolm à, đó là một hành động tuyệt vời. Giờ thì đi thôi, phải đảm bảo là cháu về nhà an toàn.” “Sơ không được đi cùng cháu đâu đấy!” “Cháu không muốn ta làm thế sao? Được rồi, ta sẽ dõi theo cháu từ cửa ra vào. Cháu thấy thế nào?” “Sơ phải cẩn thận đó! Hắn - cháu không biết phải nói thế nào - sơ đã từng nghe nói tới một người có linh thú như thế bao giờ chưa?” “Người ta nghe được đủ thứ chuyện mà. Vấn đề là khi nào thì chúng trở nên quan trọng. Theo ta nào.” “Cháu không muốn khiến sơ Fenella hoảng sợ.” “Cháu thật tử tế.” “Lyra có...” “Nó đang ngủ. Mai cháu có thể gặp cô bé. Và nó được an toàn tuyệt đối sau lớp cửa chớp của ông Taphouse.” Họ đi qua nhà bếp, nơi sơ Fenella bối rối nhìn họ, rồi sơ Benedicta bước tới cửa. “Cháu có muốn một cái đèn lồng không, Malcolm?” Ồ

“Ồ không, cảm ơn sơ, thật đấy. Có đủ ánh sáng mà... hơn nữa Asta có thể biến thành cú.” “Ta sẽ đợi cho đến khi cháu lên tới cầu.” “Cảm ơn sơ. Chúc sơ ngủ ngon. Sơ nên khoá tất cả các cửa lại nhé.” “Ta sẽ làm vậy. Ngủ ngon, Malcolm.” Thực tế bà có thể làm gì nếu gã đàn ông nhảy ra tấn công cậu thì Malcolm không biết được, nhưng cậu cảm thấy được bảo vệ nhờ sự chú tâm của bà sơ, và cậu biết rằng bà sẽ không rời mắt khỏi mình cho tới khi cậu lên tới cầu. Khi tới nơi, cậu quay lại vẫy tay. Sơ Benedicta vẫy chào lại, rồi bước vào trong và đóng cửa. Malcolm chạy về nhà với Asta bay phía trước mặt. Cả hai bổ nhào vào nhà bếp. “Vừa kịp lúc đó, ” mẹ cậu nói. “Ba đâu rồi ạ?” “Trên mái nhà, gửi tín hiệu đến Sao Hoả. Con nghĩ là ở đâu được chứ?” Malcolm chạy vào quán nhậu rồi đứng chết lặng. Đang ngồi trên ghế đẩu với khuỷu tay chống lên quầy là một người đàn ông mà cậu chưa từng gặp mặt, nằm dưới chân ông ta là một con linh thú linh cẩu với độc một chân trước. Người đàn ông đang nói chuyện với cha của Malcolm. Ở đó còn có nửa tá tửu khách khác, nhưng không có ai ngồi gần đó cả; trên thực tế, hai người đàn ông lúc nào cũng đứng cạnh quầy bar giờ lại ngồi ở bàn trong góc phía xa, những người còn lại cũng ở quanh đó, cứ như thể họ muốn cách khỏi người lạ kia càng xa càng tốt vậy. Malcolm hiểu ra điều này ngay lập tức, rồi cậu thấy biểu hiện trên gương mặt cha mình. Kẻ lạ mặt đang nhìn Malcolm, phía sau hắn, cha cậu đang nhìn xuống với sự căm ghét đầy bất lực và mệt mỏi. Khi kẻ lạ mặt quay lại, ông Polstead ngẩng đầu lên và cố nặn ra một nụ cười rạng rỡ.

“Con đã ở đâu vậy Malcolm?” Ông hỏi. “Vẫn chỗ mọi khi ạ, ” Malcolm lẩm bẩm rồi quay đi. Con linh thú linh cẩu lạch cạch bộ hàm, những cái răng lớn nhọn hoắt vàng ệch trong một cái đầu nhỏ thó. Trông nó xấu xí đến kinh ngạc. Dù kẻ nào đã lấy mất cái chân trước bên phải của nó thì hẳn sẽ phải chịu đau đớn vì điều đó nếu bị những cái răng kia cắm vào da thịt. Malcolm bước tới dãy bàn bên kia căn phòng. “Cháu có thể lấy gì được cho các quý ông đây?” Cậu nói, ý thức được rằng giọng mình đang hơi run run khi nó rơi vào căn phòng lặng như tờ. Cậu nhận gọi đồ cho hai ly bia nữa, nhưng trước khi cậu có thể đi, một trong các vị khách đã bí mật nắm lấy tay áo của cậu. “Nhớ lưu ý hắn đấy, ” một tiếng thì thầm phát ra từ chiếc bàn. “Cẩn thận với gã đàn ông đó.” Rồi người đàn ông thả tay ra và Malcolm cầm lô cốc tới đầu bên kia của quán nhậu. Asta, đương nhiên, không hề nhìn vào thứ gì khác, mà trong lúc ở dạng một con bọ rùa thì hướng nhìn của nó cũng không bị lộ liễu. “Con sẽ đi kiểm tra phòng Ban Công,” Malcolm nói với cha cậu, ông khẽ gật đầu. Chẳng có ai trong phòng Ban Công cả, nhưng có hai chiếc cốc rỗng trên bàn. Cậu cầm chúng lên rồi thì thầm với Asta: “Trông ông ta như thế nào?” “Thật ra, ông ta khá là thân thiện và có vẻ hào hứng, như thể đang lắng nghe khi được kể cho nghe điều mình muốn biết vậy. Ở ông ta không có vẻ gì thật sự bất ổn. Chỉ là con linh thú...” “Họ là một mà, không phải sao? Như chúng ta vậy!” “Ừ, đương nhiên, nhưng...” Một vài chiếc cốc rỗng đang nằm rải rác ở những chỗ khác quanh quán trọ, Malcolm chậm rãi thu thập chúng. “Ở đây gần như chẳng có ai cả, ” cậu nói với Asta.

