Phần lớn thời gian của tôi, tôi nằm dài, nhìn ra cửa sổ. Tôi nhớ lại chiến tranh...” Iossif Gueorguievitch: “Tôi bế nó trên tay tôi. Từ bốn mươi năm nay. Như một đứa bé. Vợ tôi chết đã hai năm. Bà nói bà tha lỗi cho tôi về mọi chuyện. Những lỗi lầm thời trẻ của tôi. Tất cả. Nhưng bà không tha tội cho tôi về Maria. Tôi đọc điều đó trong mắt bà. Và bây giờ tôi sợ chết. Maria sẽ còn lại một mình. Ai sẽ chăm nó? Ai sẽ ban phước cho nó trước khi ngủ? Ai sẽ cầu Chúa?...”
VỀ NHỮNG BÀ MẸ VÀ NHỮNG ÔNG BỐ Làng Ratyntsy, quận Volojine, trong vùng Minsk. Đi một tiếng từ thủ đô. Đây là một làng Biélorussi điển hình: nhà gỗ, hàng giậu sơn nhiều màu khác nhau, đường đầy gà và ngỗng. Những đứa trẻ con chơi trong cát. Những phụ nữ già ngồi trên những chiếc ghế dài. Tôi đến thăm một trong các bà ấy, nhưng tôi gặp cả làng tập họp lại. Người ta nói. Người ta thốt lên những tiếng than. Mỗi người nói những trải nghiệm của riêng mình, nhưng tất cả họ, họ kể cùng một câu chuyện. Họ đã cày bừa, gieo trồng, làm bánh mì cho những người du kích, chăm nom con cái, đi hỏi các bà thầy bói và các loại phù thủy khác, đoán mộng và cầu khấn Chúa phù hộ cho những người du kích như thế nào. Chờ chồng từ chiến tranh trở về... Tôi ghi các tên của họ: Elena Adamovna Velitchko, Ioustina Loukianovna Grigorovitch, Maria Fiodorovna Mazouro... “Ôi, con gái của tôi! Con thân yêu của tôi, tôi không quan tâm đến ngày Chiến thắng. Tôi khóc! Ôi! Tôi khóc! Hễ tôi nghĩ lại thì tất cả lại hiện về. Hạnh phúc thì ở sau núi, nhưng tai họa lại ở trên lưng chúng tôi... Bọn Đức đốt làng chúng tôi, chúng cướp tất. Chúng tôi chỉ còn đá xám. Khi chúng tôi ở trong rừng về, chẳng còn gì sất. Ngoài mấy con mèo. Chúng tôi ăn gì ư? Mùa hè, tôi hái quả mọng, nhặt nấm. Tôi có một nhà đầy trẻ con phải nuôi. Hết chiến tranh, chúng tôi làm việc ở nông trang. Tôi gặt, hái, đập lúa. Chúng tôi kéo cày thay ngựa. Không còn ngựa, chúng đã bị giết. Bọn Đức giết cả chó của chúng tôi. Mẹ tôi bảo: “Sau khi ta chết, ta không biết linh hồn ta thế nào, nhưng ít nhất, tay ta được nghỉ.” Con gái tôi mười tuổi, nó đi gặt cùng tôi. Ông đội trưởng đến xem làm sao một con bé, nhỏ đến thế, có thể quần quật đến tối để làm cho trọn tiêu chuẩn. Còn chúng tôi, chúng tôi gặt, chúng tôi gặt, không ngưng tay, mặt trời lặn sau rừng rồi, mà chúng tôi vẫn muốn nó mọc lại trên trời. Ngày không đủ cho chúng tôi. Chúng tôi gặt hái tương đương hai tiêu chuẩn ngày phải đóng. Nhưng họ không trả cho chúng tôi gì hết, họ chỉ đánh dấu số ngày làm việc[73] của chúng tôi. Chúng tôi làm
việc suốt mùa hè trên đồng, mà đến mùa thu chúng tôi không có được một bao bột mì. Chúng tôi chỉ nuôi con duy nhất bằng khoai...” “Tai họa chiến tranh... Ở nhà tôi, chỉ còn trẻ con. Quần áo của chúng mòn trơ sợi. Con bé của tôi chỉ có thể đi đến trường khi tôi mua cho nó đôi giày có cổ đầu tiên. Nó đi giày mà ngủ, nó không muốn rời ra. Cuộc sống của chúng tôi như thế đấy! Đời tôi sắp tới lúc tàn rồi và tôi chẳng có kỷ niệm gì mà kể. Ngoài chiến tranh...” “Có tin đồn bọn Đức đã đưa đến thị trấn một đoàn tù binh, và ai nhận ra trong bọn họ một người thân của mình có thể đến mà dẫn về. Những người phụ nữ chỗ chúng tôi liền bật dậy và đổ xô đến. Buổi tối, một số đã dắt về nhà mình, kẻ thì một người bà con, kẻ thì một người hoàn toàn xa lạ. Họ kể những điều khó tin đến nỗi chúng tôi không đủ sức mà tin: rằng đám người đàn ông ấy đầy những vết thương mưng mủ, rằng họ chết đói, họ nhai hết lá cây... họ ăn cả cỏ... họ đào rễ cây... Ngày hôm sau tôi chạy đến đấy, tôi không tìm ra ai thuộc gia đình mình, nhưng tôi quyết định ít ra cũng cứu con trai một ai đó. Tôi chú ý một cậu con trai ngăm ngăm đen, tên là Sachko, giống như cháu tôi bây giờ. Cậu khoảng mười tám... Tôi cho một tên Đức mỡ, trứng gà, tôi thề có Chúa cậu ấy là em trai tôi. Tôi còn làm cả dấu thánh giá. Chúng tôi về đến nhà... Cậu yếu đến nỗi không nuốt được một quả trứng. Tất cả những cậu trai trẻ ấy ở chỗ chúng tôi chưa được một tháng, thì đã có một tên khốn nạn tố cáo chúng tôi. Một kẻ cũng giống như mọi người, đã có vợ, hai con... Y đến đồn cảnh sát và báo là chúng tôi đã rước những người lạ về nhà. Ngày hôm sau, bọn Đức đi mô tô đến. Chúng tôi đã van xin, chúng tôi đến quỳ gối, nhưng chúng làm cho chúng tôi tin rằng chúng chỉ dẫn các cậu ấy về gần nơi cư trú thật của các cậu. Tôi đã cho Sachko bộ quần áo của ông tôi. Tôi nghĩ là cậu ấy sẽ sống... Kỳ thực, chúng dẫn các cậu ra khỏi làng... Và bắn chết hết... Tất cả... Cho đến người cuối cùng... Những người tử tế thế và trẻ thế. Rất trẻ! Chúng tôi gồm chín người đã nhận họ về và cả chín người, chúng tôi quyết định phải làm một ngôi mộ cho họ. Năm người trong chúng tôi lo việc lôi được họ ra khỏi hố, trong khi bốn người khác canh chừng để tránh bọn Đức bất ngờ ập đến. Không thể làm tay không, bởi vì trời nắng đổ lửa và các xác đã phải nằm đó từ bốn ngày. Chúng tôi cũng sợ xâm phạm xác họ khi dùng xẻng... Nên chúng tôi đặt họ mỗi người trên một chiếc nastolnik[74] và kéo đi. Chúng tôi
cũng mang theo nước, và dùng khăn choàng bịt mũi, để không bị ngất đi. Chúng tôi đào một ngôi mộ trong rừng, đặt người này cạnh người kia. Chúng tôi dùng chăn phủ đầu họ lại... Chân họ nữa... Trong suốt một năm, chúng tôi không nguôi được, chúng tôi không ngừng khóc than cho họ. Và mỗi người đều nghĩ: chồng mình ở đâu, con trai mình ở đâu? Có còn sống không? Bởi từ chiến tranh có thể trở về, nhưng từ mộ thì chẳng bao giờ...” “Chồng tôi là một người tốt và tử tế. Chúng tôi sống cùng nhau chưa được một năm rưỡi. Khi anh ra đi, tôi đang mang thai đứa con của chúng tôi. Anh không nhìn thấy con gái chúng tôi, tôi đã sinh khi không có anh. Anh ra đi vào mùa hè, và tôi sinh con vào mùa thu. Tôi còn cho nó bú, nó chưa được một tuổi. Tôi ngồi trên giường, đang cho nó bú. Có ai đó gõ vào cửa sổ: “Lena, họ mang đến một cái giấy, về chồng cô đấy.” (Những người phụ nữ đã đón đường nhân viên bưu chính, để tự họ mang tin đến cho tôi.) Tôi ôm đứa bé trong lòng, và khi tôi nghe thế, một tia sữa đã bắn ra từ vú tôi, nó văng hết xuống đất. Con bé thét lên, nó hoảng hốt. Từ đó nó không bao giờ muốn bú nữa. Đúng vào hôm trước ngày Chủ nhật Lễ Lá[75]. Tháng Tư, nắng rất đẹp. Tôi đọc trên tờ giấy tin chồng tôi đã chết ở Ba Lan. Mộ anh ở gần Gdansk... Ngày 17 tháng Ba 1945... Một tờ giấy mỏng... Chúng tôi đã chờ chiến thắng, chồng chúng tôi sẽ trở về... Các khu vườn đang nở hoa... Sau cú sốc ấy, con gái tôi đau ốm lâu, cho đến ngày nó đi học. Chỉ cần cánh cửa nhà đập hơi mạnh hoặc ai đó hét lớn là nó ốm. Đêm nào nó cũng khóc. Tôi rất lo cho nó: suốt bảy năm, tôi không nhìn thấy mặt trời, mặt trời không chói sáng cho tôi. Mắt tôi tối đen. Người ta bảo chúng tôi: Chiến thắng rồi! Đàn ông bắt đầu trở về nhà. Nhưng họ trở về ít hơn nhiều so với số chúng tôi gửi họ ra đi. Ít hơn một nửa. Anh trai Youzik của tôi là người đầu tiên. Cụt tay, nhưng đúng là anh ấy. Anh có một đứa con gái cùng tuổi con gái tôi. Bốn tuổi, rồi năm. Con gái tôi sang chơi bên ấy. Nhưng một lần, nó chạy về, khóc ròng: “Con không sang bên đó nữa đâu!
