Buồng Khử

phần mười âm thanh thông thường. Nhưng thiết bị này

phần mười âm thanh thông thường. Nhưng thiết bị này

phần mười âm thanh thông thường. Nhưng thiết bị này chỉ dùng được trong khoảng thời gian ngắn, bởi vì nó có khuynh hướng làm động cơ nóng nhanh, gây mất nguồn điện, một điều rất nguy hiểm trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên, lúc này bầu trời quang đãng và hầu như không có cơn gió nào gây trở ngại cho máy bay. Năm phút sau, hắn hướng chiếc 397 đến tọa độ cách căn nhà trú ẩn khoảng 460 mét theo tung độ và 800 mét theo hoành độ, nơi al￾Barani Rashid hiện đang lên kế hoạch hay thậm chí đang chế tạo quả bom của mình. “Đang ở chế độ bay lơ lửng.” Vuốt ve cần điều khiển. Shales sơn một lớp laze lên căn nhà trú ẩn, mục tiêu. “Xin xác nhận tọa độ.” Kinh độ và vĩ độ của mục tiêu mà hắn vừa báo cáo sẽ được khớp với kinh độ và vĩ độ của các số liệu tọa độ thu thập được về mục tiêu, được lưu trong máy tính trung tâm của NIOS - chỉ để đảm bảo chắc chắn. “Trung tâm Texas gọi Ba Chín Bảy, tọa độ địa lý đã khớp. Đã xác nhận chính là mục tiêu. PIN của anh là gì?” Shales đọc lại mười chữ số định danh cá nhân của mình để xác thực hắn là người đủ thẩm quyền bắn quả tên lửa này vào mục tiêu này.

“Nhân thân được xác định, Ba Chín Bảy. Cho phép phóng đầu đạn.” “Rõ. Ba Chín Bảy.” Hắn trượt mở nắp đậy của nút trang bị vũ khí dành cho tên lửa Hellfire rồi nhấn nút. Shales nhìn chằm chằm vào hình ảnh căn nhà trú ẩn. Tuy nhiên, hắn chưa nhấn nút phóng ngay. Mắt hắn thu vào khu vực các cửa sổ, các cửa ra vào, ống khói, những vệt bụi trên vỉa hè, một cây xương rồng. Tìm kiếm một dấu hiệu. Tìm kiếm một dấu hiệu gì đó mách bảo hắn không nên phóng kiện hàng chết người này. “Ba Chín Bảy, anh nghe rõ không? Cho phép phóng đầu đạn.” “Đã xác nhận, Trung tâm Texas. Ba Chín Bảy.” Hắn hít sâu vào. Suy nghĩ: Moreno… Rồi mở nắp thứ hai lên, để lộ nút phóng tên lửa, rồi nhấn xuống. Không có âm thanh, màn hình chỉ rung lắc nhẹ khi quả tên lửa 50 kilôgam rơi xuống từ chiếc máy bay không người lái. Một đèn xanh lục xác nhận đã phóng. Một đèn xanh khác xác nhận đã đánh lửa. “Đầu đạn đã phóng, trung tâm Texas. Ba Chín Bảy.” “Rõ.” Đáp bằng một tông giọng bình thản nhất.

Giờ thì Shales không còn làm được gì nữa, ngoại trừ nhìn căn nhà trú ẩn biến mất trong chớp lửa và lớp khói. Hắn quay sang màn hình. Rồi hắn thấy cửa sau của căn nhà mở ra và hai người tiến vào cái sân trong nằm giữa căn nhà và nhà xe. Rashid là một trong hai người đó. Một cậu nhóc đương tuổi mới lớn là người còn lại. Họ nói trong thoáng chốc rồi bắt đầu đá một trái bóng quanh sân.

