phần lớn cuốn đó.” “Cháu đã hiểu được điều gì?” “Rằng... sự vật có thể hàm chứa ý nghĩa của vật khác.” “Đó là điểm mấu chốt. Khá lắm. Còn lại là phụ thuộc vào chi tiết. Không ai có thể nhớ hết được tất cả các ý nghĩa của những hình ảnh trên Chân Kế, vậy nên chúng ta cần đến những cuốn sách để có thể đọc được nó.”
“Nó giống như một ngôn ngữ bí mật ấy nhỉ.” “Phải.” “Có ai đó đã tạo ra nó ạ? Hay...” “Hay họ đã khám phá ra nó? Đó có phải điều cháu định nói không?” “Vâng, đúng ạ, ” cậu nói, hơi ngạc nhiên. “Là cái nào vậy ạ?” “Việc đó không dễ dàng vậy đâu. Hãy cùng suy nghĩ một ví dụ khác - một thứ khác. Cháu có biết định lí Pythagoras không?” “Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh bên.” “Chính xác là vậy. Vậy nó áp dụng đúng được với mọi ví dụ mà cháu đã thử chứ?” “Vâng.” “Nó có đúng trước khi Pythagoras nhận ra điều đó không?” Malcolm ngẫm nghĩ. “Có ạ” cậu đáp. “Chắc chắn phải như thế.” “Vậy là ông ấy không sáng tạo ra nó. Ông ấy đã khám phá ra.” “Vâng.” “Tốt. Giờ thì lấy một biểu tượng của Chân Kế nhé. Ví dụ là lấy cái tổ đang được bầy ong vây lấy. Một trong những ý nghĩa của nó là sự ngọt ngào, một ý nghĩa khác là ánh sáng. Cháu có hiểu được lí do không?” “Mật ong thể hiện sự ngọt ngào. Còn...” “Nến được làm từ gì?” “Sáp! Sáp ong!” “Đúng vậy. Chúng ta không biết được ai đã nhận ra những ý nghĩa đó đầu tiên, nhưng liệu sự tương đồng, mối liên kết, có tồn tại trước khi người ta nhận ra nó, hay là không tồn tại cho tới lúc đó? Liệu họ đã phát minh ra nó hay khám phá ra?” Malcolm vắt óc suy nghĩ. “Cái này không giống lắm, ” cậu chậm rãi nói. “Vì ta có thể chứng minh định lí Pythagoras. Nên ta biết rằng nó chắc chắn là đúng. Nhưng chẳng có gì chứng minh được cái tổ ong cả. Ta có thể thấy được mối tương quan, nhưng không thể chứng minh...”
“Được rồi, xét thế này đi. Giả sử một người chế tạo ra Chân Kế đang tìm kiếm một biểu tượng để thể hiện các ý tưởng về sự ngọt ngào và ánh sáng. Họ có thể cứ chọn cái gì cũng được không? Liệu họ có thể chọn một thanh kiếm, ví dụ vậy, hay một con cá heo không?” Malcolm cố gắng phân tích. “Không hoàn toàn, ” cậu nói. “Ta có thể vòng vo đủ kiểu để buộc chúng trở nên tương đồng, nhưng...” “Đúng vậy. Ở đây có một sự liên kết tự nhiên với tổ ong, nhưng không có với hai thứ còn lại.” “Vâng. Đúng vậy.” “Vậy là nó được phát minh hay được tìm ra?” Malcolm lại vắt óc suy nghĩ, rồi cậu mỉm cười. “Được tìm ra ạ, ” cậu đáp. “Được rồi. Giờ thì thử cái này đi. Cháu có thể tưởng tượng ra một thế giới khác không?” “Cháu nghĩ là có.” “Một thế giới nơi Pythagoras chưa bao giờ tồn tại?” “Vâng.” “Liệu định luật của ông ấy có đúng với nơi đó không?” “Có ạ. Nó sẽ đúng ở mọi nơi.” “Giờ hãy tưởng tượng rằng thế giới đó có những con người như chúng ta, nhưng không có ong. Họ sẽ có trải nghiệm về sự ngọt ngào và ánh sáng, nhưng làm sao họ biểu tượng hoá được chúng đây?” “À, họ... họ sẽ tìm ra những thứ khác. Có thể là đường cho sự ngọt ngào và một thứ nữa, có thể là mặt trời, cho ánh sáng.” “Giờ hãy tưởng tượng một thế giới khác, lại là một cái hoàn toàn khác, nơi chỉ có ong chứ không có con người. Liệu có còn mối liên kết giữa tổ ong với sự ngọt ngào và ánh sáng không?” “À, mối liên kết đó sẽ ở... đây, trong tâm trí của chúng ta. Nhưng không ở đó. Nếu có thể nghĩ về thế giới khác đó, chúng ta
có thể thấy được mối liên kết, kể cả ở đó chẳng có ai để nhìn thấy nó cả.” “Giỏi lắm. Bây giờ chúng ta vẫn không thể nói được liệu thứ ngôn ngữ mà cháu nói đến, ngôn ngữ của các biểu tượng, chắc chắn là được phát minh hay chắc chắn được khám phá ra, nhưng có vẻ như nó thiên về...” “Thiên về việc được khám phá ra, ” Malcolm nói. “Nhưng nó vẫn không giống với định lí Pythagoras. Ta không thể chứng minh được nó. Nó phụ thuộc vào... vào...” “Ừ?” “Nó phụ thuộc vào việc con người có ở đó để nhìn thấy được nó. Định lí thì không cần.” “Đúng thế!” “Nhưng nó cũng một phần được phát minh ra nữa. Nếu không có người nào để nhìn thấy, nó sẽ chỉ... Nó có khi còn không hề tồn tại ở đó luôn. Nên nó na ná như lí thuyết lượng tử, nơi mà một thứ sẽ không xảy ra cho tới khi ta nhìn thấy nó. Chúng ta đang tự làm lẫn lộn mọi thứ rồi.” Cậu ngồi xuống, cảm thấy hơi choáng váng. Căn phòng thân thuộc của cô thật ấm áp, chiếc ghế thật dễ chịu, đĩa bánh quy lại ngay trong tầm tay. Nếu căn bếp của mẹ là nơi cậu cảm thấy an toàn thì căn phòng nhỏ này lại là nơi cậu thấy được thế giới rộng lớn đến nhường nào. Và cậu biết mình sẽ không bao giờ nói điều đó với bất cứ ai ngoài Asta. “Cháu sắp phải đi rồi,” cậu nói. “Cháu đã làm việc rất chăm chỉ.” “Đó là công việc sao?” “Phải, cô nghĩ vậy. Cháu không thấy thế sao?” “Cháu nghĩ là có. Cháu có thể xem Chân Kế được không ạ?” “Cô e nó buộc phải ở trong thư viện. Bọn cô chỉ có đúng một thiết bị đó. Nhưng đây là một bức ảnh mà cháu có thể lấy.” Cô lấy một tờ giấy gập từ trong ngăn kéo tủ đồ ra rồi đưa cho cậu. Khi mở nó ra, cậu thấy sơ đồ của một hình tròn lớn với ba
mươi sáu ô chạy quanh viền. Cậu thấy trong mỗi ô trống nhỏ là một hình ảnh: con kiến, cái cây, mỏ neo, đồng hồ cát... “Có tổ ong kìa, ” cậu nói. “Giữ lấy nó đi,” Hannah nói với cậu. “Cô đã dùng nó