chương cho mọi chuyện, nhưng chẳng huân chương nào là đủ; ngay cả cái danh tiếng nhất, Ngôi sao Anh hùng, cũng còn quá ít để tôn vinh người mẹ này... Để thưởng cho sự im lặng của bà...” Polina Kasperovitch, du kích “Chúng tôi cả hai cùng đến chỗ những người du kích... Chúng tôi cùng gia nhập, mẹ tôi và tôi. Bà giặt quần áo cho mọi người, nấu bếp. Nếu cần, bà cũng đi gác. Một lần, tôi đi công tác. Người ta báo với mẹ tôi là tôi đã bị treo cổ. Khi tôi trở về vài ngày sau, và khi bà nhìn thấy tôi, bà bị tê liệt, bà bị mất tiếng nói trong vài giờ. Tuy nhiên phải sống sót qua tất cả những cái đó... Một hôm, chúng tôi nhặt một người phụ nữ trên đường, bà bất tỉnh. Bà không thể đi, bà bò và bà tưởng mình đã chết rồi. Bà nhận ra máu đang chảy trên cơ thể bà, nhưng bà nghĩ bà không còn ở trần thế này, mà ở cõi bên kia. Chúng tôi lay bà và bà có tỉnh lại đôi chút và chúng tôi đã biết... Bà kể cho chúng tôi chúng đã giết tất cả nhà bà như thế nào. Chúng mang họ đi, bà và năm đứa con của bà, để bắn. Khi đưa họ đến một nhà kho, bọn Đức đã bắn những đứa trẻ. Chúng bắn và cười đùa... Như là đi săn... Chỉ còn một đứa, một đứa trẻ còn bú. Bọn Đức ra hiệu cho bà: ném nó lên không, ta sẽ bắn. Người mẹ đã ném đứa trẻ, nhưng theo cách để chính bà giết chết con mình. Để bọn Đức không kịp bắn. Bà bảo bà không muốn sống nữa... Sau tất cả những cái đó, bà không còn thể sống trên thế gian này, mà chỉ ở thế giới bên kia... Tôi không muốn giết, tôi sinh ra không phải để giết. Tôi muốn trở thành cô giáo. Nhưng tôi đã thấy một làng bị đốt... Tôi không thể kêu lên, tôi không thể khóc to: chúng tôi được phái đi trinh sát và vừa đến gần làng. Tôi chỉ có thể cắn vào bàn tay mình, những vết sẹo còn đây. Tôi nhớ những tiếng thét của những người dân. Tiếng rống của bò, tiếng kêu của gà. Tôi có cảm giác
tất cả đều thét lên bằng tiếng người. Mọi vật sống. Mọi vật đều cháy và thét lên... Không phải tôi đang nói mà là nỗi đau buồn của tôi... Xúc cảm về tất cả những gì thân yêu với tôi...” Valentina Mikhaïlovna Ilkevitch, liên lạc viên du kích “Chúng ta phải thắng... Về sau, mọi người nghĩ là bố tôi đã được ủy ban Đảng của quận để lại tại chỗ với một nhiệm vụ phải hoàn thành. Kỳ thực, chẳng ai để chúng tôi lại cả, chúng tôi không có nhiệm vụ gì hết. Tự chúng tôi quyết định chiến đấu. Tôi không nhớ là gia đình chúng tôi đã có cảm giác hoảng sợ. Một nỗi buồn mênh mông, vâng, nhưng không hoảng sợ. Tất cả chúng tôi tin rằng chiến thắng sẽ về ta. Ngày đầu tiên bọn Đức vào làng chúng tôi, bố tôi chơi vĩ cầm bài Quốc tế ca. Ông muốn có một hành động gì đó. Chống đối kiểu này hay kiểu khác...” Valentina Pavloima Kojemiakina, du kích “Làm sao quên được... Những thương binh ăn muối bằng thìa... Người ta cho mọi người sắp hàng, gọi một cái tên, một chiến sĩ bước ra khỏi hàng và đổ gục xuống, súng cầm tay. Vì yếu sức. Vì thiếu ăn... Nhân dân giúp chúng tôi, nếu họ không giúp, không thể có chiến khu. Nhân dân chiến đấu bên cạnh chúng tôi. Không phải bao giờ cũng nén khóc được, nhưng dẫu sao chúng tôi vẫn được tiếp tế: “Các con ạ, chúng ta sẽ cùng nhau chịu khổ. Và chờ thắng lợi.” Họ cho chúng tôi đến tận củ khoai tây bé tí, họ cho chúng tôi bánh mì. Họ