“Vậy thì chúng ta sẽ không phải ở lại quán nhậu đâu. Lên gác viết lại việc này đi. Việc cần kể với Tiến sĩ Relf ấy.” Cậu cầm lô cốc vào bếp rồi bắt đầu rửa. “Mẹ, ” cậu bảo, “có một người đàn ông trong quán...” Rồi Malcolm kể với bà chuyện đã xảy ra khi cậu rời khỏi tu viện, một lần nữa lại bỏ qua việc mà con linh thú đã làm trên lối đi. “Và giờ thì ông ta đang ở đây! Trông ba có vẻ ngán ngẩm lắm rồi. Chẳng có ai khác muốn lại gần ông ta cả.” “Con đã đi báo cáo với sơ Benedicta chưa? Bà ấy sẽ đảm bảo là tất cả cửa nẻo sẽ được đóng cẩn thận.” “Nhưng ông ta là ai chứ? Ông ta đang làm gì?” “Ai mà biết được. Nếu con không thích dáng vẻ của ông ta thì đừng có lại gần.” Đó là vấn đề với mẹ của cậu: Bà đánh đồng lời chỉ đạo với lời giải thích. Chà, cậu sẽ phải hỏi cha sau vậy. “Tối nay gần như chẳng có ai đến cả, ” cậu nói. “Cả Alice cũng không nữa.” “Mẹ đã bảo nó không cần phải ở lại vì quán vắng quá. Người đàn ông đó mà thường xuyên đến đây thì tối nào cũng như thế này mất. Ba con sẽ phải bảo ông ta đừng đến.” “Nhưng tại sao...” “Không sao trăng gì cả. Có bài tập về nhà không?” “Vài bài hình học ạ.” “Thế thì, con nên ăn luôn bây giờ rồi giải quyết chúng đi.” Bữa chiều là món pho mát súp lơ. Asta đứng trên bàn trong dạng sóc và đùa nghịch với một quả hạch. Malcolm ăn vội ăn vàng và bị bỏng mồm, cậu phải làm dịu bằng một miếng bánh mận mát lạnh với kem. Những chiếc cốc cậu rửa đã khô nước nên trước khi lên lầu, cậu mang chúng trở lại quán. Có thêm vài người đã vào quán, nhưng người đàn ông với con linh thú linh cẩu vẫn đang ngồi trên chiếc ghế bên quầy của mình, còn những người mới đến thì ngồi ở đầu bên kia, phớt lờ ông ta.

“Mọi người dường như đều biết về ông ta, ” Asta lẩm bẩm. “Chỉ trừ chúng ta.” Con linh thú linh cẩu vẫn không nhúc nhích. Nó nằm đó gặm nhấm và liếm láp cái gốc chân bị cụt mất, người đàn ông ngồi yên, một bên khuỷu tay chống lên quầy, mắt nhìn quanh với một vẻ quan tâm đầy hoà nhã và thấu hiểu. Rồi một chuyện đáng kinh ngạc đã xảy ra. Malcolm chắc chắn rằng không có ai khác đang nhìn; cha cậu đang tán dóc với đám người mới ở đầu bên kia quán nhậu, còn những người ngồi ở các bàn đang chơi domino. Sốt ruột vì tò mò, Malcolm không thể ngăn mình nhìn sang người đàn ông, và ông ta đáp lại bằng một cái nhìn trực diện. Ông ta ở khoảng tứ tuần, Malcolm nghĩ, có mái tóc đen và đôi mắt nâu sáng, tất cả những đường nét của ông ta đều rất rõ ràng và dễ thấy như thể ông ta là một tấm ảnh được chiếu sáng rực rỡ vậy. Quần áo ông ta mặc là loại một nhà du hành có thể sẽ mặc, ông ta có thể cũng đẹp trai, chỉ có điều từ ông ta toát ra một sức mạnh và sự ranh mãnh dữ dội tới mức từ đó không còn hợp lí nữa. Malcolm không thể ngăn mình có thiện cảm với ông ta. Người đàn ông thấy cậu nhìn mình liền mỉm cười và nháy mắt. Đó là một nụ cười ấm áp và thể hiện sự đồng loã. Nó dường như muốn nói: “Chúng ta biết vài chuyện, hai chúng ta...” ám chỉ ông ta và Malcolm. Có một vẻ hiểu biết trong biểu cảm của ông ta, và cả sự thích thú nữa. Nó mời gọi Malcolm vào một mối thông đồng nho nhỏ chống lại

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 44

Đang tải bình luận...