70 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ Barry Shales cảm nhận cơn sửng sốt này tựa một cú đấm. Hắn nện ngón cái đến nứt móng vào cái nút đỏ chỉ dán nhãn vỏn vẹn DỪNG ở giữa bảng điều khiển vũ khí. Nút này gửi một tín hiệu làm vô hiệu đầu đạn trong quả tên lửa Hellfire. Nhưng tên lửa này vẫn còn là một khối kim loại chứa thuốc phóng chết người, tạo vệt khói ở vận tốc 1.450 kilômét/giờ về phía tòa nhà với độ chính xác tương đối. Nó có thể dễ dàng giết chết mọi người bên trong cho dù đầu đạn không phát nổ. Shales nhấn nút lái tự động cho máy bay rồi chiếm quyền điều khiển tên lửa, kiểm soát quả Hellfire bằng một con lăn nhỏ trên bảng điều khiển vũ khí. Một máy quay nằm trong mũi tên lửa, không cách xa đầu đạn có lực công phá mạnh đó, nhưng ở vận tốc này và với độ phân giải thấp của ống kính, khó có thể lái tên lửa một cách chính xác. Shales phải dựa vào ra-đa trong máy bay và một đoạn tin vô tuyến truyền từ trạm kiểm soát không lưu Mexico để lái cái xi lanh chết người đó tránh xa căn nhà trú ẩn. Hắn liếc nhìn màn hình bên phải - máy quay của máy bay, vẫn chĩa về phía hai cầu thủ bóng đá. Hắn để ý thấy Rashid chững lại, ngước lên trời nhìn. Nhíu mắt. Gã có lẽ đã nghe tiếng gì đó hay thấy một tia sáng. Cậu thiếu niên, sắp sửa đá trái bóng bụi bặm, cũng khựng lại, thận trọng nhìn gã Ả-rập.

Đằng sau họ, Barry Shales thấy một con bé xuất hiện và đứng ở ngưỡng cửa căn nhà trú ẩn. Nó đang mỉm cười. “Trung tâm Texas gọi Ba Chín Bảy, chúng tôi nhận thấy quỹ đạo đầu đạn bị chệch hướng. Xin giải thích.” Shales lờ đi đoạn tin vô tuyến và tập trung lái quả Hellfire, nhanh gấp đôi bất kỳ chiếc máy bay phản lực nào, tránh xa những khu vực đông dân trong vùng mục tiêu. Điều này không dễ. Khu vực này của Reynosa không đông đúc như phía đông nhưng vẫn còn nhiều nhà, công ty và xe cộ. Ra-đa hiện rất rõ sơ đồ vị trí các máy bay hành khách gần đó. Shales có thể lái tránh xa các máy bay này, nhưng hệ thống không tiết lộ trên mặt đất có gì - và đó mới là nơi hắn cần phải cho nổ tên lửa. Và phải làm nhanh hết sức, chẳng bao lâu nữa thuốc phóng sẽ cháy hết và hắn sẽ mất kiểm soát. “Ba Chín Bảy? Nghe rõ trả lời!” Rồi trên màn hình nhỏ trình chiếu cảnh quay từ máy quay ở mũi tên lửa, hình ảnh mờ dần khi nó hướng vào mây mù. Hắn đang lái mù. “Chúa ơi…” Những lời mà Barry Shales, người đi nhà thờ mỗi Chủ nhật cùng vợ và lũ con trai nhỏ tuổi, không bao giờ sử dụng bừa bãi. “Ba Chín Bảy, đây là trung tâm Texas. Xin chỉ dẫn.” Hắn giận dữ nghĩ: Tôi khuyên các ông đi chết mẹ đi. Sương mù tan trong thoáng chốc và hắn thấy tên lửa đang hướng trực tiếp vào một khu dân cư.

Không, không… Hắn vặn con lăn làm thay đổi quỹ đạo xa hơn về phía tây. Sương mù lại đến gần. Hắn liếc nhìn ra-đa. Địa hình được thể hiện trong bản đồ nhưng đây không phải ảnh vệ tinh, chỉ là một bản đồ truyền thống, và nó không tiết lộ manh mối nào cho biết có gì trên mặt đất phía trước quả Hellfire. Chỉ vài giây nữa là thuốc phóng cháy hết và cái ống chết người này sẽ chạm đất. Nhưng chạm ở đâu? Trong phòng ngủ một đứa trẻ, trong bệnh viện, trong tòa nhà văn phòng chật ních người? Rồi Shales nảy ra một ý. Thả con lăn điều khiển tên lửa trong chốc lát, hắn gõ nhanh vào bàn phím máy tính trước mặt. Firefox hiện lên trên màn hình thông tin nằm ở góc trên tay trái. Việc làm này sai quy trình hoàn toàn. Không được lên mạng bằng trình duyệt thương mại trong một trạm điều khiển mặt đất, vào lúc một máy bay không người lái đang hoạt động. Nhưng Shales không nghĩ ra được phương án nào khác. Trong tích tắc, hắn mở Google Maps rồi nhấp vào chế độ ảnh vệ tinh. Một ảnh chụp mặt đất quanh Reynosa hiện lên, nhà cửa, cây cối, đường sá, cửa hiệu. Nhìn qua lại giữa bảng ra-đa và bản đồ, khớp đều đường sá và các địa điểm làm chuẩn khác, hắn ước tính được vị trí của quả Hellfire. Chúa ơi! Tên lửa đang ở ngay trên một phân khu dân cư khác nằm ở phía tây bắc Reynosa. Nhưng theo Google, về phía tây là

