chương chiến tranh của Pháp... Sau chiến tranh, tôi về nước. Tôi nhớ chặng dừng đầu tiên trên đất ta. Chúng tôi nhảy xuống khỏi toa, chúng tôi ôm hôm đất đai của chúng ta, chúng tôi vuốt ve nó... Tôi nhớ: tôi mặc một chiếc áo blu trắng, tôi quỳ xuống, tôi hôn đất, và tôi trút từng nắm đất lên ngực tôi. Tôi nghĩ: “Làm sao tôi còn có thể xa rời nó, xa rời mảnh đất thân yêu này?” Tôi về đến Minsk, nhưng chồng tôi không có ở nhà. Con gái tôi ở nhà dì Dacha. Chồng tôi bị NKVD bắt. Tôi đi đến đó... Và tôi nghe những gì... Họ nói với tôi: “Chồng cô là một tên phản bội.” Nhưng, chồng tôi và tôi đã làm việc cùng nhau trong kháng chiến. Chồng tôi là một người lương thiện và dũng cảm. Tôi biết anh là đối tượng của một vụ tố giác... Một vụ vu khống. “Không, tôi trả lời, chồng tôi không phải là một kẻ phản bội. Tôi tin anh ấy. Đấy là một người cộng sản chân chính.” Viên sĩ quan phụ trách hồ sơ của anh gào lên: “Bịt miệng con kia lại, đồ đĩ Pháp! Câm mồm đi!” Có một sự nghi ngờ đối với tất cả những người bị địch bắt, với tất cả những ai đã sống dưới thời bị chiếm đóng. Thậm chí họ không thèm quan tâm đến việc chúng tôi đã dấn thân vào cuộc chiến đấu. Nhân dân đã thắng cuộc chiến tranh, nhưng không phải ai cũng được tin tưởng. Tổ quốc đã cám ơn chúng tôi như thế đó. Cảm ơn tình yêu Tổ quốc của chúng tôi, máu chúng
tôi đã đổ vì Tổ quốc... Tôi vận động khắp nơi... Tôi viết cho tất cả các cấp xét xử. Sáu tháng sau chồng tôi được thả. Họ đã đánh anh gãy một xương sườn và vỡ một quả thận. Khi anh sa vào tay bọn phát xít, chúng đã đánh anh nứt sọ và gãy một cánh tay, tóc anh đã bạc ra, nhưng năm 1945, NKVD cuối cùng đã hoàn tất việc biến anh thành một người tàn phế. Tôi đã chạy chữa cho anh suốt nhiều năm, nhiều lần tôi đã cứu anh khỏi bệnh tật. Nhưng tôi không thể nói gì ngược lại, anh không nghe tôi. “Đấy là một nhầm lẫn”, anh bảo. Đối với anh, điều quan trọng nhất là đã chiến thắng. Chấm hết. Và tôi tin anh... Tôi không khóc. Thời ấy, tôi không khóc...” Lioudmila Mikhaïlovna Kachetchkina, người hoạt động kháng chiến “Làm sao cắt nghĩa cho một đứa bé? Làm sao cắt nghĩa cho nó về cái chết... Tôi đi với con trai tôi ngoài đường và đường đầy xác chết. Tôi kể cho nó chuyện Cô bé quàng khăn đỏ và xung quanh chúng tôi chỗ nào cũng là người chết. Đấy là khi chúng tôi từ chỗ tản cư trở về. Chúng tôi ở nhà mẹ tôi và rất nhanh chóng tôi nhận ra ngay cậu con trai tôi có gì đó không ổn: nó chui vào gầm giường và nấp ở đó suốt ngày. Hồi ấy nó lên năm mà không thể nào bảo nó đi ra bên ngoài... Tôi day dứt suốt một năm về nó. Tôi không biết đã có chuyện gì với nó. Mà, chúng tôi sống dưới tầng hầm: khi có người đi qua, chỉ nhìn thấy giày của họ. Một lần, con trai tôi quyết định chui ra khỏi gầm giường và nhìn thấy một đôi ủng đứng cắm trước cửa sổ. Nó đã rú lên... Tôi mới nhớ ra một hôm một tên phát xít dùng ủng đánh nó một phát... Ừ thì, dẫu sao, cuối cùng đối với nó chuyện đó cũng qua đi. Một hôm khác, nó chơi với bọn trẻ khác ngoài sân, buổi tối nó về và hỏi tôi: “Mẹ ơi, bố như thế nào, hở mẹ?”