- Nhưng sao con khóc? - Oletchka (tên cháu gái tôi) được bố nó ôm trên gối, bác ấy dỗ nó. Còn con, con không có bố. Con chỉ có mỗi mình mẹ.” Chúng tôi ôm nhau... Chuyện đó kéo dài hai hay ba năm. Nó chạy về nhà và hỏi: “Con có thể ngồi chơi trong nhà được không? Không thì nếu bố đến mà con đang ở ngoài đường với bọn trẻ khác, bố sẽ không nhận ra con, vì bố chưa bao giờ nhìn thấy con.” Tôi không thể bảo được nó ra đường gặp bọn trẻ con khác. Nó ở suốt ngày trong nhà. Nó chờ bố. Nhưng bố nó chẳng bao giờ trở về...” “Khi đi ra trận, chồng tôi đã khóc rất nhiều vì phải bỏ lại các con còn quá nhỏ. Anh có một nỗi khổ mênh mông. Bọn trẻ con còn nhỏ đến nỗi chúng chưa ý thức được chúng có một người cha. Nhất là những cậu con trai còn bé tí. Đứa sau cùng tôi còn bế nó trên tay. Đột ngột, anh ôm lấy thằng bé và siết rất chặt vào người. Tôi chạy theo sau anh. Người ta đã gọi: “Tất cả, vào hàng!” Nhưng anh không thể rời thằng bé. Anh đứng vào hàng vẫn ôm nó... Ông cán bộ quân sự quát anh, nhưng anh, anh vẫn tiếp tục tưới đẫm đứa bé bằng nước mắt mình. Đến nỗi ướt đầm cả tã lót. Chúng tôi tiếp tục đi theo anh, các con và tôi, ra xa ngoài làng. Chúng tôi đã chạy phải đến năm cây số. Những người phụ nữ khác cũng chạy cùng chúng tôi. Các con tôi đã mệt, và tôi khó lắm mới bế nổi đứa bé nhất. Volodia, đấy là tên chồng tôi, quay nhìn lại, và tôi, tôi chạy, tôi chạy... Tôi là người cuối cùng còn chạy theo hàng quân... Tôi bỏ lại những đứa lớn trên đường. Tôi chạy cùng với đứa nhỏ nhất... Một năm sau, một bức thư được gửi đến: Vladimir Grigorovitch chồng bà đã chết ở Đức, gần Berlin. Tôi không bao giờ nhìn thấy mộ anh. Một người hàng xóm đã trở về, khỏe mạnh, rồi một người khác, mất một chân. Tôi đau khổ biết bao: sao chồng tôi không trở về, dù cụt hẳn chân, mà còn sống? Tôi sẽ chăm anh... “Tôi còn lại một mình với ba đứa con trai... Tôi khuân các bó lúa, bó củi đốn trong rừng, các bao khoai. Tất cả chỉ một mình. Tôi tự kéo bừa và cày. Ừ, biết làm sao? Ở chỗ chúng tôi, cứ hai ba người, thì có một bà góa, có chồng là lính chết trận. Chúng tôi ở lại không có đàn ông. Không ngựa. Vì
ngựa cũng bị bắt đi cho chiến tranh. Và nói cho thẳng ra, sau chiến tranh, đàn bà đã thay thế cả đàn ông lẫn súc vật: họ mang tất cả trên lưng. Thêm nữa, tôi mang danh hiệu thành viên nông trang tập thể gương mẫu. Họ đã trao cho tôi hai bằng danh dự và một lần, thậm chí còn cho cả mười mét vải in hoa. Chắc chắn là tôi vui sướng, tôi có thể may áo sơ mi cho các con trai tôi, cho cả ba đứa.” “Sau chiến tranh... Con trai của những người đã chết trở thành những người đã thành niên. Họ lớn lên. Mười ba, mười bốn tuổi, các cậu bé ấy nghĩ là mình đã trưởng thành. Họ muốn cưới vợ. Không có đàn ông và phụ nữ thì còn quá trẻ... Chẳng hạn người ta nói với tôi: “Đưa con bò của bà cho tôi, thì sẽ không có chiến tranh”, tôi sẽ đưa ngay! Để cho con cái tôi không phải biết những gì tôi đã biết. Tôi đã sống những ngày và đêm của tôi để mà nếm trải đau khổ của mình...” “Tôi nhìn qua cửa sổ và tôi ngỡ nhìn thấy anh ấy đang ngồi bên ngoài. Có lúc, buổi tối, tôi có những ảo giác ấy. Tôi đã già, nhưng anh ấy, tôi thấy anh ấy bao giờ cũng trẻ. Giống như anh ngày anh ra đi. Nếu anh hiện ra trong các giấc mơ của tôi, thì bao giờ cũng là trong những nét của một người trai trẻ. Và tôi cũng trẻ. Tất cả phụ nữ ở chỗ tôi đều nhận được một giấy báo tử, còn tôi là một tờ giấy, trên đó viết: “mất tích”, bằng mực xanh. Mười năm đầu, tôi chờ anh từng ngày. Tôi vẫn còn chờ anh. Hễ người ta còn sống, là người ta còn hy vọng...” “Mà làm sao một người đàn bà có thể sống cô đơn? Một người đàn ông đến nhà tôi: anh ta giúp tôi hay anh ta chẳng làm gì cả thì đều là tai họa. Mỗi người nói một cách. Người thì đàm tiếu, chó thì sủa. Nhưng giá như Ivan của tôi có thể nhìn thấy năm đứa cháu của anh. Đôi lúc, tôi đứng trước ảnh anh, tôi chỉ cho anh những bức ảnh của bọn nhỏ. Tôi trò chuyện với anh...” “Ngay sau chiến tranh tôi có một giấc mơ: tôi bước ra sân và chồng tôi ở đó, đang rảo bước. Mặc quân phục. Và anh gọi tôi. Tôi tung chăn nhảy dậy, tôi mở cửa sổ... Mọi vật lặng im. Không nghe cả một tiếng chim. Chúng ngủ. Gió vuốt ve vòm lá. Tưởng như anh huýt sáo...