một khu vực sa mạc lớn hoàn toàn trống trải màu vàng be. “UAV Ba…” Shales giật bộ tai nghe ra rồi quẳng nó đi. Bàn tay phải trở lại con lăn. Từ từ, từ từ nào - chậc, dễ lái quá tay như chơi. Nhìn từ ra-đa sang Google, hắn thấy đường đi của quả Hellfire đang đổi hướng ra khỏi các căn nhà. Chẳng bao lâu hướng bay chuyển thẳng sang phía tây, về phía mà bản đồ vệ tinh hứa hẹn là không gian hoang vắng. Máy quay ở mũi tên lửa vẫn chỉ hiện hình ảnh sương mù. Rồi độ cao và tốc độ bắt đầu giảm nhanh. Thuốc phóng đã hết. Shales không còn làm gì được nữa, hắn đã mất kiểm soát quả tên lửa. Hắn ngồi ngả ra sau, chùi hai bàn tay lên quần. Nhìn chằm chằm vào màn hình đang hiện cảnh quay từ máy quay ở mũi quả Hellfire. Hắn chỉ thấy mờ thấy mịt. Chỉ số độ cao hiển thị: 460 mét. 200… 180… Hắn sẽ thấy gì khi quả Hellfire đâm xuống đất? Sa mạc hoang vu chăng? Một xe buýt đưa học sinh đi kiến tập chăng? Những người nông dân kinh hãi nhìn chằm chằm vào vật thể đang rơi về phía họ chăng?

Rồi sương mù tan đi và Shales thấy rõ đích đến của tên lửa ngay phía trước. Vụ nổ cách xa 2.900 kilômét này chát chúa và ngoạn mục bao nhiêu thì trong Buồng Khử NIOS, nó được thể hiện dưới dạng một sự biến đổi hình ảnh đơn giản và tĩnh lặng bấy nhiêu: Từ một đồng bằng cằn cỗi đầy bụi bặm và bụi cây đến một màn hình lấp đầy màu trắng và màu đen nhấp nháy, như màn hình TV lúc cơn bão phá hỏng đường dây cáp. Shales xoay người trở lại bảng điều khiển máy bay, ngắt chế độ lái tự động. Hắn nhìn màn hình máy quay, vẫn tập trung vào sân trong của căn nhà trú ẩn. Lũ trẻ vẫn ở đó, cậu nhóc, có lẽ là đứa anh, nhẹ nhàng đá trái bóng cho con bé, rồi con bé này đuổi theo trái bóng như con chó sục náo nức. Một người phụ nữ đứng bên cửa quan sát hai đứa, miệng không mỉm cười. Chúa ơi, hắn lại thốt lên, không buồn thắc mắc hay quan tâm họ là ai hay làm thế nào họ lại ở một căn nhà trú ẩn mà tin tình báo “không thể sai” đã bảo đảm rằng chỉ có một tên khủng bố trú ngụ. Hắn đưa máy quay ra xa. Cửa nhà xe đang mở. Rashid đã biến mất. Dĩ nhiên, gã phải thế. Cặp mắt thận trọng trước đó của gã đã mách bảo Shales tên khủng bố đã ngờ vực những gì đang diễn ra. Hắn chộp bộ tai nghe rồi đặt lên đầu, cắm lại vào lỗ cắm. “… nghe rõ trả lời, Ba Chín Bảy?”

“Ba Chín Bảy gọi trung tâm Texas,” hắn quát. “Hủy bỏ phi vụ theo ý của vận hành viên. Đang quay lại căn cứ.”