Tôi giải thích cho nó: “Bố đẹp, bố rất đẹp, nước da bố rất trắng, bố chiến đấu trong quân đội.” Nhưng khi Minsk được giải phóng, tiến vào thành phố trước tiên là các xe tăng. Và thế là cậu con tôi chạy về nhà vừa khóc: “Không có bố của con ngoài ấy! Ngoài ấy chỉ có những người đen, không có người trắng... Đang tháng Bảy, các chiến sĩ xe tăng đều trẻ, rất sạm nắng. Chồng tôi từ chiến tranh trở về tàn phế. Không còn là một người đàn ông trẻ trung, mà là một ông già, và thật là khổ cho tôi: con trai tôi đã quen tưởng tượng bố nó là người đàn ông đẹp, nước da trắng, thế mà lại là một ông già đau ốm đến nhà. Cho nên rất lâu nó mới chịu nhận anh là bố. Do thế, nó không biết gọi anh như thế nào. Tôi phải tập cho hai người quý mến nhau. Chồng tôi đi làm việc về, tôi mở cửa cho anh vừa nói: “Sao anh về muộn thế, Dima lo đấy, nó hỏi bố nó ở đâu?” Anh ấy cũng vậy, cô thấy không, sáu năm chiến tranh (anh ấy còn đánh Nhật nữa[80]), anh cũng đã quên mất thói quen với con trai. Với nhà mình. Nên khi tôi mua thứ gì đó cho con trai, tôi nói với nó: “Bố mua cái này cho con đấy, bố nghĩ đến con.” Từng chút một, cuối cùng bố con đã gần nhau.” Nadejda Vikentievna Khattchenko, người kháng chiến “Tiểu sử tôi. Tôi làm việc trong ngành đường sắt từ 1929. Tôi là phụ máy. Hồi đó ở Liên Xô không có một người phụ nữ thợ máy nào. Mà tôi thì mơ thành thợ máy. Ông giám đốc kho xe thất vọng kêu lên: “Ôi, cái cô gái này! Cô chỉ
thích nghề đàn ông.” Nhưng tôi cứ cố nài. Năm 1931, tôi là người phụ nữ lái đầu máy xe lửa đầu tiên. Cô sẽ không tin đâu, nhưng khi tôi leo lên đầu máy, người ta tập họp trên sân ga: “Ôi, một cô gái lái xe lửa!” Một hôm, đầu máy của chúng tôi nằm kho để kiểm tra. Chồng tôi và tôi, chúng tôi làm việc luân phiên, vì chúng tôi đã có một cháu bé. Chúng tôi thu xếp như sau: nếu anh ấy trực, thì tôi giữ bé, và nếu tôi đi làm, thì anh ở nhà. Đúng ngày hôm ấy, chồng tôi vừa về và đến lượt tôi đi. Buổi sáng, tôi thức dậy và tôi nghe có tiếng ồn ào bất thường ngoài đường. Tôi mở radio: “Chiến tranh!” Tôi nói với chồng tôi: “Liona, dậy đi, chiến tranh rồi! Dậy đi, chiến tranh rồi!” Anh chạy đến kho xe và trở về nước mắt ròng ròng: “Chiến tranh rồi! Chiến tranh rồi! Em có biết thế nào là chiến tranh không?” Làm thế nào? Làm thế nào với cháu bé đây? Chúng tôi tản cư, con trai tôi và tôi, ở Oulianovsk, trong nội địa. Người ta cho chúng tôi ở một căn hộ hai phòng, một căn hộ đẹp, ngày nay tôi cũng chẳng có được thế. Họ cho con trai tôi vào nhà trẻ. Mọi sự đều ổn. Mọi người yêu mến tôi. Thế nào, một người phụ nữ thợ máy, lại là người đầu tiên. Cô sẽ không tin tôi, tôi đã ở đấy không lâu, chưa đến sáu tháng. Tuy nhiên, tôi không thể chịu được nữa: mọi người bảo vệ Tổ quốc, còn tôi ở nhà lê mông trên ghế sao! Chồng tôi đến: “Thế nào, Maroussia, em chịu ở hậu phương sao? - Không, tôi trả lời anh, chúng ta cùng đi.” Thời đó, người ta thành lập một đoàn tàu dự bị đặc biệt nhằm phục vụ giao thông cho mặt trận đang được tổ chức. Chồng tôi và tôi xin được bổ dụng về đoàn tàu đó. Chồng tôi là máy trưởng, tôi là thợ máy. Chúng tôi đã trải qua
bốn năm trên đường ray, trong toa hàng được bố trí lại và con trai ở cùng chúng tôi. Suốt bốn năm, nó không bao giờ được thấy một con mèo. Khi cuối cùng nó bắt được một con, ở ven Kiev, tàu chúng tôi bị một trận bom khủng khiếp, năm máy bay tấn công chúng tôi, còn nó, nó vòng tay ôm con vật nhỏ: “Con mèo của tớ, có cậu tớ mới vui làm sao. Tớ chẳng bao giờ thấy mặt mũi ai cả, ở đây với tớ. Để cho tớ ôm hôn cậu.” Một đứa bé. Và một đứa bé thì phải có thế giới bé con của nó. Nó thiu thiu giấc ngủ vừa nói: “Mẹ yêu, chúng ta có một con mèo. Thế là bây giờ chúng ta đã có một cái nhà thực sự.” Cô sẽ không tin tôi... Chúng tôi thường xuyên bị ném bom, bị bắn. Và bao giờ chúng cũng nhằm vào đầu máy: quan trọng đối với bọn Đức là giết chết người thợ máy, phá hủy đầu máy. Các máy bay hạ xuống rất thấp và bắn vào đầu máy và toa xe nối sát sau, nơi con trai tôi ở đó. Cô sẽ không tin tôi, nhưng khi bị bom, tôi đi tìm nó để nó ở cùng tôi. Tôi ôm nó trong vòng tay và siết chặt nó trên tim tôi: “Để cho mẹ con ta cùng chết vì một mảnh đạn.” Nhưng người ta có thể bị giết chết như thế sao? Có thể chính vì thế mà mẹ con tôi còn sống. Đầu máy là cuộc đời tôi, tuổi trẻ của tôi, là điều đẹp đẽ nhất đã có được trong đời tôi. Tôi vẫn còn thích lái tàu, nhưng họ không cho phép tôi: tôi đã quá già. Thật kinh khủng khi chỉ có một đứa con. Thật ngu ngốc. Hiện nay chúng tôi sống... Tôi sống với gia đình con trai tôi. Nó là bác sĩ trưởng. Chúng tôi có một căn hộ nhỏ. Nhưng tôi không bao giờ đi nghỉ dưỡng, tôi không nhận phiếu nghỉ dưỡng[81] nào. Cô sẽ không tin tôi, nhưng tôi không muốn xa con trai, xa các cháu tôi, dù chỉ một ngày. Và con trai tôi, nó cũng không bao giờ đi. Nó làm việc đã hai mươi lăm năm, nhưng nó không bao giờ sử dụng một phiếu nghỉ dưỡng. Ở bệnh viện, mọi người đều rất ngạc nhiên việc nó không bao giờ muốn hưởng chuyện đó. “Mẹ yêu, tốt hơn hết là con ở nhà với mẹ”, nó nói thế. Và con dâu tôi cũng như nó. Cô sẽ không tin tôi, nhưng chúng tôi không có dacha[82], chỉ vì chúng tôi không muốn xa nhau, dù chỉ vài ngày. Tôi không thể sống một phút không có chúng. Nếu cô đã từng ở trong chiến tranh, cô sẽ hiểu thế nào là xa cách một ai đó, dù chỉ một ngày. Chỉ một ngày.”
Maria Alexandrovna Arestova, lái đầu máy xe lửa TIẾNG KÊU VÀ TIẾNG THÌ THẦM “Cho đến hôm nay, tôi chỉ nói thầm chuyện đó. Bốn mươi năm sau... Nói thầm... Tôi phơi quần áo trên hiên. Tôi nghe chị láng giềng gọi tôi... Chị kêu một giọng lạ kỳ: “Valia! Valia!” Tôi chạy xuống: Ivan đang ở trong sân... Chồng tôi... Anh ở mặt trận về! Còn sống! Tôi ôm anh, tôi sờ anh. Tôi vuốt ve anh... Tôi siết anh trong vòng tay tôi. Còn anh, anh như đã biến thành giấy bìa. Tôi cảm nhận điều đó, anh như đã chết một nửa, hoàn toàn băng giá. Tôi bỗng thấy sợ chắc chắn, anh bị chấn động. Được rồi, mặc kệ, tôi tự nhủ, tôi sẽ biết cách chạy chữa cho anh. Quan trọng là anh đã về... Tất cả những cái đó thoáng qua đầu tôi trong một giây. Chỉ một giây... Những người láng giềng đã kéo đến. Mọi người đều vui mừng, nhưng anh, anh vẫn như bằng đá. Tôi nói với anh: “Vania, có chuyện gì thế? Đã xảy ra chuyện gì thế? - Vào nhà đi.” Chúng tôi đi vào. Chúng tôi ngồi xuống. “Em hiểu... Và anh không thể nói thêm một tiếng nào nữa. Rồi, anh khóc. Chúng tôi có một đêm... Đúng một đêm... Sáng sớm hôm sau, họ đến tìm anh. Họ dẫn anh đi. Như một tên tội phạm. Anh biết họ sẽ bắt anh. Anh đã chịu một lần thẩm vấn ở một cơ quan đặc biệt của quân đội. Họ đã lột lon của anh. Cô đoán ra rồi, đúng không? Anh đã bị
bắt làm tù binh, bị thương, anh đã để cho quân địch bắt anh, trong khi nghĩa vụ của anh là phải tự sát. Một sĩ quan Xô viết không đầu hàng. Đấy là điều đồng chí Stalin đã nói, và các sĩ quan phụ trách thẩm cứu vụ của anh lặp lại. Lẽ ra anh phải tự bắn một phát vào đầu, duy có điều anh đã không thể làm được, vì anh bị thương. Anh đã không thể. Tuy nhiên tôi biết anh đã có ý định... Anh đã vượt ngục và tìm chỗ ẩn náu trong rừng. Với những người du kích. Anh đã chiến đấu cùng họ hai năm. Nhưng cái đó không được kể, không được xét đến để có lợi cho anh. Chúng tôi đã có một đêm... Đúng chỉ một đêm sau chiến thắng của chúng ta... Sáng ra, họ đưa anh đi... Tôi ngồi ở bàn trong bếp nhà tôi và tôi chờ con trai tôi thức dậy, hồi đó nó chín tuổi. Tôi biết khi thức dậy nó sẽ hỏi tôi: “Bố đâu?” Nói gì với nó? Và những người hàng xóm... Chồng tôi chỉ trở về bảy năm sau. Chúng tôi đã chờ anh, con trai tôi và tôi, bốn năm thời gian chiến tranh, và sau Chiến thắng, chúng tôi lại còn chờ bảy năm nữa anh từ trại tù trở về. Chúng tôi đã chờ anh tất cả là mười một năm. Con trai tôi đã lớn... Tôi đã học cách nói thì thầm. Nghĩ thì thầm. “Chồng chị ở đâu? Cha cháu ở đâu?” Hôm nay, chúng tôi có thể kêu lên, phải kêu lên. Tôi, tôi muốn... Tuy nhiên, tôi vẫn sợ...” Valentina EvdokimovnaM-va, liên lạc viên du kích