chuẩn bị cho chúng tôi những chiếc túi để mang vào rừng. Một người nói: “Tôi cho chừng này”, một người khác: “Và tôi, chừng này.” “Còn anh, Ivan?”, ”Còn chị Maria?”, “Tôi sẽ làm như mọi người, nhưng tôi có các con phải nuôi.” Chúng tôi sẽ là gì nếu không có dân chúng? Chúng tôi có là cả một quân đội ở trong rừng, không có họ, chúng tôi sẽ không còn, bởi chính họ trong suốt chiến tranh đã gieo trồng, đã cày bừa, đã nuôi và mặc cả cho con cái họ và cho chúng tôi. Họ cày ruộng ban đêm, khi súng ngưng bắn. Tôi nhớ đã vào một làng nơi người ta chôn một người già. Ông bị giết đêm trước. Ông gieo lúa mạch đen. Và ông đã siết các hạt trong nắm tay chặt đến nỗi người ta không gỡ được các ngón tay của ông ra. Người ta đã chôn ông như thế, với các hạt trong nắm tay của ông... Chúng tôi có vũ khí của chúng tôi, chúng tôi có thể tự vệ. Còn họ? Để có bánh mì cho một người du kích - đội hành quyết. Tôi rất có thể nghỉ lại qua đêm ở một nhà nào đó, nhưng nếu có kẻ tố giác ai đã cho tôi trú lại, là cả nhà phải ăn đạn. Ở một nơi khác, chúng tôi vào nhà một người đàn bà độc thân, không chồng, sống ở đấy với ba đứa con nhỏ. Vậy đó! Bà không đuổi chúng tôi khi thấy chúng tôi đến, bà đốt lò sưởi, bà giặt quần áo của chúng tôi. Bà cho chúng tôi những gì bà còn: “Ăn đi, các con.” Mà những củ khoai mùa xuân thì bé tí, không to hơn hạt đậu. Chúng tôi ăn, và những đứa bé, chúng nó ngồi vắt vẻo trên gác xép, chúng nó khóc. Vì những củ khoai đó là những củ khoai cuối cùng...” Alexandra Nikiforovna Zakharova, chính ủy trung đoàn du kích số 225 vùng Gomel “Chuyến công tác đầu tiên... Họ mang đến cho tôi những tờ truyền đơn. Tôi khâu chúng vào một chiếc gối. Mẹ tôi khi thay khăn trải giường nghe có gì đó dưới các ngón tay bà. Bà tháo các đường khâu và phát hiện truyền đơn. Bà khóc. “Con sẽ làm cả mẹ lẫn con chết mất thôi.” Nhưng rồi sau đó, bà đã
giúp tôi. Những người liên lạc của du kích thường nghỉ lại nhà tôi. Họ tháo cương ngựa và bước vào. Cô tưởng sao? Những người hàng xóm không nhìn thấy gì hết? Họ thấy và họ đoán. Tôi đã kể với họ đấy là những người bạn của anh trai tôi ở quê. Nhưng mọi người đều biết tôi chẳng có một người anh nào ở quê cả. Tôi biết ơn họ, tôi phải nghiêng mình trước tất cả những người ở làng chúng tôi. Chỉ cần một từ là tất cả chúng tôi tiêu tan, cả gia đình tôi. Chỉ cần một ngón tay chỉ về phía chúng tôi. Nhưng không ai... Không một người... Trong chiến tranh, tôi thương lắm những con người đó