71 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ “Cô muốn uống ít rượu Scotch không?” Rhyme hỏi từ giữa phòng khách nhà anh, gần một kính hiển vi đối chiếu. “Tôi nghĩ cô cần uống đấy.” Nance Laurel ngước lên nhìn từ bàn làm việc của mình trong góc phòng, nơi cô ta đang thu dọn hồ sơ, và xoay người về phía Rhyme với cặp mày chau, làm nhăn một nếp vào lớp son phấn. Anh ngờ cô ta sắp lên lớp về sự thiếu chuyên nghiệp khi uống rượu lúc làm việc. Laurel hỏi, “Nhà máy nào cất?” Rhyme đáp, “Glenmorangie. Mười hai hoặc mười tám năm.” “Có loại nào nặng mùi than bùn hơn không[95]?” cô ta lớn tiếng thắc mắc, làm anh ngạc nhiên hơn nữa. Sachs cũng ngạc nhiên, cả thích thú nữa, thể hiện qua nụ cười nhẹ trên gương mặt người cộng sự của anh. “Ngon mà. Thử đi, cô sẽ thích cho xem.” “Được. Loại mười tám. Tự nhiên. Pha thêm nước.” Rhyme giữ chặt cái chai rồi lóng ngóng rót ra. Cô ta tự mình pha nước. Cánh tay cơ học của anh thiếu sự tinh tế. Anh hỏi, “Sachs?” “Không, cảm ơn anh. Em uống thứ khác.” Cô đang sắp xếp các túi và hộp chứng cứ, những thứ mà - ngay cả trong những vụ án đang rơi vào bế tắc - phải được phân loại và lưu trữ tỉ mỉ. “Thom và Mel?”

Anh kỹ thuật viên trả lời mình uống cà phê được rồi. Thom cũng từ chối. Gần đây cậu ta thích rượu bourbon Manhattan, nhưng đã giải thích với Rhyme là thức uống ấy có công thức hẳn hoi và chỉ nên thưởng thức vào cuối tuần, khi không mấy công việc xen vào. Thom lôi ra một chai French Chardonnay từ chiếc tủ lạnh thường dùng để trữ mẫu máu và mô. Cậu nhấc cái chai về phía Sachs. Cô nói, “Cậu đọc được suy nghĩ của tôi đấy.” Cậu khui nắp rồi rót ra. Rhyme nhấp một ít rượu whisky thơm nồng. “Ngon chứ hả?” “Ngon,” Laurel đồng ý. Rhyme đọc lại lá thư từ bỏ quốc tịch Mỹ của Moreno. Anh cũng giận dữ như Laurel khi biết chi tiết nhỏ nhặt này đã làm gián đoạn vụ án. “Anh ta ghét đất nước này,” Pulaski hỏi, “nhiều đến nỗi phải từ bỏ quốc tịch ư?” “Có vẻ là vậy,” Laurel nói. “Thôi mà, các anh các chị,” Rhyme quở, rồi nhấp thêm ít whisky nữa. “Bọn họ thắng vòng một rồi. Hoặc là hiệp một. Tùy xem mọi người thích kiểu nói bóng bẩy sáo rỗng và ẩn dụ gượng gạo nào. Nhưng chúng ta vẫn còn một hung thủ đấy. X165, kẻ đã đánh bom tự chế trong quán cà phê và mưu sát Lydia Foster. Đây là những vụ trọng án. Lon Sellitto sẽ phân công chúng ta điều tra những vụ này.” “Nhưng không phải là vụ án của tôi,” Nance Laurel nói. “Tôi được lệnh phải trở lại các vụ án thường kỳ.”

“Vớ vẩn,” Ron Pulaski nạt, sự bức xúc của cậu khiến Rhyme ngạc nhiên. “Moreno lúc bị bắn cũng là cùng một người thôi mà - một nạn nhân vô tội. Anh ta không phải là công dân thì đã sao?” “Đúng là vớ vẩn thật, Ron,” Laurel nói, giọng cô ra chiều cam chịu hơn là giận dữ. “Hoàn toàn chính xác.” Cô ta uống cạn ly whisky rồi bước đến chỗ Rhyme. Cô bắt tay anh. “Được làm việc với anh bấy lâu là một đặc quyền.” “Chắc chắn chúng ta sẽ lại làm việc cùng nhau.” Một nụ cười yếu ớt. Nhưng cái gì đó trong nỗi buồn sâu sắc trên nét mặt cô ta mách bảo anh rằng cô ta tin đời công tố viên của mình đã kết thúc. Sachs nói với cô ta, “Này, cô có muốn dịp nào đi ăn tối không? Chúng ta tha hồ nói xấu chính phủ.” Cô nói thêm bằng giọng thì thầm mà Rhyme nghe được, “Và cả cánh đàn ông nữa?” “Ừ. Tôi thích cái đấy.” Họ trao đổi số điện thoại, Sachs phải xem lại số điện thoại mới của mình là gì. Những ngày vừa qua cô đã mua nửa tá điện thoại trả trước. Rồi cô phó công tố viên quận cẩn thận gom lại hồ sơ, dùng kẹp giấy và giấy ghi chú đánh dấu những mục có liên quan. “Tôi sẽ nhờ người gửi cho cô bản sao các hồ sơ này cho vụ án hung thủ giấu mặt.” Người phụ nữ thấp bé nâng chiếc cặp hồ sơ bằng một tay, tay kia xách cặp hồ sơ tố tụng, nhìn khắp căn phòng lần cuối - và không