“VÀ BÀ ĐẶT BÀN TAY LÊN NƠI TRÁI TIM BÀ ĐẬP...” Và cuối cùng: Chiến thắng... Nếu ngày trước, đối với họ, thế giới được chia thành chiến tranh và hòa bình, thì từ nay một biên giới mới đã được lập lên giữa chiến tranh và chiến thắng. Một lần nữa, lại là hai thế giới khác biệt, hai cuộc sống khác biệt. Ngay tức thì, rõ ràng là tập sống trở lại sau chiến thắng cũng khó khăn, nếu không phải là khó hơn sau chiến bại. Không ít thử thách chưa từng có và không hề ngờ phải vượt qua, nhiều là đằng khác. Nhưng mục đích thì vẫn là một: giữ cho được là một con người. “Chúng tôi sung sướng... Chúng tôi đã vượt qua biên giới: Tổ quốc chúng ta đã được giải phóng. Tôi không còn nhận ra được những người lính nữa, đấy là những con người khác. Tất cả họ đều cười. Họ đã thay những chiếc sơ mi sạch. Họ hái, không biết ở đâu, những bông hoa họ cầm trên tay. Tôi chưa bao giờ thấy những con người hạnh phúc đến thế. Tôi nghĩ rằng khi chúng tôi vào nước Đức, tôi sẽ không thương hại kẻ nào hết. Tôi cảm thấy bao nhiêu căm thù chồng chất trong tôi! Tại sao lại rộng lượng với con của kẻ thù khi hắn đã giết con tôi? Tại sao tôi tha thứ cho mẹ hắn khi hắn đã treo cổ mẹ tôi? Tại sao tôi lại để cho nhà hắn nguyên vẹn khi hắn đã đốt cháy nhà tôi? Tại sao? Tại sao, tôi hỏi cô? Tôi muốn nhìn thấy vợ chúng, mẹ chúng những kẻ đã đẻ ra những thằng con trai như thế. Làm sao chúng tôi có thể nhìn vào mắt chúng? Tất cả những gì tôi đã sống qua trở lại trong ký ức tôi và tôi tự hỏi tôi sẽ ứng xử ra sao đây. Và những người lính của chúng ta sẽ xử sự ra sao. Bởi chúng tôi nhớ lại tất cả... Nhưng rồi chúng tôi đi vào một làng, những đứa trẻ con chạy trên đường, đói và khốn khổ. Và tôi, đứa đã thề căm thù tất cả bọn chúng, tôi đã gom góp ở các anh em lính của ta ai còn chút gì trong suất ăn
hằng ngày của mình, một chút đường, và tôi đem tất cả cho bọn trẻ con Đức đó. Tất nhiên tôi không quên gì cả, mọi thứ vẫn còn nguyên trong tâm trí tôi, nhưng tôi không thể bình thản nhìn những đôi mắt trẻ con đói ấy. Hôm sau, từ bình minh, bọn trẻ đã sắp hàng trước bếp của chúng tôi nơi người ta phân phối súp và suất ăn chính. Mỗi đứa trẻ mang theo một cái túi đeo để đựng bánh mì, một cái bi-đông móc ở lưng quần để đựng súp, và một cái đồ đựng gì đó để nhận món ăn; cháo tấm hay đậu. Chúng tôi không căm thù nhân dân. Tôi nói với cô điều đó; chúng tôi cho trẻ con cái ăn, chúng tôi chăm sóc chúng. Và cả những vuốt ve âu yếm...” Sofia Adamovna Kountsevitch, cáng thương “Tôi đã đi đến tận Đức... Tôi là feldscher trưởng của một trung đoàn thiết giáp. Chúng tôi có những chiếc T-34, rất dễ bị cháy. Thật khủng khiếp. Trước khi đến mặt trận, tôi chưa bao giờ nghe một tiếng súng. Trên đường đi ra mặt trận, một lần, có một trận bom, đâu đó ngoài xa, rất xa, và tôi có cảm giác cả trái đất rung lên. Tôi mười bảy tuổi, tôi vừa học xong ở một trung tâm đào tạo nhân sự cho ngành y tế[83]. Số phận đã định là vừa đến nơi tôi đã vào trận ngay... Tôi thoát ra khỏi xe tăng... Một đám cháy... Trời cháy... Đất cháy... Thép cháy... Chỗ này, những người chết, chỗ kia những người kêu: “Cấp cứu! Cứu tôi với.” Tôi cảm thấy khủng khiếp. Tôi không biết làm thế nào mà tôi đã không bỏ chạy. Làm thế nào mà tôi đã không chuồn khỏi chiến trận! Kinh hoàng đến mức tôi không tìm được lời để tả, phải sống qua kia. Ngày xưa, tôi không thể, nhưng hôm nay tôi đã xem được phim nói về chiến tranh, nhưng tôi vẫn khóc. Tôi đã đi đến tận Đức... Tôi nhớ lại tất cả. Cái đầu tiên tôi nhìn thấy ở Đức là một tấm biển bên cạnh đường viết: “Đây rồi, nước Đức đáng nguyền rủa!” Chúng tôi đi vào một làng chỉ còn duy nhất một bà già. Người Đức bỏ hết