để mãi cho đến hôm nay tôi vẫn còn yêu quý họ... Sau giải phóng... Tôi đi ngoài đường và vẫn cứ luôn nhìn về phía sau: tôi không thể hết sợ, không thể yên tâm bước đi ngoài đường. Tôi đi và tôi đếm những chiếc xe; ở ga, tôi đếm các chuyến tàu. Tôi không thể thoát khỏi kháng chiến...” Vera Grigorievna Sedova, người hoạt động kháng chiến “Tôi khóc rồi... Thay vì lời nói là nước mắt... Chúng tôi bước vào một ngôi nhà tranh, và ở đấy, không có gì hết ngoài hai chiếc ghế dài bằng gỗ mộc, bào thô, và một cái bàn. Tôi nghĩ không có đến một cái cốc để uống nước. Chúng đã tịch thu hết. Chỉ còn một bức hình thánh trong một góc phòng, với một chiếc khăn thêu đặt bên trên[72]. Một đôi vợ chồng già. Một người trong chúng tôi cởi ủng. Vớ của anh rách bươm đến mức anh không sao quấn lại được nữa. Mà trời thì mưa, chỗ nào chúng tôi cũng lội trong bùn và ủng của anh lại thủng. Và vậy là bà cụ đến gần bức hình thánh, gỡ chiếc khăn thêu ra và đưa cho anh: “Con trai của ta, con còn đi làm sao được?” “Không còn gì khác trong ngôi nhà ấy.”” Vera Safronovna Davydova, du kích
“Mỗi người có cuộc chiến tranh của mình... Cuộc chiến tranh của riêng mình... Những ngày đầu tiên, tôi đã nhặt hai người lính bị thương ở lối vào làng. Một người bị ở đầu, người kia bị một mảnh pháo ở chân. Tự tôi đã lấy mảnh pháo ra cho họ, rồi tôi đổ dầu lửa vào vết thương vì tôi chẳng có gì khác trong tay. Tôi đã đọc cái đó ở đâu tôi cũng không biết... về chuyện dầu lửa ấy... Tôi đã giúp họ thoát nạn, giúp họ bình phục. Một người đã đi vào rừng, rồi đến lượt người kia. Lúc ra đi, anh này đã quỳ xuống trước mặt tôi. Anh muốn hôn chân tôi: “Chị! Chị đã cứu em.” Không có tên, không có gì khác nữa. Chỉ có “em” và “chị”. Những người phụ nữ tụ hội ở nhà tôi, buổi tối... - Nghe nói bọn Đức đã chiếm Moskva. - Không thể! Cũng với những người phụ nữ ấy, chúng tôi đã lập lại nông trang tập thể sau giải phóng, họ giao cho tôi làm giám đốc. Ở chỗ chúng tôi còn có bốn ông già và năm cậu con trai mười ba tuổi. Đấy là những thợ cày của tôi. Chúng tôi có hai mươi con ngựa đầy những mảng hoại thư, phải chữa. Đấy là toàn bộ trang bị của chúng tôi. Chúng tôi không có xe kéo, cũng không có vòng ách cho súc vật. Phụ nữ xới đất bằng xẻng. Chúng tôi đóng bừa cho bò. Bọn trẻ con bừa suốt ngày, chỉ đến tối chúng mới mở ba lô con của chúng ra. Đứa nào cũng chỉ có cùng mỗi một thứ để ăn: hạt prasnaki. Chính cô cũng không biết là gì. Hạt rau chút chít, doborotnik... Cô không biết chứ gì? Đấy là một loại cỏ. Rồi người ta đi nhặt cỏ ba lá. Người ta giã cái thứ đó trong một cái cối. Cho thêm quả sồi vào. Và nấu prasnaki. Một kiểu bánh mì... Đến mùa thu, có lệnh về: Đốn bốn trăm thước khối gỗ. Với ai nào? Tôi dắt