nói lời nào khác - bước ra ngoài, gót giày cứng cáp nện trên nền gỗ, sau đến nền cẩm thạch của hành lang. Và rồi cô ta biến mất.

72 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ Jacob Swann quyết định, ít nhiều có phần tiếc nuối, là hắn không thể cưỡng hiếp Nance Laurel trước khi giết ả. Chậc, hắn có thể chứ. Và một phần trong hắn muốn làm vậy. Nhưng làm vậy chẳng khôn ngoan - ý của hắn là thế. Một vụ tấn công tình dục để lại quá nhiều chứng cứ. Giảm thiểu manh mối trong bất kỳ án mạng nào đã khó lắm rồi - phải bảo đảm không để lại mồ hôi, nước mắt, nước dãi, sợi tóc và cả trăm nghìn tế bào da mà ta tróc ra hàng ngày cho một tay kỹ thuật viên hiện trường cần cù nào đó thu thập. Chưa kể vân tay bên trong đôi găng cao su hoặc trên da. Hắn cần một phương án khác. Swann hiện đang ở trong một nhà hàng trên đường Henry đối diện căn hộ của ả công tố viên tại Brooklyn, nằm trong một chung cư bốn tầng không thang máy. Hắn đang nhấm nháp một tách cà phê Cuba vừa ngọt vừa đắng. Lướt qua nơi ở của Laurel, hắn để ý thấy không có người gác chung cư. Tốt. Swann đã quyết định lúc này hắn cần một tội ác khác để che đậy cho vụ giết người này: Ngoài việc truy tố những người Mỹ yêu nước can tội tiêu diệt các tên phản bội hèn hạ, Laurel đã tống nhiều kẻ cưỡng hiếp vào tù. Hắn đã tra cứu thành tích kết tội bị can của ả - hết sức ấn tượng - và biết được trong số những kẻ ả bỏ tù có hàng chục tên cưỡng hiếp và sàm sỡ hàng loạt. Một trong những nghi can

này dễ thường quyết định trả thù sau khi được phóng thích. Bằng không thì người thân của một tù nhân có thể làm việc này. Quá khứ của ả sẽ trở lại báo ả. Phải, hắn đã nhận được tin từ tổng bộ là cuộc điều tra về cái chết của Moreno đã chấm dứt. Nhưng điều đó không đảm bảo rằng vụ án không có khả năng bị lật lại. Laurel thuộc loại người có thể rời khỏi biên chế chính phủ rồi bắt đầu viết thư, viết bài cho báo giấy hoặc báo mạng kể về chuyện đã xảy ra, về NIOS, về chương trình ám sát STO. Ả biến mất thì tốt hơn. Mà dù sao thì Swann cũng đã cho nổ bom tại khu Tiểu Ý, đâm một phiên dịch viên và một tài xế limo đến chết. Ít ra Laurel có thể được mời hỗ trợ điều tra những tội ác đó. Hắn cần ả chết và tất cả hồ sơ của ả bị tiêu hủy. Hắn mường tượng. Không phải cảnh cưỡng hiếp mà là cảnh giả vờ tấn công, điều mà hắn đang xem xét như một công thức nấu ăn. Lên kế hoạch, chuẩn bị, thực hiện. Hắn sẽ đột nhập vào căn hộ của ả, đánh vào đầu ả cho ả bất tỉnh (không đánh vào họng, dĩ nhiên không thể để lại mối liên hệ nào với nàng Lydia Foster), xé toạc áo quần ả, phải chắc chắn bộ ngực và háng ả xảy ra tình trạng tụ máu nghiêm trọng thấy rõ (không cắn được, mặc dù hắn rất muốn, ADN phiền phức lắm). Rồi hắn sẽ đánh ả đến chết và xâm hại ả bằng một vật lạ. Hắn chẳng có thời gian đi ra tiệm sách người lớn có buồng xem phim hay một rạp phim khiêu dâm hòng trích lấy chút ADN của ai đó để quệt lên người ả. Nhưng hắn đã đánh cắp một ít đồ lót ố bẩn và rách bươm, kích cỡ của bọn gái mới lớn, từ thùng rác đằng sau một