Buổi sáng, tôi lấy một tá trứng và tôi đi gặp một người Di-gan. “Anh ấy không còn, bà nói sau khi đã rút bài. Đừng chờ, vô ích. Đấy là linh hồn anh ấy quẩn quanh quanh nhà cô.” Mà, anh và tôi, cô biết đấy, chúng tôi lấy nhau vì tình yêu. Một tình yêu lớn...” “Một bà xem bói dạy tôi cách làm thế này: “Khi mọi người đã ngủ, hãy trùm một chiếc khăn đen và ngồi trước một tấm gương lớn. Anh ấy sẽ hiện ra trong đó... Cô không được sờ vào anh, cũng không được chạm vào quần áo của anh. Chỉ được nói với anh thôi...” Tôi đã ngồi suốt đêm trên ghế... Anh đến ngay trước bình minh... Anh không nói gì cả, anh im lặng và nước mắt chảy trên má anh. Anh hiện lên như vậy ba lần. Tôi gọi anh, anh đến. Anh khóc. Nên tôi không gọi anh nữa. Tôi thương xót anh...” “Tôi cũng vậy, tôi chờ gặp lại chồng tôi... Ngày rồi đêm, tôi sẽ nói với anh. Tôi không cần gì hết ở anh, chỉ cần anh nghe tôi. Hẳn là ở bên ấy anh đã già đi nhiều, anh cũng vậy. Giống như tôi...” “Đất của tôi, ruộng của tôi... Tôi nhổ khoai, củ cải... Anh ở đâu đó dưới lòng đất và tôi sẽ sớm gặp lại anh. Chị tôi bảo: “Em cần nhìn trời ấy, chứ không phải đất. Trên cao tít kia. Các anh ở đấy.” Này, đấy là nhà tôi... Ngay sát cạnh. Ở lại đây với chúng tôi. Khi cô đã qua một đêm, cô sẽ biết thêm nhiều. Máu, không phải là nước, đổ ra là đau đớn, vậy mà, nó chảy. Tôi nhìn tivi... Nó chảy thành suối... Cô rất có thể không viết gì hết... Nhưng hãy nhớ lại. Cô và tôi, chúng ta đã cùng nói. Chúng ta đã khóc một chút. Vậy thì khi cô sẽ từ giã chúng tôi, hãy quay lại nhìn chúng tôi, chúng tôi và những ngôi nhà lụm xụm này. Hãy quay lại không chỉ một lần, như một người lạ, mà hai. Như một người trong gia đình. Không cần gì hơn nữa. Quay lại, tất cả chỉ có thế...” CUỘC ĐỜI NHỎ VÀ Ý TƯỞNG LỚN “Tôi luôn có niềm tin... Tôi tin Stalin... Tôi tin những người cộng sản. Chúng tôi cũng là người cộng sản. Tôi tin chủ nghĩa cộng sản. Tôi sống vì điều đó, tôi đã sống sót vì điều ấy. Sau báo cáo của Khrouchtchev ở Đại hội XX, khi ông ấy tố cáo những sai lầm của Stalin, tôi ốm, tôi phải nằm liệt
giường. Tôi không thể tin đó là sự thật. Một sự thật kinh hoàng. Chính tôi, trong chiến tranh tôi đã thét lên: “Vì Tổ quốc! Vì Stalin!” Không ai ép tôi làm chuyện đó... Tôi có niềm tin... Cuộc đời tôi là thế... Nó thế này... Trong hai năm, tôi đã chiến đấu ở chỗ những người du kích. Trong trận đánh cuối cùng, tôi bị thương ở chân, tôi ngất đi, mà hôm ấy trời rét đến đá cũng phải nứt ra và khi tôi tỉnh lại, tôi cảm thấy hai bàn tay tôi đã bị cóng. Hôm nay, tôi có đôi bàn tay tốt, rất linh hoạt, nhưng lúc đó chúng đen sì... Hai chân tôi, tất nhiên, cũng bị cóng. Nếu không có băng giá, có thể người ta đã có thể cứu được, nhưng lúc đó chúng đẫm máu, và tôi đã nằm lâu, bất động. Khi họ tìm thấy tôi, họ để tôi cùng những thương binh khác, họ tập họp chúng tôi về cùng một chỗ, chúng tôi đông, và ở đó, bọn Đức lại tìm cách bao vây chúng tôi. Đơn vị đã đi... Để cố phá vòng vây... Người ta ném chúng tôi lên các xe trượt, như những khúc gỗ. Không có thời gian để chú ý thận trọng, để nhẹ tay với chúng tôi, họ chuyển chúng tôi đi xa hơn vào trong rừng. Họ giấu chúng tôi. Cứ thế, họ dong chúng tôi từ chỗ này qua chỗ khác, rồi họ báo cho Moskva về vết thương của tôi. Bởi vì, cô biết đấy, tôi là đại biểu Xô viết tối cao. Tôi là một nhân vật, người ta tự hào về tôi. Tôi xuất thân rất bình thường, nông dân bình thường. Từ một gia đình nông dân. Tôi vào Đảng rất sớm... Tôi đã mất đôi chân... Họ cắt chân tôi... Họ cứu tôi trong ấy, trong rừng... Phẫu thuật diễn ra trong những điều kiện thô sơ nhất. Họ đặt tôi nằm dài trên một chiếc bàn để mổ, thậm chí không có cải-ốt, họ cưa chân tôi, hai chân, bằng một cái cưa thường. Họ đặt tôi nằm dài trên một cái bàn, và không có iốt! Họ đi đến một phân đội khác để tìm i-ốt, trong thời gian đó, tôi nằm dài trên bàn. Không gây mê. Không... Không có gì hết, ngoài một cái cưa thường... Một cái cưa thợ mộc... Người ta đã liên lạc với Moskva để họ đưa một chiếc máy bay đến. Máy bay đã đến gần ba lần, nó quần vòng tròn, rồi vòng tròn, không thể hạ. Bốn bên bị giã pháo không ngừng. Lần thứ tư, nó hạ, nhưng tôi đã bị cắt cả hai chân. Rồi, ở Ivanovo, ở Tachkent, người ta lại cắt cho tôi bốn lần, và bốn lần đều phát sinh hoại thư. Mỗi lần, họ lại cắt thêm một đoạn và cuối cùng chân tôi bị cắt rất cao. Những lúc đầu, tôi khóc... Tôi thổn thức... Tôi hình dung tôi phải bò dưới đất, tôi không thể đi được nữa, mà chỉ bò. Chính tôi không biết
điều gì đã nâng đỡ tôi, ngăn tôi có những ý nghĩ đen tối. Làm sao tôi đã tự thuyết phục được mình. Chắc chắn là tôi đã gặp những người tốt. Khối người tốt. Chúng tôi có một nhà phẫu thuật chính ông cũng đi chân giả. Ông nói về tôi - là những bác sĩ khác truyền lại cho tôi: “Tôi nghiêng mình trước cô ấy. Tôi đã mổ cho những người đàn ông, nhưng chưa thấy ai có thể so sánh được với cô ấy. Cô ấy không kêu một tiếng.” Tôi đã giữ vững... Rồi, tôi trở về Disna. Trong thành phố nhỏ của tôi. Tôi trở về với đôi nạng. Bây giờ tôi đi kém vì tôi đã già, nhưng thời đó tôi chạy khắp thành phố và vùng ven. Tôi chạy trên đôi nạng. Thậm chí tôi đi kiểm tra các nông trang tập thể. Người ta bầu tôi làm Phó chủ tịch ủy ban Hành chính quận. Đấy là một vị trí quan trọng. Tôi không ngồi bàn giấy. Tôi luôn đi đến các cánh đồng, các làng. Thậm chí tôi bực tức nếu tôi cảm thấy người ta có chút nương nhẹ đối với tôi. Thời đó, không có nhiều giám đốc nông trường có năng lực, và người ta đã phát động một chiến dịch quan trọng, người ta gửi các đại diện của quận đến tại chỗ. Tất cả các ngày thứ hai, chúng tôi được triệu tập đến ủy ban Đảng quận, và mỗi người được giao một công tác. Một buổi sáng, tôi nhìn qua cửa sổ: nhiều người đổ về ủy ban, nhưng tôi, mãi người ta không gọi tôi. Tôi đột nhiên thấy khó chịu, tôi muốn được như mọi người. Cuối cùng, điện thoại reo. Đấy là bí thư thứ nhất: “Fiokla Fiodorovna, sang gặp chúng tôi nhé.” Tôi thật hạnh phúc, dù đối với tôi chạy khắp các làng thật khó kinh khủng. Họ phái tôi đi xa hai mươi, ba mươi cây số, đôi khi tôi tìm được chiếc ô tô đưa đến đó, nhưng thường, phải đi bộ. Tôi đi qua rừng, tôi ngã, và không đứng dậy được. Tôi đặt chiếc túi xuống và tựa vào đấy hoặc bám vào một cái cây, tôi đứng lên và tiếp tục đi. Mà, tôi có một món trợ cấp, tôi có thể đủ sống cho mình, cho mình tôi thôi. Nhưng tôi muốn sống vì những người khác. Tôi là người cộng sản. Tôi không có gì của riêng tôi. Chỉ những huân chương, huy chương, bằng khen. Nhà nước đã xây nhà cho tôi. Trông nó rộng vì bên trong không có trẻ con, đấy là lý do duy nhất... Và trần lại cao. Chúng tôi có hai người: chị tôi và tôi. Bà là chị tôi, mẹ tôi, vú nuôi tôi. Bây giờ tôi già. Buổi sáng tôi không thể trở dậy một mình... Chúng tôi sống cùng nhau, cả hai, chúng tôi sống bằng quá khứ. Chúng tôi có một quá khứ đẹp... Cuộc sống của chúng tôi gian nan, nhưng đẹp và lương thiện, tôi không tiếc số phận tôi. Tôi không tiếc cuộc đời tôi...”