cậu con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười tuổi của tôi đi cùng. Những phụ nữ khác cũng làm thế. Và chúng tôi cung cấp đủ số gỗ ấy cho nhà nước...” Vera Mitrofanovna Tolkatcheva, liên lạc viên du kích Trong chiến tranh, Iossif Gueorguievitch Iassioukevitch và cô con gái Maria của ông đã làm chiến sĩ liên lạc cho sư đoàn Rokossovski. Đây là điều họ kể: Iossif Gueorguievitch: “Tôi đã hiến tất cả cho chiến thắng... Những gì yêu quý nhất của tôi. Các con trai tôi chiến đấu ngoài mặt trận. Hai đứa cháu họ của tôi đã bị bắn vì liên lạc với du kích. Chị tôi, mẹ chúng, bị bọn Đức thiêu sống... Ngay trong chính nhà chị. Người ta kể, trước khi khói bao phủ mọi thứ, chị ấy vẫn đứng thẳng, như một cây nến, với một hình thánh trong tay. Từ khi chiến tranh kết thúc, khi mặt trời lặn, tôi luôn có cảm giác có gì đó đang cháy...” Maria: “Tôi là một cô bé, tôi mười ba tuổi. Tôi biết bố tôi giúp du kích. Tôi hiểu ông. Ban đêm, có những người đến nhà chúng tôi. Họ để lại một thứ gì đó, mang đi một thứ khác. Bố thường dẫn tôi đi cùng, ông đặt tôi trên xe kéo: “Ngồi đấy và đừng cựa quậy.” Khi chúng tôi đến nơi, ông bỏ từ xe xuống vũ khí hay truyền đơn. Sau đó, ông cho tôi ra ga xe lửa. Ông dạy cho tôi những gì tôi phải ghi nhớ. Không ai nhìn thấy không ai biết, tôi lủi vào các bụi và tôi ngồi đó đến tối để đếm có bao nhiêu đoàn xe đi qua. Tôi cố nhớ chúng chở những gì, chẳng hạn, vũ khí, và những gì diễu qua trước mắt tôi: xe tăng hay các đoàn quân. Mỗi ngày hai hay ba lần, bọn Đức bắn vào các bụi.
- Bà không sợ? - Tôi nhỏ, bao giờ tôi cũng có thể lủi đi mà không để ai chú ý. Rồi đến một hôm... Tôi nhớ rõ... Bố tôi hai lần cố đi xa trang trại đơn độc nơi chúng tôi ở. Những người du kích chờ ông ở phía bên kia rừng. Hai lần ông đã lên đường, hai lần các toán tuần tra buộc ông phải quay lui. Đêm xuống. Ông gọi tôi: “Maria...” Nhưng mẹ tôi hét lên đến hết mức bà có thể: “Tôi sẽ không để con bé của tôi đi!” Bà giật tôi ra khỏi tay bố tôi. Tuy nhiên tôi đã chạy xuyên qua rừng, như ông đã yêu cầu tôi. Tôi thuộc lòng các con đường mòn trong ấy, dù rằng, mà đúng thế, tôi sợ bóng tối. Tôi đã tìm được những người du kích đang chờ, tôi đã chuyển lại cho họ tất cả những gì bố đã nói với tôi. Nhưng khi tôi lên đường trở về, thì trời bắt đầu sáng. Làm sao tránh các toán tuần tra Đức? Tôi đi lòng vòng trong rừng, tôi đi qua vùng băng phủ trên mặt hồ: chiếc áo vét của bố, đôi ủng của tôi, mọi thứ đều bị chìm xuống đáy hồ. Tôi đã thoát lên được khỏi nước... Tôi chạy chân trần trên tuyết. Tôi bị ốm và khi đã nằm, tôi không cất mình lên khỏi giường được nữa. Tôi không còn cử động được đôi chân. Bấy giờ không có bác sĩ, cũng không có thuốc. Mẹ chữa cho tôi bằng nước thuốc sắc. Bà đắp đất sét lên chân tôi... Sau chiến tranh, người ta đưa tôi đến bác sĩ. Tôi phải mổ mười lần. Nhưng đã quá muộn. Đã mất quá nhiều thời gian. Tôi liệt giường... Tôi có thể ngồi, nhưng không được lâu.