khu tập thể cách đây không xa. Những sợi vải từ món đồ này hắn sẽ nhét dưới móng tay ả và hi vọng đứa con gái mới lớn ấy trong vài ngày vừa qua đã thủ dâm vào một thời điểm nào đó. Có khả năng đấy. Vậy sẽ đủ chứng cứ. Hắn nhúng lưỡi vào cà phê. Tận hưởng cảm giác đê mê lan khắp miệng. Người ta thường ngộ nhận là những phần khác nhau của lưỡi cảm nhận được những vị khác nhau: mặn, chua, ngọt, đắng. Hắn nhấp tiếp. Thi thoảng Swann dùng cà phê nấu ăn - hắn từng làm một món sốt cay kiểu Mexico cho thịt lợn với 80% cacao và espresso. Hắn từng muốn gửi món này dự thi rồi lại nhận định lộ diện quá công khai chẳng phải hay ho gì. Hắn đang soát lại kế hoạch cho Nance Laurel lần nữa thì trông thấy ả. Bên kia đường, phó công tố viên quận vừa xuất hiện từ quanh góc phố. Ả mặc com lê xanh nước biển và áo sơ mi kiểu màu trắng. Trong đôi tay nhỏ nhắn tròn lẳn là một cặp hồ sơ lỗi mốt, nâu và nhàu nát, cùng một cặp hồ sơ tố tụng lớn. Hắn tự hỏi liệu có phải một trong hai thứ đó là quà từ cha hay mẹ ả, hắn mới biết hai người cũng là luật sư. Họ đang ở khu nhà thuê giá rẻ dành cho người trong ngành. Mẹ ả, luật sư biện hộ của chính phủ. Cha ả, luật sư về phúc lợi cho người nghèo. Làm việc tốt, giúp xã hội, Swann ngẫm nghĩ. Cũng như đứa con gái bé bỏng to bè của bọn họ.

Laurel đang đi mà mắt nhìn xuống dưới, bước chân ì ạch dưới sức nặng của cặp hồ sơ tố tụng. Mặc dù gương mặt ả là một chiếc mặt nạ bí ẩn, nhưng lúc này ả để lộ một dấu hiệu nhỏ của sự u uất, cái cách mà rau mùi tây Ý trong xúp chỉ khơi gợi chứ không tỏ rõ. Không như rau mùi ta đậm đà. Nguồn cơn của tâm trạng ủ dột này chắc chắn là vì vụ án Moreno đang chìm xuồng. Swann suýt nữa thấy tiếc cho ả. Việc khởi tố thành công vụ án này nhẽ ra sẽ là viên ngọc cẩn vào vương miện của ả. Nhưng giờ thì ả đã trở lại với cuộc đời chỉ biết tống José, Shariq, Billy và Roy vào vòng lao lý vì ma túy, cưỡng hiếp và súng ống. Không phải tôi. Không đời nào. Sao tôi biết được, tôi chả biết cái này ở đâu ra, thật mà… Có điều, dĩ nhiên, ả sẽ không còn giải quyết mấy vụ án như thế. Sẽ chẳng làm được gì sau đêm nay. Sẽ lạnh lẽo và im lìm như một lát thịt thăn. Nance Laurel tìm thấy chìa khóa rồi mở cửa trước, bước vào trong. Swann sẽ chờ mười, mười lăm phút nữa. Đủ thời gian để ả mất cảnh giác. Hắn nhấc cái tách nhỏ, dày cộm lên mũi, hít vào rồi đưa lưỡi xuống thứ chất lỏng ấm này thêm lần nữa.