và chạy trốn khi chúng tôi đến gần... Người ta đã làm cho họ tin rằng khi người Nga đến, chúng ta chém hết, mổ bụng hết, cắt cổ hết mọi người. Tôi nói với bà già ấy: “Chúng tôi đã thắng. Bà khóc: “Tôi có hai đứa con trai chết ở Nga. - Và ai chịu trách nhiệm về chuyện đó? Bao nhiêu người của chúng tôi đã chết?!” Bà trả lời tôi: “Hitler... - Hitler không một mình quyết định được tất cả. Còn có con cái các bà, chồng các bà.” Lần này bà im lặng. Mẹ tôi đã chết đói trong chiến tranh, họ không còn gì hết, ngay cả muối cũng không. Anh trai tôi ở bệnh viện, bị thương nặng. Chỉ còn em gái tôi chờ tôi ở nhà. Em viết cho tôi là khi các đơn vị của chúng ta tiến vào Orel, em nắm lấy áo tất cả những phụ nữ mặc capốt quân đội. Em tưởng chắc chắn là tôi phải có mặt ở đấy. Trong gia đình chúng tôi, chỉ còn đàn bà...” Nina Petrovna Sakova, trung úy, feldscher “Những con đường chiến thắng... Cô không thể tưởng tượng những con đường chiến thắng là như thế nào! Những người Ba Lan, người Pháp, người Tiệp, người Bungary... Tất cả những người tù được giải phóng ấy, với xe kéo tay, khăn choàng, cờ quốc
gia... Tất cả hòa vào nhau. Họ trở về nhà. Mọi người ôm hôn chúng tôi. Chúng tôi đã gặp những phụ nữ Nga trẻ. Tôi đã bắt chuyện với họ, và họ kể chuyện cho tôi... Trên đường trở về, một cô trong số họ biết mình đã có thai, cô bị tên chủ nhà cô làm việc cho y hiếp. Cô đi và khóc, cô tự đánh vào bụng mình: “Dù có gì tôi cũng không mang một tên Đức về nhà. Tôi sẽ không mang nó”. Cô đã tự treo cổ. Thế đấy là khi ta cần nghe và ghi lại... Tại sao bấy giờ không ai làm? Một lần, một cô bạn và tôi đi xe đạp. Một người đàn bà Đức bước đi, bà có ba đứa con, tôi nghĩ thế, hai đứa ngồi trong một chiếc xe nôi, đứa kia đi bộ theo, bám vào váy bà. Trông bà đã hoàn toàn đuối sức. Và cô hiểu không, khi gặp chúng tôi, bà quỳ xuống và chào chúng tôi. Như thế này... Trán bà chạm đến đất... Thoạt tiên chúng tôi không hiểu bà nói gì. Thế là bà đặt bàn tay lên nơi trái tim bà đập, rồi chỉ các con bà. Lần này chúng tôi hiểu: bà khóc, cúi mình trước chúng tôi và cám ơn chúng tôi vì các con bà còn sống. Tuy nhiên đó là một người vợ. Chồng bà hẳn đã chiến đấu trên mặt trận phía Đông... Ở Nga...” Anastasia Vassilievna Voropaïeva, binh nhất, kỹ thuật viên ánh sáng “Tôi đã nhìn thấy mọi thứ... Ở chỗ chúng tôi, một sĩ quan đã yêu một cô gái Đức. Anh bị cách chức và đuổi về hậu phương. Tôi nhớ một cô gái Đức bị hiếp. Cô nằm dưới đất, trần truồng. Một trái lựu đạn giữa hai đùi... Có lẽ tốt hơn cả là không nên nói về chuyện đó…” A. Ratkina, hạ sĩ, điện thoại viên
“Quê hương chúng ta đã được giải phóng... Ý nghĩ chết trở nên hoàn toàn không thể chấp nhận, cũng như ý nghĩ còn chôn cất những con người. Từ nay người ta chết trên đất lạ, và người ta chôn trên đất lạ. Người ta giải thích cho chúng tôi là phải giải quyết cho hết quân thù. Rằng quân thù còn nguy hiểm. Mọi người đều rất hiểu... Nhưng chết thì thật buồn... Dù gì đi nữa... Tôi nhớ những tấm bảng dọc các con đường, chúng giống như những thập ác: “Đây rồi, nước Đức đáng nguyền rủa!” Mọi người đều nhớ tấm bảng ấy... Và tất cả chúng tôi đều đã chờ giây phút ấy... Cuối cùng chúng tôi sẽ hiểu. Cuối cùng nhìn thấy. Chúng ở đâu ra vậy? Đất đai của chúng ra sao, nhà cửa của chúng ra sao? Có phải là những con người bình thường sống cuộc sống bình thường? Ở ngoài mặt trận, tôi không tưởng tượng còn bao giờ có thể đọc lại các bài thơ của Heine. Hay của Goethe yêu quý của tôi... Có thể một ngày nào đó nghe lại Wagner... Trước chiến tranh, tôi, một người đã lớn lên trong một gia đình nhạc sĩ, tôi yêu thích nhạc Đức: Bach, Beethoven. Tôi đã xóa hết tất cả