Fiokla Fiodorovna Strouï, du kích “Thời đại đã tạo nên chúng tôi như chúng tôi đã thế. Chúng tôi đã tỏ rõ những gì chúng tôi có thể. Người ta sẽ không biết một thời đại giống như thế nữa. Lý tưởng của chúng tôi bấy giờ trẻ trung và chính chúng tôi cũng trẻ trung. Lénin chết chưa lâu. Stalin đang sống... Chúng tôi tự hào bao nhiêu khi đeo khăn quàng thiếu niên tiền phong. Rồi huy hiệu Komsomol... Và rồi - chiến tranh. Chúng tôi đã là chúng tôi như thế. Tất nhiên, ở quê chúng tôi, ở Jitomir, kháng chiến đã được tổ chức nhanh. Tôi tham gia ngay, thậm chí chúng tôi không đặt câu hỏi chúng tôi có tham gia hay không, chúng tôi có sợ hay không. Chúng tôi thậm chí không đặt câu hỏi... Vài tháng sau, bọn Gestapo dò ra được đường dây của một số thành viên trong mạng lưới. Tôi bị bắt... Tất nhiên là tàn khốc. Đối với tôi, còn tàn khốc hơn cả cái chết. Tôi sợ tra tấn... Tôi sợ không giữ vững được... Mỗi chúng tôi đều có nỗi lo sợ đó. Tôi, chẳng hạn, từ nhỏ, tôi rất sợ đau. Nhưng chúng tôi còn chưa biết, chúng tôi còn chưa biết chúng tôi mạnh đến mức nào... Sau lần thẩm vấn cuối cùng, tôi bị đưa vào danh sách những người tù sẽ bị bắn - và đấy là lần thứ ba, theo tính toán của điều tra viên hỏi cung tôi và tự xưng là nhà sử học. Song, trong cuộc thẩm vấn đó, đã có chuyện này. Tên phát xít ấy muốn hiểu tại sao chúng tôi lại là như thế, tại sao chúng tôi lại thiết tha đến thế với các lý tưởng. “Cuộc sống cao hơn bất cứ ý tưởng nào”, nó bảo thế. Tất nhiên tôi không đồng ý với nó, thế là nó rống lên, nó đánh tôi. “Điều gì đẩy chúng mày đến như thế? Đến chỗ thanh thản nhận lấy cái chết? Tại sao bọn cộng sản tin rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng trên toàn thế giới?” nó hỏi tôi. Nó nói tiếng Nga hoàn hảo. Thế là tôi quyết định nói cho nó tất cả. Tôi biết thế nào tôi cũng sẽ bị giết, nên tốt hơn hết là đừng chết vô ích, phải cho nó biết chúng ta mạnh đến chừng nào. Nó hỏi tôi suốt bốn giờ và tôi đã trả lời nó như tôi có thể, theo những gì tôi đã có thời gian được học về chủ nghĩa Marx-Lénin ở trường và ở đại học. Ôi! Nó mới thật thảm hại! Hai tay nó ôm lấy đầu, nó sải bước dài trong phòng, rồi đột ngột dừng lại trước mặt tôi, cứ như rụng rời, và nhìn tôi rất lâu, nhưng đấy là lần đầu tiên, nó không
đánh tôi nữa... Tôi đứng đó, trước mặt nó... Một nửa số tóc đã bị bứt; vậy mà, trước đó, tôi có hai cái bím to... Đói... Lúc mới bị giam, tôi mơ một khúc bánh mì, dù nhỏ, rồi tôi chỉ mong một miếng vỏ bánh, cuối cùng chỉ vài mẩu vụn... Tôi đứng trước mặt nó... Cái nhìn cháy rực... Nó lắng nghe tôi lâu. Nó lắng nghe tôi và không đánh tôi... Không, nó không sợ, lúc đó chỉ mới là năm 1943. Nhưng nó đã cảm thấy một điều gì đó... một mối hiểm nguy. Nó muốn biết mối nguy nào. Nhưng khi tôi rời căn phòng, nó đã đưa tên tôi vào số tù sẽ bị bắn... Trong đêm trước cuộc hành quyết, tôi đã ôn lại đời mình, một cuộc đời ngắn ngủi... Ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi là lúc bố và mẹ tôi, sau khi đã đi hàng chục cây số dưới mưa bom, đã quyết định trở về nhà. Không ra đi nữa. Ở nhà. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ chiến đấu. Chúng tôi cho rằng theo cách đó thắng lợi sẽ đến nhanh hơn. Tất yếu như thế! Việc đầu tiên chúng tôi làm là tìm và cứu những người bị thương. Họ ở ngoài đồng, trên các bãi cỏ, trong các hố, họ lê lết đến tận các chuồng bò hy vọng tìm được người cứu ở đấy. Một buổi sáng, tôi ra định lấy ít khoai tây và tôi tìm thấy một người ngay giữa vườn cây của chúng tôi. Anh ấy sắp chết... Một sĩ quan trẻ không còn đủ sức để nói với tôi tên anh. Tôi nghĩ không bao giờ tôi thấy hạnh phúc như những ngày ấy... Cứ như bỗng dưng tôi có bố mẹ mới. Trước đấy tôi nghĩ bố tôi không hề quan tâm đến chính trị, trong khi dù không ghi tên vào Đảng ông là một người Bônsêvích. Mẹ tôi là một người nông dân ít học, bà tin Chúa. Suốt chiến tranh, bà cầu nguyện. Nhưng cô biết thế nào không? Bà quỳ xuống trước hình Thánh: “Xin cứu giúp nhân dân! Cứu giúp Stalin! Cứu giúp Đảng Cộng sản khỏi tay tên quỷ sứ Hitler!” Mỗi ngày ở chỗ Gestapo, khi bị thẩm vấn, tôi trông chờ thấy cánh cửa mở ra và bố mẹ tôi bước vào. Bố tôi và mẹ tôi... Tôi biết là tôi đã rơi vào đâu và hôm nay tôi sung sướng đã không khai ra ai hết. Hơn cả chết, chúng tôi sợ phản bội. Khi tôi bị bắt, tôi biết lúc chịu đau đớn đã đến. Tôi biết tinh thần tôi mạnh, nhưng cơ thể tôi - bí ẩn! Tôi không nhớ lần thẩm vấn đầu tiên. Tôi chỉ giữ một kỷ niệm mờ nhạt. Tôi không bị ngất đi. Chỉ một lần tôi bị ngất, khi chúng vặn tay tôi bằng một loại bánh xe. Tôi không nghĩ là tôi đã kêu lên, dù trước đó, chúng đã chỉ cho tôi những người khác đã kêu lên như thế nào. Những lần thẩm vấn tiếp sau,
tôi mất hết cảm giác đau đớn, cơ thể tôi như bằng gỗ. Một cơ thể bằng ván ép. Chỉ sau khi tất cả đã kết thúc và chúng đưa tôi về xà lim tôi mới bắt đầu thấy đau, tôi mới trở thành một vết thương. Cả cơ thể tôi trở thành độc nhất một vết thương... Nhưng phải đứng vững. Đứng vững! Để mẹ biết rằng tôi chết như một con người, không phản bội ai. Mẹ! Chúng đánh tôi, chúng cột tôi, chân trên không. Bao giờ cũng hoàn toàn trần truồng. Khi chúng chụp ảnh tôi, tôi cảm thấy một nỗi đau. Thật kỳ lạ, nhưng tôi cảm thấy một nỗi đau thể xác. Trong khi trước đó, tôi như gỗ. Với hai bàn tay, không bao giờ có thể che kín ngực... Tôi nhìn thấy những người mất trí... Tôi đã thấy cậu bé Kolenka, chưa được một tuổi, mà chúng tôi tìm cách tập cho cháu nói những tiếng đầu tiên, đột nhiên hiểu, một cách phi tự nhiên, khi chúng rứt cháu ra khỏi mẹ, sẽ mãi mãi mất mẹ, lần đầu tiên trong đời, nó thét lên: “Mẹ!” Đấy không phải là một từ hay không chỉ là một từ... Tôi muốn kể lại cho cô... Kể hết cho cô... Ôi! Những con người tôi đã gặp ở đấy! Họ chết trong các căn hầm của Gestapo, và chỉ duy nhất có những bức tường là nhân chứng cho dũng khí của họ. Và hôm nay, bốn mươi năm sau, tôi quỳ gối trong suy tưởng trước họ. “Chết là việc dễ hơn cả”, họ nói. Nhưng sống... Chúng tôi khát khao sống biết bao! Chúng tôi tin chắc chiến thắng sẽ đến, điều duy nhất chúng tôi không chắc, là còn sống khi người ta chào mừng cái ngày vĩ đại đó. Trong xà lim chúng tôi có một cái cửa mái nhỏ, hay đúng hơn, không phải một cái cửa mái, mà chỉ là một cái lỗ: phải có ai đó công kênh mình lên để có thể nhìn thấy, dù không chỉ một khoảng trời xanh, mà một mẩu mái nhà. Chỉ có điều chúng tôi quá yếu đến mức không thể nâng bất cứ ai lên được. Nhưng trong số chúng tôi có một cô gái, Ania, một lính nhảy dù. Cô bị bắt khi tiếp đất, nhóm của cô rơi vào một ổ phục kích. Và thế là cô, toàn thân đẫm máu, đầy vết bầm, đột nhiên yêu cầu chúng tôi: “Nâng tôi lên, tôi muốn nhìn một chút không khí tự do, tôi muốn lên trên cao kia!” “Tôi muốn”, chấm hết. Chúng tôi đã nâng cô lên, mọi người cùng nhau, và cô đã reo lên: “Các bạn, có một bông hoa nhỏ, kia... Thế là, mọi người đều đòi: “Tôi nữa... Tôi nữa.” Và chúng tôi, tôi cũng không biết làm thế nào, chúng tôi đã tìm ra được sức mạnh để giúp hết người này đến người khác. Đấy là một bông hoa bồ công anh, không rõ bằng cách nào, đã hạ cánh xuống cái mái nhà ấy, làm sao nó đã sống sót được. Mỗi người đều có một điều ước