73 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ “Ta biết gì về người cuối cùng trong số mười người da đỏ bé nhỏ của chúng ta?” Lincoln Rhyme lơ đãng hỏi. Trở ngại về quốc tịch của Moreno đã đánh bại Nance Laurel nhưng nó chỉ khơi lên khao khát săn lùng của anh. “Anh không cần biết Albany muốn gì, Sachs, anh muốn tóm tên ẩn mặt này. X165 quá nguy hiểm, không thể để hắn nhởn nhơ được. Ta biết được gì nào?” Anh nhìn qua chỗ bảng trắng ghi chứng cứ. “Được rồi, ta biết X165 có mặt tại Bahamas quanh thời điểm nổ súng. Ta biết hắn giết cô sinh viên kiêm gái mại dâm Annette Bodel. Ta biết hắn đặt bom để tiêu hủy manh mối dẫn ta đến người tố giác. Ta biết hắn giết Lydia Foster. Ta biết hắn theo dõi Sachs của ta khắp thành phố. Ta suy ra được gì?… Sachs!” “Hả?” “Người tài xế kia, người mà Moreno thường sử dụng ấy? Em có liên lạc được với anh ta không?” “Không. Anh ta chưa hề gọi lại.” Điều này thường xảy ra khi cảnh sát gọi và yêu cầu gọi lại. Thường là do đối phương miễn cưỡng, không muốn can dự. Đôi khi có các lý do khác. Cô thử gọi người tài xế này một lần nữa rồi lắc đầu. Cô gọi một cuộc nữa - Rhyme suy luận là cô gọi cho Elite Limos. Cô hỏi họ có

nghe tin tức gì từ nhân viên của mình không. Cô đối đáp ngắn gọn rồi dập máy. “Anh ta chưa hề gọi lại công ty sau khi đi thăm người thân ốm.” “Đừng tin chuyện đó. Biết đâu đó là nạn nhân thứ ba của tên hung thủ. Tìm ra nơi anh ta sống, Pulaski. Phái một nhóm từ đồn cảnh sát gần nhất đến nhà anh ta tìm hiểu xem có gì ở đấy.” Cậu cảnh sát lôi điện thoại ra gọi tổ Điều vận. Rhyme lăn xe tới lui trước các sơ đồ. Anh không tin trước giờ mình từng gặp một vụ án như thế này, khi mà chứng cứ rời rạc và ít ỏi đến thế. Toàn mảnh này, mẩu kia, nhận xét này nọ, những định hướng thay đổi 180 độ. Chẳng còn gì khác… Chết tiệt. Rhyme lái xe lăn về phía cái kệ có những chai whisky. Anh nhấc lên chai Glenmorangie rồi lóng ngóng rót một ly nữa, đoạn đặt cái nắp trên cốc rượu rồi nhâm nhi. “Anh làm gì vậy?” Thom hỏi vọng từ ngưỡng cửa. “Tôi làm gì vậy, tôi làm gì vậy? Hỏi lạ lùng. Thường thì nghi vấn từ ‘gì’ đề ra một câu trong đó người nghi vấn không suy ra được gì về một tình huống.” Anh nhấp một ngụm lớn. “Tôi thấy cậu vừa mới phí một câu nói chỉn chu đấy, Thom. Tôi đang làm gì thì rõ quá còn gì.”

“Anh uống nhiều quá rồi đấy.” “Dùng câu khẳng định như thế còn có nghĩa hơn nhiều. Câu này hợp lệ. Tôi không đồng ý với nội dung câu đấy nhưng nó hợp lý về mặt lô-gíc.” “Lincoln!” Thom sải bước về phía trước. Rhyme quắc mắt. “Đừng hòng…” “Khoan đã,” Sachs nói. Rhyme cứ ngỡ cô đang đứng về phía Thom trong vụ tranh luận về rượu nhưng khi anh lăn xe quay lại, anh thấy mắt cô không nhìn anh hay cậu hộ lý mà dán vào chỗ bảng trắng. Cô bước tới và Rhyme để ý thấy cô không nhăn mặt hay đi khập khiễng. Cô hoạt bát và thăng bằng. Mắt cô nhíu lại. Đây là cái nhìn của thú săn mồi. Nó khiến người phụ nữ cao lớn này đáng sợ và, đối với Rhyme, quyến rũ. Anh đặt ly whisky xuống. Mắt anh ngước nhìn chỗ bảng rồi quét như ra-đa. Có một số dữ kiện anh đã bỏ sót chăng? Cô vừa suy ra được điều gì mà anh chưa thấy chăng? “Em thấy được gì về X165 hả?” “Không, Rhyme,” cô thì thầm. “Em thấy thứ khác. Một thứ hoàn toàn khác.”