những cái đó khỏi vũ trụ của tôi. Về sau, nguời ta đã chỉ cho tôi các lò thiêu người... Auschwitz... Những núi quần áo phụ nữ, những đôi giày có cổ của trẻ con... Tro xám... Tro người... Tất cả những gì còn lại của con người... Chúng được chở đi và rải trên các cánh đồng để làm phân bón cho bắp cải. Cho xà lách... Mà đây này, chúng tôi đã đến trên đất của chúng. Điều đầu tiên khiến chúng tôi ngạc nhiên là chất lượng đường sá. Rồi quy mô đầy ấn tượng của các trang trại. Vải tuyn, màn voan trắng... Những chậu hoa trang trí ngay cả các lán để dụng cụ, những tấm rèm đẹp. Những khăn trải bàn trắng, bát đĩa thượng hạng... Chúng tôi không thể hiểu: tại sao chúng còn cần gây chiến tranh, nếu chúng đã sống tốt thế? Bên chúng ta, người ta sống trong những cái hang bằng đất nện, trong khi chúng ăn trên những chiếc khăn trải bàn trắng... Uống cà phê trong những chiếc tách sứ. Tôi quên kể cho cô một cú sốc khác của chúng tôi trước đó khá lâu. Khi chúng ta chuyển sang tấn công... trong những chiến hào Đức đầu tiên chúng tôi chiếm được... Khi chúng tôi tới đó, nếu là buổi sáng, chúng tôi tìm thấy cà phê còn nóng sôi trong những cái phích. Những chiếc bánh kẹp. Những tấm ga trắng. Chúng tôi không có chút gì những thứ đó. Chúng tôi ngủ trên rơm, trong những chiếc lều bằng cành cây. Đôi khi, chúng tôi trải qua hai hay ba ngày chẳng ăn cũng chẳng uống được chút gì nóng. Thế là, những người lính của chúng ta xả súng vào các
phích nước ấy... món cà phê ấy... Trong các ngôi nhà Đức, tôi thấy người ta xả súng vào những đồ pha cà phê. Những bình hoa. Những chiếc gối... Chúng tôi khó hiểu được lòng căm thù của chúng đến từ đâu. Căm thù của chúng ta, có thể hiểu, nhưng của chúng? Chúng tôi được phép gửi bưu kiện về nhà. Xà phòng, đường. Một số người gửi giày, vì người Đức có những đôi giày rất bền, đồng hồ, đồ da. Tôi thì không thể. Tôi không muốn lấy của họ, dù tôi biết mẹ và các em gái tôi ở nhờ nhà người ta. Nhà chúng tôi đã bị cháy. Khi trở về nhà, tôi đã kể lại chuyện đó với mẹ, bà đã ôm hôn tôi: “Mẹ cũng thế, mẹ cũng sẽ không thể lấy bất cứ thứ gì của chúng. Chúng đã giết bố con.” Tôi chỉ cầm lại một cuốn sách của Heine hai mươi năm sau chiến tranh...” Aglaïa Borissovna Nesterouk, trung sĩ, liên lạc “Tôi tiếc... Có một lời hứa tôi đã không giữ được. Người ta đưa đến bệnh viện chúng tôi một thương binh Đức. Tôi nghĩ là một phi công. Anh ta bị thương ở đùi, và hoại thư đã phát. Tôi cảm thấy một thứ thương hại. Anh ta nằm đó, im lặng... Tôi biết một ít tiếng Đức, tôi hỏi anh ta: - Anh có muốn uống không? - Không. Những thương binh khác biết có một tên Đức trong phòng. Giường của anh ta đặt hơi cách ra một ít. Tôi đi đến đó. Họ bất bình: - Thế là cô mang nước đến cho một kẻ thù đấy à?
- Hắn sắp chết. Tôi phải giúp hắn. Chân anh ta đã hoàn toàn xanh. Không thể làm gì được cho anh ta nữa. Nhiễm trùng nuốt con người rất nhanh, chỉ trong hai mươi bốn tiếng, anh ta sẽ tiêu. Tôi cho anh ta uống nước, anh ta nhìn tôi và đột ngột kêu lên: “Hitler kaputt[84]!” Mà lúc ấy là năm 1942. Chúng tôi đang ở gần Kharkov, bị bao vây. Tôi hỏi: - Vì sao? “Hitler kaputt!” Tôi bèn nói với anh ta: - Anh nghĩ và anh nói như vậy ở đây, nhưng ở ngoài kia, anh giết. Anh ta: “Tôi không bao giờ bắn, tôi không giết. Người ta buộc tôi. Nhưng tôi không bao giờ bắn... - Đấy là điều mọi người nói để thanh minh cho mình khi bị bắt làm tù binh.” Và rồi đột nhiên, anh ta hỏi tôi: “Tôi xin cô ... tôi van cô giúp... Frau.” Anh ta đưa cho tôi một gói ảnh. Anh ta chỉ cho tôi mẹ anh, chính anh ta, các anh em, chị em của anh ta. Những tấm ảnh đẹp. Và trên mỗi tấm ảnh, anh ghi một địa chỉ: “Chẳng bao lâu nữa cô sẽ đến bên ấy, cô sẽ thấy như thế.” Một người Đức đã nói với tôi điều đó, năm 1942 ở gần Kharkov. “Khi đó, xin cô, hãy ném cái này vào một thùng thư.”