khi nhìn bông hoa ấy. Hôm nay tôi tin chắc tất cả chúng tôi đều đã có một điều ước chung: thoát ra khỏi cái địa ngục này. Tôi yêu mùa xuân. Tôi yêu hoa anh đào và mùi hương của tử đinh hương... Đừng ngạc nhiên vì lối nói của tôi, hồi ấy tôi đã làm thơ. Nhưng bây giờ, tôi không còn thích nữa. Chiến tranh đã chen ngang vào giữa chúng tôi, giữa tôi và thiên nhiên. Khi anh đào ra hoa, tôi đã nhìn thấy những tên phát xít trong thành phố Jitomir quê hương tôi... Tôi còn sống nhờ phép lạ... Tôi đã được cứu sống bởi những người muốn trả ơn bố tôi. Bố tôi là bác sĩ và thời đó là vô cùng quý. Họ đã kéo tôi ra khỏi hàng người... Họ kéo tôi khỏi hàng và đẩy tôi vào bóng tối, khi chúng dẫn chúng tôi đến chỗ hành quyết. Và tôi, tôi không nhận biết gì cả vì đau. Tôi bước đi như trong một giấc mơ... Người ta đưa tôi về nhà, người tôi toàn vết thương, tôi bị ngay một cơn eczéma thần kinh. Thậm chí tôi không chịu được khi nghe thấy tiếng người. Cứ nghe một tiếng, là cơn đau bật dậy. Mẹ và bố nói thầm với nhau. Tôi cứ la hét suốt, tôi chỉ nguôi khi tắm nước nóng. Tôi không để mẹ rời xa một giây. Mẹ nói với tôi: “Bé con của mẹ, mẹ có một món ăn trong lò. Mẹ phải đi ra vườn. Tôi bíu lấy mẹ. Vừa buông bàn tay bà ra, mọi thứ ập trở lại với tôi ngay. Để làm cho tôi thư giãn một chút, họ mang hoa đến. Mẹ hái cho tôi những bông hoa chuông, thứ hoa tôi thích... Mẹ vẫn giữ trong đồ đạc của bà chiếc áo dài tôi mặc khi tôi bị bọn Gestapo bắt. Vài ngày trước khi mất, mẹ vẫn còn chiếc áo ấy dưới gối của bà. Bà đã giữ nó cho đến khi bà chết... Tôi trở dậy lần đầu tiên khi thấy những người lính của chúng ta. Tôi, đứa đã nằm liệt hơn một năm, đột ngột tôi dồn hết sức mạnh và tôi chạy ra đường: “Các anh thân yêu! Các anh đáng ngưỡng mộ! Các anh đã trở về.” Những người lính đưa tôi lại nhà, trong vòng tay của họ. Trong cơn hưng phấn, hôm sau, rồi hôm sau nữa tôi chạy đến phòng tuyển quân: “Bố trí công việc cho tôi đi!” Họ báo cho bố tôi, ông đến tìm tôi: “Con ơi, làm sao con đến được đây? Ai giúp con?” Cái đà phấn chấn ấy chỉ kéo dài vài ngày. Đau đớn trở lại. Một nỗi đau dai dẳng. Tôi la hét suốt ngày. Những người đi qua gần nhà tôi cầu khấn: “Xin Chúa nhận lấy linh hồn cô ấy trên vương quốc của người, hay xin giúp cô đừng phải đau đớn nữa.” Tắm bùn ở Tskhaltoubo đã cứu tôi. Cùng niềm ham sống của tôi. Sống, sống - và không gì khác nữa. Tôi còn một cuộc đời. Tôi đã sống như mọi
người... Mười bốn năm, tôi làm việc ở một thư viện. Đấy là những năm hạnh phúc. Những năm đẹp nhất. Nhưng hiện nay, cuộc sống của tôi đã thành một cuộc chiến đấu không ngừng chống lại bệnh tật. Muốn nói gì thì nói, tuổi già là một thứ bẩn thỉu. Chưa kể bệnh tật. Chưa kể cô đơn. Những đêm dài không ngủ ấy... Nhiều năm đã qua, nhưng tôi vẫn luôn bị ám ảnh bởi cơn ác mộng kinh hãi nhất của tôi, tôi thức dậy đầm đìa mồ hôi và lạnh toát. Tôi không nhớ họ của Ania... Tôi không nhớ đấy là ở vùng Briansk hay vùng Smolensk. Tôi nhớ cô ấy không chịu chết! Cô vòng hai bàn tay trắng và mũm mĩm của cô sau gáy và hét qua cửa sổ giữa các song sắt: “Tôi muốn sống!” Tôi không biết kể chuyện ấy cho ai... Làm sao tìm được những người thân của cô ấy... Cô khóc... Tôi không tìm được ai trong gia đình cô ấy. Tôi nói về cô ấy với tất cả những ai khóc...” Sofia Mirorovna Verechtchak, người hoạt động kháng chiến “Sau chiến tranh, chúng ta biết đến Auschwitz, Dachau... Tôi kinh hoảng trước độ kinh quái con người có thể đạt đến... Làm sao sống được sau những cái đó? Mà tôi thì sắp phải sinh... Cũng vào thời đó, người ta phái tôi về một làng để vận động dân đồng tình cho nhà nước vay mượn. Chính phủ cần tiền để xây dựng lại các nhà máy, các công xưởng. Tôi đi đến nơi: chẳng còn làng, người ta sống ngầm dưới đất. Trong những hang bằng đất nện. Một người đàn bà bước ra, tôi không nói với cô những thứ bà mang trên người là quần áo, nhìn mà sợ. Tôi liều bước vào cái hang của bà nơi tôi nhìn thấy ba đứa trẻ đang ngồi đó, cả ba đều đói. Tôi không biết bà đang giã một loại gì trong cối, một thứ cỏ. Bà hỏi tôi: “Cô đến vận động cho vay mượn?” Tôi trả lời vâng.
Và thế là bà nói: “Tôi không có tiền, nhưng tôi có một con gà mái. Tôi sẽ hỏi bà hàng xóm. Hôm qua bà ấy muốn lấy. Nếu bà ấy mua, tôi sẽ đưa tiền cho cô.” Tôi kể lại chuyện đó hôm nay và tôi nghẹn ở cổ. Chồng bà ấy chết ngoài mặt trận, bà phải nuôi ba đứa con và không có gì hết, ngoài con gà mái ấy, vậy mà bà bán nó để đưa tiền cho tôi. Chúng tôi chỉ quyên tiền mặt. Bà sẵn sàng cho tất cả, miễn là có hòa bình, và các con bà còn sống. Tôi nhớ khuôn mặt của bà, và của tất cả những đứa con bà... Tôi lại thương yêu những con người. Lần nữa, tôi có niềm tin ở họ...” Klara Vassilievna Gontcharova, binh nhì, xạ thủ phòng không
“MẸ ƠI, BỐ LÀ GÌ THẾ?” Họ đã nói về chiến tranh với tư cách người lính. Họ đã nói với tư cách phụ nữ. Bây giờ họ sẽ nói với tư cách người mẹ. VỀ VIỆC TẮM CHO MỘT ĐỨA BÉ VÀ VỀ MỘT NGƯỜI MẸ GIỐNG NHƯ MỘT NGƯỜI BỐ “Tôi chạy... Mấy người chúng tôi chạy. Chạy trốn. Chúng tôi bị đuổi. Những tiếng súng nổ. Ngoài kia, mẹ tôi đã ở dưới làn đạn súng máy. Nhưng bà thấy chúng tôi chạy... Và tôi nghe tiếng bà, bà kêu lên: “Con mặc áo dài trắng và đi giày trắng như thế là đúng đấy. Sẽ chẳng bao giờ có ai để lo chuyện ăn mặc cho con nữa đâu.” Bà chắc chắn là tôi sẽ bị giết chết và bà cảm thấy một niềm vui nào đó khi nghĩ rằng tôi sẽ được chôn với toàn đồ trắng... Đột nhiên im lặng đến lạ... Chúng đã ngừng bắn, tôi không biết vì sao. Chỉ còn nghe những tiếng kêu của mẹ tôi. Nhưng có thể, dẫu sao, tiếng súng vẫn tiếp tục chăng? Tôi không nhớ... Tôi chỉ nhớ tiếng mẹ. Cả gia đình tôi đã chết trong chiến tranh. Chiến tranh đã chấm dứt, nhưng chẳng còn ai để mà chờ trở về.” Lioubov Igorevna Roudkovskaïa, du kích “Minsk bắt đầu bị ném bom. Tôi lao đến vườn trẻ để đón con trai tôi về. Con gái tôi, nó ở bên ngoài thành phố. Nó vừa đúng hai tuổi, nó ở nhà trẻ và nhà trẻ đã tản cư về quê. Tôi quyết định nhận lại con trai tôi và đưa nó về nhà, rồi sau đó đi tìm con gái.
Tôi muốn mọi người nhanh chóng cùng có mặt. Tôi đến gần vườn trẻ, máy bay bay trên thành phố, thả bom xuống khi đi qua. Tôi nghe tiếng con trai tôi sau hàng giậu - nó còn chưa được bốn tuổi: “Đừng sợ. Mẹ tớ bảo sẽ đánh bại bọn Đức nhanh thôi.” Tôi nhìn qua cửa: bọn trẻ ở đấy, đông, và chính nó trấn an những đứa khác. Nhưng khi nhìn thấy tôi, nó run lên và khóc. Thực ra, nó sợ phát khiếp. Tôi đưa nó về nhà và nhờ mẹ chồng tôi trông, còn tôi đi tìm con gái. Tôi chạy! Ở chỗ đáng ra là nhà trẻ, tôi không tìm thấy ai. Những người phụ nữ trong làng chỉ cho tôi là người ta đã mang bọn trẻ đi. Đi đâu? Ai? Họ bảo hẳn người ta đưa trở về thành phố. Có hai cô giáo cùng với chúng và vì xe buýt không đến, họ đã đi bộ. Thành phố cách mười cây số... Nhưng đây là bọn trẻ rất bé, chỉ hai hay ba tuổi. Cô gái thân mến, tôi đã tìm chúng suốt hai tuần. Trong một lô làng khác nhau... Cuối cùng khi tôi vào một nhà và người ta bảo đây đúng là nhà trẻ tôi tìm, tôi đã không tin. Chúng nằm, tôi xin lỗi, trong đống phân, lại bị sốt. Tưởng như chúng đã chết... Hiệu trưởng nhà trẻ là một phụ nữ rất trẻ, nhưng tóc cô ấy đã bạc trắng ra. Cô cho tôi biết họ đã đi bộ suốt đoạn đường về thành phố, vài cháu bé đã bị lạc và vài cháu đã chết. Tôi đi vào giữa bọn trẻ và tôi không thấy con gái tôi. Cô hiệu trưởng an ủi tôi: “Đừng thất vọng. Tìm kỹ đi. Tôi tin chắc cháu ở đây.” “Tôi đã tìm được bé Ella của tôi nhờ có chiếc giày có cổ duy nhất cháu còn đi ở chân... Nếu không, tôi đã không nhận ra được cháu... Sau đó, nhà chúng tôi bị cháy... Chúng tôi phải ra đường, chỉ còn duy nhất những thứ chúng tôi mang trên người. Có những đơn vị Đức đã vào trong thành phố. Chúng tôi không biết đi đâu. Tôi đã lang thang nhiều ngày trên đường cùng các con tôi. Rồi tôi gặp Tamara Sergueïevna Sinitsa, một cô gái tôi có quen sơ trước chiến tranh. Cô nghe tôi nói rồi bảo: “Về ở nhà tôi đi...