74 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ Nancyann Olivia Laurel đang ngồi trên đi văng trong căn hộ của mình tại Brooklyn Heights. Phủ lên phần nệm xanh dương, bị gia đình cô và bạn bè của họ ngồi đến mòn vẹt từ cách đây rất lâu, là một áo bọc JC Penney màu nâu. Đồ gia truyền. Rất nhiều món như thế ở đây. Laurel chợt nhớ lại một ký ức: Cha cô lén lút mò mẫm trong các kẽ hở của chiếc đi văng để tìm những đồng xu lẻ rơi ra từ túi khách. Khi ấy cô khoảng tám tuổi và ông lấy chuyện này làm trò đùa, lấp liếm đây chỉ là trò chơi, khi cô bất ngờ bước vào phòng. Có điều đây không phải là trò chơi, cô biết chắc như thế. Ngay cả con cái cũng biết xấu hổ về cha mẹ. Vẫn nhấm nháp mùi rượu Scotch ám khói, cô nhìn quanh căn hộ này. Nhà cô. Của riêng cô. Trong tâm trạng suy tư. Bất luận, hoặc có lẽ là do, những món đồ tái chế xác xơ, nơi đây đem tới cảm giác thoải mái, ngay cả vào một ngày tệ hại như hôm nay. Cô đã nỗ lực rất nhiều để tạo nên cảm giác này. Những bức tường ở đây, khoác lên hàng chục lớp sơn, có từ thời Teddy Roosevelt, mang một sắc kem. Về đồ trang trí: một giỏ hoa lụa mua từ hội chợ hàng mỹ nghệ Chelsea, một vòng hoa mùa thu từ chợ trời Union Square, cả tranh nghệ thuật nữa. Cô có nhiều tranh sơn dầu và tranh phác chì, bản gốc có, bản in có, tất cả các cảnh vẽ cộng hưởng với riêng con người cô, nào ngựa, nào nông trại, nào nước chảy róc rách qua đá, nào cảnh tĩnh vật. Chẳng hiểu sao chúng lại cuốn hút. Song cô nhận ra sức cuốn hút đó tức thì và mua ngay chúng miễn là cô có tiền

trong túi. Những hình chữ nhật nhiều sắc màu từ len alpaca treo trên tường. Laurel bắt đầu thích đan len từ vài năm trước nhưng cô không tìm đâu ra thời gian hay hứng thú cần thiết để đan xong mớ khăn choàng cổ cho mấy đứa cháu gái của bạn bè mình. Giờ sao đây? Cô nghĩ. Giờ sao… Còi ấm trà đang réo. Đang réo nãy giờ. Lanh lảnh. Cô sực tỉnh. Cô đi vào gian bếp nhỏ và bỏ một túi trà tầm xuân vào cốc - cô chợt nhận ra chiếc cốc có màu xanh nước biển bên ngoài, trắng bên trong, khớp với bộ cánh của mình. Cô nên thay quần áo. Chốc nữa. Laurel nhìn chằm chằm ấm trà trọn một phút. Tắt lửa nhưng không rót chỗ nước sôi ra. Cô trở lại đi văng. Giờ sao đây? Đây là kết cục tệ nhất trong tất cả các kết cục có thể xảy ra. Giả sử cô buộc tội được Metzger và Barry Shales thì điều đó sẽ tạo nên thế giới của cô. Nó sẽ tạo nên cuộc đời cô. Không gì có thể mô tả nổi tầm quan trọng của vụ án này đối với cô. Cô nhớ lúc còn học trường luật, mình bị mê hoặc như thế nào trước những câu chuyện về các bậc vĩ nhân của hệ thống tư pháp Mỹ - những vị luật sư ấy, những công tố viên ấy, những thẩm phán ấy. Clarence Darrow, William O. Douglas, Felix Frankfurter, Benjamin Cardozo, Earl Warren… và nhiều, nhiều người khác nữa. Louis D. Brandeis là người cô nghĩ đến thường xuyên.

Hiến pháp liên bang có thể nói là cuộc thí nghiệm vĩ đại nhất của con người… Không gì tuyệt mỹ bằng cỗ máy công lý và cô khao khát trở thành một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 79

Đang tải bình luận...