Anh ta đã viết địa chỉ của anh vào một bức ảnh, nhưng có cả một bó. Và những bức ảnh ấy, tôi đã giữ cùng tôi lâu. Tôi rất buồn khi tôi đã mất chúng trong một trận bom dữ dội. Tôi đã đánh mất phong bì, khi chúng tôi đã vào nước Đức...” Lilia Mikhaïlovna Boutko, y tá phẫu thuật “Tôi nhớ một trận đánh... Trận ấy, chúng tôi bắt nhiều tù binh. Trong số họ có những người bị thương mà chúng tôi phải băng bó. Trời nóng gắt. Chúng tôi tìm được một cái ấm và cho chúng uống. Chúng tôi ở một nơi trống trải, phơi trước làn đạn. Chúng tôi được lệnh phải nhanh chóng tụt xuống dưới mặt đất để ẩn nấp. Chúng tôi bắt đầu đào hào. Bọn Đức nhìn chúng tôi. Chúng tôi giải thích cho chúng: hãy giúp chúng tôi đào, bắt tay làm việc đi. Khi chúng hiểu chúng tôi bảo chúng phải làm gì, chúng nhìn chúng tôi hoảng sợ. Chúng tin chắc khi lỗ đã đào xong, chúng tôi sẽ bắt chúng sắp hàng đằng trước đó và bắn. Chúng chuẩn bị chịu hình phạt như chúng vẫn làm với các tù binh của chúng ta. Phải xem chúng đào một cách lo lắng như thế nào... Mặt mày chúng thế nào... Nhưng sau khi thấy chúng tôi đã băng bó cho chúng và cho chúng uống nước mát chúng tôi ra lệnh cho chúng núp dưới chiến hào, chúng vẫn chưa yên lòng được, chúng lúng túng... Lần đầu tiên trên khuôn mặt chúng, tôi nhìn thấy những con mắt người...” Nina Vassilievna Iliinskaïa, y tá “Chiến tranh kết thúc... Phải học lại lòng trắc ẩn. Nhưng chúng ta có thể tìm được lòng trắc ẩn từ đâu? Chính ủy gọi tôi:
“Vera Iossifovna, cô sẽ phải chữa cho các thương binh Đức.” Hồi ấy, hai anh trai tôi đã bị giết. - Tôi từ chối. - Nhưng cô biết không, phải làm việc đó. - Tôi không thể: hai anh tôi đã chết, tôi không thể nhìn chúng, tôi sẵn sàng bóp chết chúng, chứ không phải chạy chữa cho chúng. Xin hiểu cho tôi... - Đây là một mệnh lệnh. - Nếu là một mệnh lệnh thì tôi phục tùng. Tôi là một người lính. Tôi đã chạy chữa cho những thương binh đó, tôi đã làm tất cả những gì cần làm, nhưng thật khó cho tôi. Khó chạm đến người chúng, làm cho chúng đỡ đau đớn. Chính vào lúc đó, tôi đã nhận ra những sợi tóc xám đầu tiên của tôi. Chính xác vào lúc đó. Tôi làm tất cả cho chúng: tôi mổ, cho chúng ăn, gây mê - mọi quy tắc nghề nghiệp. Chỉ có một việc tôi không thể, là đi thăm bệnh buổi tối. Buổi sáng, người ta băng bó cho thương binh, lấy mạch, tóm lại, làm công việc thầy thuốc của mình, nhưng thăm bệnh buổi tối, thì phải nói chuyện với người bệnh, hỏi họ thấy trong người thế nào. Và cái đó, quá sức tôi. Tôi có thể chữa bệnh cho chúng, mổ cho chúng, nhưng nói với chúng thì không. Tôi đã báo ngay với chính ủy: “Tôi sẽ không đi thăm bệnh buổi tối.” Vera Iossifovna Khoreva, bác sĩ phẫu thuật quân đội “Ở Đức... Có nhiều thương binh Đức trong các bệnh viện của chúng ta... Tôi nhớ tên đầu tiên. Nó bị hoại thư và người ta đã cắt của nó một chân... Nó nằm trong phòng tôi phụ trách...