- Các con tôi bị ho gà. Làm sao có thể đến nhà cô được? Cô ấy cũng có các con còn nhỏ, chúng có thể bị lây bệnh. Mà đấy là một thời kỳ đáng sợ... Không thuốc men, không bệnh viện. Không gì hết. - Chẳng sao đâu, cứ đến đi.” Cô gái thân mến, cô thấy có thể quên được những điều đó chăng? Họ đã chia sẻ với tôi đôi miếng vỏ khoai tây là phần ăn của họ. Tôi cắt chiếc váy cũ của tôi để may cho con trai một cái quần làm quà sinh nhật. Nhưng chúng tôi mơ ước được chiến đấu... Nằm im khiến tôi đến điên lên... Hạnh phúc bao nhiêu khi được tham gia hoạt động bí mật, thay vì ngồi đó, khoanh tay. Thay vì nghĩ rằng phải chịu nhịn nhục và chờ đợi. Để đề phòng mọi tình huống, tôi đã để con trai tôi ở nhà mẹ chồng. Bà đặt cho tôi một điều kiện: “Mẹ nhận cháu trai của mẹ, nhưng từ nay con đừng đến đây nữa. Con sẽ khiến tất cả chúng ta bị giết.” Suốt ba năm, tôi không thấy lại con trai tôi, tôi sợ đến gần nhà họ. Còn con gái tôi, khi tôi biết tôi bị theo dõi, tôi hiểu là bọn Đức đã dò ra đường dây của tôi, tôi mang nó theo và tôi gia nhập một nhóm du kích. Tôi đã bế nó trên tay đi năm mươi cây số. Trên tay tôi... Nó ở trong ấy với tôi suốt một năm... Tôi tự hỏi làm sao chúng tôi đã sống sót được. Nếu cô đặt câu hỏi đó cho tôi, tôi sẽ không giải thích được cho cô. Bởi vì, cô ạ, sự thể như vậy là điều không thể chịu đựng được. Khi tôi nghe các từ “bao vây du kích”, răng tôi còn run lập cập. Tháng năm 1943. Người ta phái tôi mang một chiếc máy đánh chữ sang cho một vùng du kích lân cận. Vùng Borissov. Họ đã có một chiếc, nhưng là chữ cái cyren[76], nhưng họ cần chữ cái tiếng Đức. Chúng tôi là phân đội duy nhất có loại máy đó. Theo lệnh ủy ban kháng chiến, tôi đã lọt ra được khỏi Minsk ngay trước mũi bọn Đức. Vài ngày sau khi tôi sang đến bên đó, ở vùng hồ Palik, cuộc bao vây bắt đầu. Tôi rơi vào hoàn cảnh mới rắc rối làm sao!... Tôi lại không đi một mình, mà với con gái tôi... Khi tôi đi công tác một hay hai ngày, bao giờ tôi cũng tìm được một ai đó trông hộ, nhưng tôi không tìm được chỗ để nó lại lâu dài. Cho nên, tất nhiên, tôi mang nó theo. Và thế là chúng tôi, nó và tôi, rơi vào vòng vây... Bọn Đức đã vây khu vực do du kích
kiểm soát... Trên trời thì dội mưa bom, dưới mặt đất thì súng máy bắn. Nếu đàn ông, khi họ đi, chỉ phải mang theo súng, thì tôi, tôi có khẩu súng, cái máy đánh chữ và con bé Ella của tôi. Chúng tôi đi tới, tôi loạng choạng, và thế là nó ngã, vượt qua đầu tôi, rơi xuống đầm lầy. Chúng tôi tiếp tục - lại ngã nhào nữa, và cứ thế... suốt hai tháng! Tôi đã thề, nếu tôi thoát ra được, tôi sẽ không đến gần đầm lầy dưới một nghìn cây số nữa. Tôi không thể nhìn nó nữa. “Con biết vì sao mẹ không nằm xuống khi chúng nó bắn. Mẹ muốn cùng chết cả hai.” Con bé của tôi nói với tôi như thế đấy, một con bé bốn tuổi. Nhưng thực ra là tôi không đủ sức nằm dài ra đất. Nếu tôi nằm xuống, tôi không đứng dậy được nữa. Đôi khi, những người du kích thương xót tôi: “Thôi thế đủ rồi, để chúng tôi cõng cháu cho...” Nhưng tôi không tin ai hết. Và nếu bất ngờ chúng bắn, nếu nó chết mà tôi không có ở đấy, tôi không nhìn thấy nó?... Nếu nó bị lạc?... Lopatine, người chỉ huy sư đoàn, đón tôi bằng những lời: “Một người phụ nữ mới tuyệt làm sao!” Ông xúc động. “Trong một hoàn cảnh thế này, mà cô ấy vẫn bế con và không bỏ bớt cái máy chữ. Nhiều người đàn ông không được thế đâu.” Ông ôm Ella của tôi trên tay, hôn nó rối rít. Ông lộn ngược tất cả các túi của ông và cho nó những mẩu bánh mì còn lại trong đó. Nó ăn rồi nó lại ngâm nước đầm lầy. Noi theo người chỉ huy, những người du kích khác cũng lộn ngược túi ra và cho nó những mẩu bánh cuối cùng. Khi chúng tôi đã ra khỏi vòng vây, tôi ốm hẳn. Người tôi đầy đinh nhọt, da tôi tróc từng mảng. Và tôi luôn có con bé trên tay. Chúng tôi chờ một máy bay đến từ vùng tự do, người ta báo cho chúng tôi nó sẽ đến chỗ chúng tôi, nó sẽ chở thương binh và nhân thể, cả bé Ella của tôi. Tôi nhớ lúc đưa nó lên máy bay. Những người thương binh chìa tay ra cho nó: “Ellotchka[77], đến đây với chú”, “Đến đây, còn chỗ đây mà”. Tất cả họ đều biết nó, ở bệnh viện mặt trận, nó hát cho họ: “A! Giá chúng ta còn sống được cho đến ngày
cưới...” Anh phi công hỏi nó: “Con đi với ai, cô bé? - Với mẹ. Mẹ còn ở dưới kia. - Gọi mẹ đi, để mẹ bay cùng. - Không, mẹ không được đi. Mẹ phải đánh bọn phát xít.” Bọn trẻ của chúng tôi là thế đấy. Và tôi, tôi nhìn khuôn mặt bé nhỏ của nó và bụng tôi quặn thắt khi nghĩ nếu tôi không gặp lại được nó một ngày kia. Tôi cũng sẽ kể cho cô, tôi và con trai tôi đã gặp lại nhau như thế nào. Ấy là sau giải phóng. Tôi đi về phía ngôi nhà nơi mẹ chồng tôi vẫn ở và chân tôi cứ rủn đi. Những người phụ nữ trong đơn vị tôi, lớn tuổi hơn tôi, đã báo cho tôi trước: “Khi cô gặp lại nó, dẫu thế nào cũng đừng nói ngay với nó cô là mẹ nó. Cô có hình dung tất cả những gì nó đã trải qua trong khi không có cô?” Con gái một bà láng giềng chạy tới: “Ô! Mẹ của Lionia! Lionia vẫn sống đấy, cô biết không?...” Đôi chân tôi không còn tuân theo tôi nữa: con trai tôi còn sống. Cô bé kể với tôi rằng mẹ chồng tôi đã chết vì sốt chấy rận và một bà láng giềng đã đưa nó về nhà bà. Tôi bước vào sân. Tôi ăn mặc thế nào? Một chiếc áo varơi quân đội, một chiếc váy đen vá và đi ủng cũ. Bà láng giềng nhận ra tôi ngay, nhưng bà im lặng. Và con trai tôi ở đó, ngồi bên ngoài, chân trần, rách rưới. “Cháu tên là gì, cháu bé? - Lionia ... - Cháu sống với ai?
- Trước đây cháu sống với bà nội. Khi bà chết, cháu đã chôn bà. Ngày nào cháu cũng ra thăm bà và xin bà mang cháu cùng bà vào trong mồ. Cháu sợ ngủ một mình. - Vậy bố và mẹ cháu đâu? - Bố cháu còn sống, bố ở ngoài mặt trận. Mẹ cháu bị bọn phát xít giết. Bà cháu bảo thế...” Tôi đi cùng hai người du kích cũ, họ đến dự đám tang các đồng chí của họ. Họ nghe những điều con trai tôi nói và họ khóc. Đến lúc ấy, tôi không kìm mình được nữa: “Tại sao con không nhận ra mẹ?” Nó lao vào tôi: “Bố!” Tôi mặc quần áo nam, đội mũ chapka. Rồi nó ôm siết lấy tôi và kêu lên: “Mẹ!” Ôi một tiếng kêu! Một cơn cuồng loạn. Suốt một tháng, nó không rời tôi một bước, ngay cả khi tôi đi làm việc. Tôi dẫn nó theo. Nhìn thấy tôi, gần tôi không đủ, nó cần chạm vào tôi. Ngồi ăn ở bàn, một bàn tay nó bám vào tôi và tay kia ăn. Nó chỉ gọi tôi là “mẹ bé nhỏ của con”. Cho đến hôm nay nó cũng chỉ gọi tôi như vậy, “mẹ bé nhỏ” hay “mẹ yêu”... Khi chồng tôi và tôi gặp lại nhau, chúng tôi không có được quá một tuần để kể lại tất cả. Tôi nói với anh ấy cả ngày và đêm...” Raïssa Grigorievna Khossenevitch, du kích “Chúng tôi chôn... Chúng tôi thường phải chôn những người du kích. Khi
thì một nhóm rơi vào ổ phục kích, khi thì những người chết trong chiến đấu. Tôi sẽ kể cho cô một trong những lần chôn ấy. Chúng tôi đánh một trận rất căng. Chúng tôi mất nhiều người, và chính tôi cũng bị thương. Sau trận đánh là đám tang. Thông thường, người ta đọc những điếu văn ngắn trước mộ. Trước hết là người chỉ huy nói, rồi những người bạn. Nhưng lần này, trong số người chết có một cậu con trai trẻ ở tại đây, và mẹ cậu đến chôn cậu. Bà bắt đầu than khóc, bằng tiếng Biélorussi: “Ôi, con yêu của mẹ! Thế mà chúng ta đã xây một ngôi nhà cho con! Và con thì con hứa dẫn về cho chúng ta một cô gái trẻ! Bây giờ thì con cưới nắm đất rồi...” Trong các hàng không ai nhúc nhích, người ta im lặng, không ngắt lời bà. Rồi bà ngẩng đầu lên và nhận ra rằng con trai bà không phải là nạn nhân duy nhất. Nhiều người trai trẻ khác đang nằm trên mặt đất. Thế là bà khóc cho những người ấy, họ là con trai những người bà không quen biết: “Ôi, các con trai yêu của ta! Mà mẹ các con không có ở đây để nhìn các con, các bà không biết người ta sắp đặt các con vào lòng đất! Và đất thì lạnh lắm. Băng giá hung ác khắp nơi. Nên ta khóc các con thay cho họ, ta sẽ khóc tất cả. Các con yêu của ta... Các con quý của ta...” Khi bà nói: “Ta sẽ khóc tất cả” và “các con quý của ta”, tất cả những người đàn ông, trong các hàng, bỗng nức nở to lên. Không ai kìm được nữa, thậm chí không còn đủ sức. Người chỉ huy bèn hô to: “Một tràng!” Và tràng đạn át cả tiếng khóc. Và tôi thật xúc động vì tấm lòng cao cả của người mẹ, cô thấy đấy - cho đến hôm nay tôi vẫn nghĩ đến chuyện đó - trong nỗi đau mênh mông của mình, trong khi người ta chôn con trai bà, bà vẫn còn tấm lòng để khóc những người con trai khác, như họ là con trai bà.” Larissa Leontievna Korotkaïa, du kích “Tôi trở về làng tôi... Trẻ con chơi trước nhà chúng tôi. Tôi nhìn chúng và tôi nghĩ: “Đứa nào là con gái tôi?” Chúng đều giống nhau. Tất cả đều cắt tóc ngắn, như ngày xưa
người ta cắt lông cừu, hàng loạt. Tôi không nhận ra con gái tôi, tôi hỏi đứa nào trong bọn là Lioussia. Lúc đó tôi thấy một trong các cậu con trai, mặc một chiếc áo sơ mi dài, chạy lao về phía nhà. Khó phân biệt trong đám đứa nào là con trai đứa nào là con gái, vì chúng đều mặc giống nhau. Tôi hỏi lại: “Vậy, trong các cháu, đứa nào là Lioussia? Chúng chỉ tay về phía nhà. Và tôi hiểu cậu bé vừa chạy về nhà là con gái tôi. Một lúc sau, một bà cụ dắt tay đưa nó ra khỏi nhà - đấy là bà ngoại tôi, mẹ của mẹ tôi. Bà dẫn nó đến chỗ tôi: “Đi, đi. Người ta sắp mắng bà mẹ này vì tội đã bỏ rơi chúng ta đấy.” Tôi đi ngựa, tôi đội mũ calô và mặc quân phục. Chắc chắn là con gái tôi tưởng tượng mẹ nó giống bà nó và những phụ nữ khác. Thế mà, nó nhìn thấy trước mặt nó một người lính. Phải khá lâu nó mới chịu để cho tôi ôm nó trong vòng tay tôi, tôi khiến nó sợ. Tôi chẳng có gì phải trách nó, nói cho cùng, có phải tôi đã nuôi lớn nó đâu, nó đã lớn lên với các bà của nó. Quà tôi mang về cho nó là một bánh xà phòng. Thời đó, ấy là quá sang, và khi tôi bắt đầu tắm cho con gái tôi, nó cắn ngập răng vào đấy, nó muốn nếm, muốn ăn. Họ đã sống như thế đấy. Tôi nhớ mẹ tôi trong hình ảnh một phụ nữ trẻ, nhưng đón tôi là một bà già. Người ta nói với bà là con gái bà đã về đấy, thế là bà lao ra khỏi vườn. Bà nhìn thấy tôi ngoài đường, bà giang hai tay ra và chạy về phía tôi. Tôi cũng thế, tôi đã nhìn thấy bà và tôi lao tới gặp bà. Bà không vượt qua được mấy bước chúng tôi còn cách nhau, bà ngã xuống, vì đuối sức. Tôi cũng ngã xuống, cạnh bà. Tôi ôm bà. Trong lòng tôi xiết bao thương yêu, xiết bao căm giận. Tôi nhớ một tên Đức bị thương nằm dưới đất, nó bám vào đất, vì nó đau. Một trong số những người lính của chúng ta đã đến gần nó: “Đừng chạm vào đó, đấy là đất của ta! Đất của ngươi ở bên kia, nơi từ đó ngươi đến đây.”” Maria Vassilievna Pavlovets, bác sĩ du kích
“Tôi ra trận sau chồng tôi... Tôi để con gái tôi lại ở nhà mẹ chồng, nhưng chẳng bao lâu sau bà đã chết. Chồng tôi có một người em gái, cô đã nhận nó. Sau chiến tranh, khi tôi đã giải ngủ, cô không muốn trả con lại cho tôi. Cô bảo tôi rằng tôi không thể có lại được, khi tôi đã bỏ nó lúc còn bé thế để đi ra trận. Làm sao một người mẹ có thể bỏ con của mình, nhất là khi nó còn nhỏ yếu và đơn côi thế? Khi tôi từ chiến tranh trở về, con gái tôi đã bảy tuổi, khi tôi để nó lại, nó mới lên ba. Tôi gặp lại một đứa con gái đã lớn. Nó gầy còm, nó ăn không đủ no, ngủ không đủ giấc; có một bệnh viện gần nhà, nó phải thường xuyên đến đấy, nó biểu diễn này nọ, nó múa, người ta cho nó bánh mì. Về sau nó kể lại cho tôi tất cả những chuyện đó... Lúc đầu nó chờ bố và mẹ, rồi chỉ còn chờ mẹ. Bố nó đã chết... Nó hiểu... Ở ngoài mặt trận, tôi thường nghĩ đến con gái tôi, tôi chẳng lúc nào quên nó, trong các giấc mơ tôi thấy nó. Tôi nhớ nó vô cùng. Nhưng tôi không giận cô em chồng. Tôi cố hiểu cô: cô rất yêu anh trai cô, anh ấy mạnh khỏe, đẹp trai, một người con trai như thế thì không thể bị giết chết. Anh chết ngay những tháng đầu chiến tranh. Và cô không muốn trả lại những gì còn lại của anh trai cô. Cô thuộc loại những người đàn bà coi gia đình, con cái, là quan trọng hơn cả trên đời. Bom ném, pháo nện mà cô chỉ nghĩ đến một điều: sao thế, hôm nay chưa tắm cho con bé! Tôi không thể trách cô... Cô bảo tôi là một người độc ác... Rằng tôi không có một trái tim phụ nữ... Song, ở ngoài mặt trận, chúng tôi rất đau khổ... Không gia đình, không tổ ấm, không có các con của mình... Nhiều người phụ nữ đã để lại con ở nhà, tôi không phải là duy nhất. Chúng tôi ở đấy, ngồi dưới một tấm vải dù, chờ một chuyến công tác. Đàn ông chơi đôminô, còn chúng tôi, cho đến lúc có tín hiệu cất cánh, chúng tôi thêu những chiếc khăn tay. Chúng tôi vẫn là phụ nữ. Cô biết không, cô hoa tiêu của chúng tôi, chẳng hạn, cô muốn gửi một tấm ảnh về nhà; thế là, một đứa trong chúng tôi tìm được một chiếc khăn san trong đồ đạc của mình, chúng tôi buộc khăn san ấy lên vai cô làm sao che được các cầu vai của cô đi, và chúng tôi khoác khăn cho cô để che lấp áo varơi của cô. Trông như cô đang mặc áo dài... Chúng tôi đã chụp ảnh cô như thế. Đấy là bức ảnh cô thích nhất... Còn con gái tôi, chúng tôi đã thành bạn của nhau... Suốt đời...”