Một hôm, người ta bảo tôi: “Katia, đến xem tên Đức của cô. Tôi đi đến đó, tự nhủ có thể nó bị xuất huyết. Nó thức, nằm trên giường, không sốt, không sao cả. Nó nhìn tôi, rồi đưa khẩu súng ngắn bé tí của nó ra, như thế này: - Cầm lấy.” Nó nói bằng tiếng Đức, tôi không hiểu gì nhiều, nhưng những gì tôi nhớ được ở trường đủ cho tôi hiểu: “Cầm lấy, nó nói với tôi, tôi đã muốn giết cô, bây giờ, hãy giết tôi đi.” Qua đó, tôi tưởng tượng nó muốn nói chúng tôi đã cứu nó. Còn tôi, tôi không thể nói với nó sự thật: nó đang chết... Tôi đi ra khỏi phòng và nhận ra trên mắt tôi có nước mắt...” Ekaterina Petrovna Chalyguina, y tá “Tôi sợ cuộc gặp gỡ ấy... Khi tôi ở trường, một số học sinh Đức đã đến thăm trường chúng tôi. Ở Moskva. Chúng tôi đã cùng nhau đi nhà hát, chúng tôi đã cùng nhau hát. Tôi còn giữ kỷ niệm về một cậu con trai Đức. Cậu hát rất tuyệt. Chúng tôi kết bạn, thậm chí tôi đã yêu cậu. Và suốt chiến tranh, tôi tự nhủ: nếu tôi gặp lại và nhận ra cậu? Cậu ấy có ở trong số chúng nó? Tôi rất đa cảm, từ nhỏ, tôi nhạy cảm kinh khủng. Kinh khủng! Một hôm, tôi đi qua cánh đồng, ngay sau một trận đánh, và hình như tôi nhìn thấy cậu ấy trong số những người bị giết. Đó là một cậu con trai rất giống cậu... Tôi đã dừng một lúc lâu, đứng đấy, cạnh cậu...”
Maria Anatolievna Flerovskaïa, giáo viên chính trị “Có những từ mới đã xuất hiện: “trắc ẩn”, “tha thứ”. Nhưng làm sao tha thứ? Làm sao quên. Tha thứ cho nước mắt của những người thân của chúng ta. Tha thứ cái chết của họ... Một trong những người lính của chúng ta... Làm sao giải thích cho cô cái đó? Anh nhận được một lá thư của vợ, nói rằng tất cả gia đình anh đã bị giết. Tất cả anh em anh. Bố mẹ anh. Anh chộp lấy một khẩu tiểu liên và lao vào một nhà người Đức, ngôi nhà đầu tiên anh nhìn thấy, ngôi nhà ở gần đơn vị chúng tôi nhất. Chúng tôi nghe những tiếng kêu... Những tiếng kêu kinh hoàng... Không ai kịp ngăn anh... Những người lính khác đã đuổi theo anh, nhưng quá muộn rồi. Người ta đã tước khẩu tiểu liên của anh. Người ta đã trói tay anh. Anh bước đi và khóc. Anh chửi và thổn thức: “Hãy để cho tôi tự bắn một phát vào đầu.” Anh đã bị bắt...” A.Sva, xạ thủ phòng không. “Tôi vừa mười tám tuổi... Người ta mang đến cho tôi một bức thư triệu tập: tôi phải trình diện ở ủy ban hành chính quận với đồ ăn cho ba ngày, hai bộ đồ lót để thay, một cái ca và một cái thìa. Cái đó có tên là: lệnh động viên đến mặt trận lao động. Họ đưa chúng tôi đến Novotroïtsk, trong vùng Orenbourg. Chúng tôi bắt đầu làm việc ở nhà máy. Lạnh dữ dội đến nỗi chiếc áo măng tô của tôi đóng băng trong phòng. Tôi gỡ nó xuống: nó nặng như một khúc củi. Chúng tôi làm việc trong bốn năm, không nghỉ phép, không có ngày nghỉ. Chúng tôi nóng lòng chờ chiến tranh chấm dứt. Một đêm, lúc ba giờ sáng, nhiều tiếng ồn trong ký túc xá: giám đốc nhà máy đến cùng toàn bộ quan
chức: “Chiến thắng rồi!” Và tôi, tôi không sao ngồi dậy được trên giường, người ta dựng tôi dậy, tôi ngã nhào. Niềm vui gây cho tôi một cú sốc. Sáng hôm sau, khi ra đường, tôi muốn ôm hôn mọi người...” Ksenia Klimentievna Belko, chiến sĩ trên mặt trận lao động “Mới đẹp làm sao, từ ấy: chiến thắng... Chiến thắng... Các bạn tôi hỏi: “Cậu sẽ làm gì?” Mà, trong chiến tranh, chúng tôi phải chịu đói kinh khủng. Chúng tôi mơ được ăn dù chỉ một lần cho đã no. Tôi có một giấc mơ: hễ tôi lĩnh được món lương đầu tiên sau chiến tranh, tôi sẽ tự thưởng cho mình trọn một thùng bánh bích quy. Tôi sẽ làm gì sau chiến tranh? Đương nhiên, nấu ăn. Và cho đến hôm nay, tôi vẫn làm việc trong ngành lương thực tập thể. Câu hỏi thứ hai: “Khi nào cậu lấy chồng? Nhanh nhất có thể... Tôi mơ được ôm hôn. Tôi thèm ôm hôn đến điên lên... Xin đừng cười tôi... Tôi muốn hát. Hát! Kìa, cô xem... Cô cười đấy à... Nhưng tôi muốn hát...” Elena Pavlovna Chalova, phụ trách Komsomol một tiểu đoàn bộ binh “Tôi đã học bắn... Nhưng trong ba năm... Trong ba năm chiến tranh, tôi đã quên sạch các quy tắc ngữ pháp. Toàn bộ các chương trình giáo dục. Tôi có thể nhắm mắt tháo rời một khẩu tiểu liên, nhưng ngược lại, khi thi vào đại học, tôi làm một bài luận đặc kín những lỗi trẻ con, và thực sự là không có dấu phẩy. Các huân