Antonina Grigorievna Bondareva, trung úy cận vệ, cơ trưởng VỀ CÔ BÉ QUÀNG KHĂN ĐỎ VÀ NIỀM VUI GẶP MỘT CON MÈO TRONG CHIẾN TRANH Phải lâu tôi mới quen được với chiến tranh... Chúng ta chuyển sang tấn công. Khi một người bị thương mất máu động mạch - tôi chưa bao giờ thấy chuyện đó, máu phun như một cái vòi nước - động tác đầu tiên của tôi là chạy đi tìm một bác sĩ. Nhưng chính người bị thương kêu lên: “Cô đi đâu thế? Sao cô đi đâu thế? Đặt cho tôi một cái garô!” Chỉ lúc đó tôi mới sực tỉnh ra... Điều kinh khủng nhất... Là một cậu bé bảy tuổi mất mẹ. Mẹ nó bị giết. Khi những người lính chết đã khủng khiếp, nhưng khi những người mẹ chết... Cậu bé ngồi trên đường cạnh xác mẹ. Nó không biết mẹ không còn nữa, nó chờ bà thức dậy và nó đòi bà cho ăn... Người chỉ huy của chúng tôi không để thằng bé đi, ông nhận nó đi cùng ông: “Con không còn mẹ, cậu bé ạ, nhưng con sẽ có nhiều bố.” Cậu đã lớn lên ở chỗ chúng tôi như thế đó. Nó như là con trai của trung đoàn. Nó bảy tuổi... Khi cô đi rồi, chồng tôi sẽ mắng tôi. Anh ấy không thích loại trò chuyện này. Anh ấy không tham gia chiến tranh, anh ấy trẻ, trẻ hơn tôi. Chúng tôi không có con. Tôi nhớ mãi cậu bé ấy. Nó đã có thể là con tôi... Sau chiến tranh, tôi thương xót mọi sinh linh. Tôi không thể nhìn một con gà... một con lợn rừng... chảy máu. Tôi thương xót những con chó què, những con mèo. Tôi nhặt tất... Thật kỳ quặc, tôi không thể chịu được nỗi đau của người khác. Tôi đã làm việc ở bệnh viện và người bệnh rất thương tôi, họ thấy sao tôi tốt vậy. Chúng tôi có một khu vườn rộng. Tôi không bao giờ bán một quả táo, một quả mọng. Tôi chia cho mọi người. Tôi muốn được thương yêu mọi người... Đấy là do chiến tranh để lại cho tôi...”
Lioubov Zakharovna Novik, y tá “Tôi không sợ chết. Tôi tự nhủ: khi nó đến, tôi không còn nữa... Nhưng tôi sợ tra tấn... Nếu có những đồng chí bị bắt, chúng tôi trải qua những ngày chờ đợi khủng khiếp: họ có chịu được tra tấn hay không? Nếu họ lung lay, thì sẽ có bắt bớ nữa. Ít lâu sau, chúng tôi được tin họ sẽ bị hành quyết. Người ta giao nhiệm vụ cho tôi đi xem hôm nay ai sẽ bị treo cổ... Tôi đi ngoài đường, tôi thấy chúng đã chuẩn bị dây. Không được khóc, không được chậm bước một giây, vì chỗ nào cũng có do thám. Và phải can đảm biết bao nhiêu (có lẽ từ đó không đúng), bao nhiêu sức mạnh tinh thần, để mà im lặng. Không kêu lên. Không khóc... Thời đó, tôi không khóc... Tôi biết khi tham gia kháng chiến tôi phải chịu hiểm nguy thế nào, nhưng tôi thật sự hiểu và cảm nhận nó là khi tôi bị bọn SD[78] bắt. Tôi bị đánh bằng những cú đạp bằng ủng, đánh bằng roi ngựa. Tôi được biết thế nào là “sửa móng tay” kiểu phát xít. Chúng cố định hai bàn tay ta trên bàn và một loại máy đóng những cây kim vào bên dưới móng tay ta... Cùng một lúc dưới mỗi móng tay. Nỗi thống khổ địa ngục. Ngay lập tức ta ngất đi. Tôi không nhớ thật sự thế nào, tôi biết rằng đó là một nỗi đau khủng khiếp và sau đó là gì, tôi không nhớ. Tôi bị căng thây ra trên xà gỗ. Có thể không chính xác, có thể gọi thế không đúng. Nhưng tôi nhớ thế này: ở đây có một cây xà, và ở kia một cây, chúng đặt tôi vào giữa... Và rồi một loại máy. Ta nghe xương ta răng rắc và bị tháo rời ra. Cái đó có kéo dài lâu không? Tôi cũng không nhớ nữa... Tôi cũng bị tra tấn trên ghế điện. Ấy là khi tôi nhổ vào mặt một trong các tên đao phủ. Tôi không nhớ nó trẻ hay già. Chúng lột tôi hoàn toàn trần truồng, tên đó đến gần và nắm vào ngực tôi... Tôi bất lực... Tôi chỉ có thể khạc nhổ... Thế là tôi nhổ vào mặt nó. Và chúng bắt tôi ngồi ghế điện... Từ đó, tôi sợ điện. Tôi nhớ nó gây co giật như thế nào... Cả đến hôm nay nữa, thậm chí tôi không thể là quần áo... Tôi bị như vậy suốt đời. Vừa chạm bàn tay vào bàn là sắt, là tôi nghe dòng điện chạy khắp người. Tôi không thể làm bất cứ việc gì có dính đến điện. Có thể tôi cần một liệu pháp tâm lý sau
chiến tranh? Tôi không biết. Nhưng tôi đã sống cuộc đời tôi như thế... Tôi không biết vì sao hôm nay tôi khóc. Hồi ấy, tôi không khóc... Chúng kết tội tôi phải chết treo cổ. Chúng chuyển tôi vào xà lim những người bị tử hình. Ở đấy còn hai người phụ nữ khác. Cô biết không, chúng tôi không khóc, chúng tôi không buông mình cho cơn hoảng sợ: Chúng tôi biết, dấn thân vào kháng chiến, điều gì đã chờ chúng tôi, cho nên chúng tôi bình thản. Chúng tôi nói chuyện thơ, chúng tôi nhắc lại những vở nhạc kịch yêu thích... Chúng tôi nói rất nhiều đến Anna Karénina... Đến tình yêu... Chúng tôi thậm chí không gợi đến các con chúng tôi, chúng tôi quá sợ các kỷ niệm ấy. Thậm chí chúng tôi đã cười, động viên lẫn nhau. Chúng tôi đã trải qua hai ngày rưỡi như thế. Ngày thứ ba, buổi sáng, tôi bị gọi. Chúng tôi đã vĩnh biệt nhau, chúng tôi đã ôm hôn nhau mà không có nước mắt. Tôi không sợ: hẳn tôi đã quá quen với ý nghĩ về cái chết đến mức tôi không sợ nữa. Tôi cũng không có nước mắt. Như là một khoảng không. Tôi không nghĩ đến ai nữa cả... Xe chạy lâu, tôi không nhớ chính xác bao lâu... Tôi vĩnh biệt cuộc sống, đúng không? Nhưng cuối cùng xe dừng lại. Chúng tôi khoảng hai mươi người và không ai bước xuống vì bị thương quá nặng. Chúng ném chúng tôi xuống đất, như những con chó chết và tên chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi bò vào một cái trại. Chúng dùng roi ngựa để thúc chúng tôi bò tới... Gần trại, có một người phụ nữ đang cho con bú. Thế là! Cô biết không... Những con chó, những tên lính gác, tất cả đứng im phắc tại chỗ, chúng bất động, không ai nghĩ đến việc chạm tới bà ấy. Tên chỉ huy khi nhìn thấy cảnh tượng đó... nó nhảy tới. Nó rứt đứa bé khỏi tay người mẹ... Và cô biết không, ở đấy có một cái máy nước, một cái bơm để lấy nước, nó quật thằng bé vào cái cọc sắt ấy. Óc chảy ra... Như là sữa... Và tôi thấy người mẹ gục xuống, tôi thấy bà, và tôi hiểu... vì tôi là bác sĩ, đúng không... Tôi hiểu trái tim bà không chịu nổi... Chúng đưa chúng tôi đi lao động. Chúng đưa chúng tôi qua thành phố, trên những con đường thân thuộc với tôi. Chúng tôi vừa vào một lối hơi dốc -thì tôi bỗng nghe một tiếng nói: “Mẹ, mẹ của con!” Và tôi nhìn thấy dì Dacha của tôi, đứng lặng trên vỉa hè, bên kia đường, và con gái tôi chạy về phía tôi. Họ tình cờ đi qua đó và nhìn thấy tôi. Con gái tôi chạy hết sức và nhảy lên ôm lấy cổ tôi. Mà cô biết không, có những con chó được huấn luyện đặc biệt để tấn công người, vậy mà không con nào động đậy. Thông thường, ai đó đến
gần, những con chó ấy xé ra từng mảnh, chúng được huấn luyện để làm thế, nhưng ở đây, không con nào thoáng nhúc nhích. Con gái tôi lao vào trong vòng tay tôi, tôi không khóc, tôi chỉ nói: “Con gái nhỏ của mẹ! Natacha của mẹ! Đừng khóc. Rồi mẹ sẽ về nhà.” Bọn lính gác đứng đó, cả chúng cũng không động đậy, như các con chó. Không ai động đến nó... Cả lúc ấy nữa, tôi không khóc... Năm tuổi, con gái tôi đã đọc những lời kinh, chứ không phải thơ. Dì Dacha dạy nó phải cầu kinh như thế nào. Nó cầu cho bố và mẹ, cầu cho chúng tôi còn sống. Ngày 13 tháng Hai 1944, tôi bị chuyển vào một nhà giam của bọn phát xít, ở trại tập trung Croisette, trên vùng Manche[79]. Ngày 18 tháng ba, ngày kỷ niệm Công xã Paris, một số người Pháp đã tổ chức cuộc vượt ngục của chúng tôi, và tôi ra chiến khu. Tôi được thưởng huân