Chiến Tranh Không Có Một Khuôn Mặt Phụ Nữ

chương của tôi đã cứu tôi...

chương của tôi đã cứu tôi...

chương của tôi đã cứu tôi... Ở đại học, tôi học lại thế nào là lòng nhân ái. Đêm, tôi có những cơn ác mộng: bọn SS, tiếng chó sủa, tiếng kêu cuối cùng của những người hấp hối. Một người đàn ông người ta mang đi để hành quyết... Mắt ông đầy hoảng sợ,

hoảng sợ sống những giây phút cuối cùng của đời mình. Và đầy tuyệt vọng!... Cái đó đuổi theo tôi. Cái đó giết chết tôi! Các bác sĩ cấm tôi tiếp tục học. Nhưng các cô bạn cùng phòng ở ký túc xá, bảo tôi quên các bác sĩ đi. Các cô gái ấy, lặng lẽ, đã tự nhận làm giám hộ cho tôi. Mỗi tối thay phiên, họ dẫn tôi đi đến rạp chiếu bóng, xem một phim hài. “Cậu phải cười nhiều nhất có thể”, họ nhắc đi nhắc lại với tôi. Bất kể tôi muốn hay không, họ kéo tôi đến rạp. Phim hài không nhiều, nên tôi xem mỗi phim một trăm lần. Thời gian đầu, tiếng cười của tôi nghe như tiếng khóc... Nhưng các cơn ác mộng của tôi đã lùi bước. Tôi đã có thể học...” Tamara Oustinovna Vorobeïkova, người kháng chiến “Khi tôi bắt đầu nói đến chiến tranh... là tim tôi trụy... Những cậu con trai trẻ măng chết... chết vào mùa xuân... Tôi nhớ đau nhất là chôn người vào mùa xuân, nhất là khi các vườn cây ra hoa. Tôi không nhớ những bãi cỏ đầy hoa, nhưng tôi nhớ những vườn cây toàn màu trắng. Trong chiến tranh, hiếm có màu trắng... Dù người ta đã nói với cô cái ấy rồi, thì cũng cứ ghi điều đó. Đấy là một kỷ niệm rất hiện hữu... Suốt hai năm rưỡi, tôi không rời mặt trận. Hai bàn tay tôi đã hàng nghìn lần băng bó, đã rửa hàng nghìn vết thương. Tôi băng, băng, không ngưng nghỉ. Một lần, tôi sắp thay khăn choàng, tôi dựa vào khung một cửa sổ, và tôi như lơ đễnh đi một lúc. Tôi tỉnh lại và bỗng thấy mình thật thư thái. Ông bác sĩ đi qua chỗ tôi và mắng tôi. Tôi chẳng hiểu sao cả. Cuối cùng ông ấy bỏ đi, trước đó không quên phạt cho tôi ba ngày lao dịch bổ sung. Cô bạn cùng kíp giải thích cho tôi: tôi đã vắng mặt hơn một tiếng. Đúng ra, tôi đã thiếp đi. Không phải ngẫu nhiên khi ngày nay sức khỏe tôi kém và thần kinh tôi yếu. Và khi người ta hỏi tôi đã được thưởng huân chương gì, tôi lấy làm phiền phải thú nhận là tôi không có, đã không đến lượt tôi. Có thể nó đã không đến vì trong chiến tranh chúng tôi rất đông và mỗi người đều tận tụy làm công việc mình được giao. Làm sao có thể thưởng mọi người? Nhưng tất cả chúng tôi đều được nhận thứ cao nhất trong các phần thưởng: ngày 9 tháng

năm. Ngày chiến thắng! Một cô bạn của tôi đã mất vào Ngày Chiến thắng, bốn mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh. Trái tim cô đã ngừng đập đúng vào ngày hôm ấy... Ngày của chúng tôi... Nhưng đây là chuyện tôi nhớ lại... Trong đơn vị chúng tôi đã xảy ra một chuyện kỳ lạ. Một đại úy ở chỗ chúng tôi đã chết đúng vào ngày chúng tôi lần đầu tiên đặt bước chân lên đất Đức. Toàn bộ gia đình anh đã chết hết. Đấy là một con người dũng cảm, anh đã chờ đợi biết bao... chờ đợi biết bao ngày ấy... ngày anh sẽ nhìn thấy đất của chúng, tai họa của chúng, nỗi buồn của chúng. Nước mắt của chúng. Đổ nát của chúng... Anh đã chết đơn giản như thế đó, không bị thương cũng chẳng gì cả. Anh đã đi đến đấy, anh đã nhìn thấy và anh đã chết... Đôi lúc tôi nghĩ đến anh: tại sao anh chết?” Tamara Ivanovna Kouraï’ eva, y tá “Vừa bước xuống tàu tôi đã đòi ra tuyến đầu. Một đơn vị đi qua đó, tôi liền đi theo. Hồi đó, tôi có ý nghĩ là nếu, thay vì ở phía sau, tôi ra tuyến đầu, thì tôi sẽ trở về nhà sớm hơn, dù tôi chỉ được lợi một ngày. Tôi đã để mẹ ở nhà một mình. Các cô gái chỗ tôi vẫn còn nhớ: “Cô ấy không chịu ở lại trạm cứu thương.” Đúng thế, tôi đến đấy, tôi tắm rửa, tôi thay đồ lót và ra ngay chiến hào. Ở tuyến đầu. Tôi không nghĩ đến mình. Tôi bò, tôi chạy... Chỉ có mùi máu. Tôi không bao giờ quen được cái mùi ấy. Sau chiến tranh, một thời gian tôi làm nữ hộ sinh trong một nhà hộ sinh, nhưng đã chóng bỏ việc. Tôi bị dị ứng với mùi máu, đơn giản thôi: cơ địa tôi không chịu chấp nhận nó. Tôi nhìn thấy quá nhiều máu trong chiến tranh đến nỗi tôi không thể chịu đựng nó được nữa... Tôi đã rời nhà hộ sinh để chuyển sang phòng cấp cứu. Tôi bị chứng mày đay và cảm giác ngạt thở. Và ngày tôi cắt cho mình một áo lót bằng vải đỏ, thì hôm sau, cánh tay tôi đầy những vết. Những mụn rộp. Cơ địa tôi không chấp nhận cả mùi máu lẫn vải đỏ, hoa đỏ, dù là hoa hồng hay cẩm chướng. Không được đỏ...” Maria Iakovlevna Iejova,

trung úy cận vệ, y tá trưởng “Chiến tranh đã chấm dứt... Mà tôi còn giữ những mối quan hệ với cái chết rất lâu... Chúng ta khánh thành đường xe điện ngầm đầu tiên ở Minsk. Tôi ở trên chuyến tàu ấy, khi tàu dừng đột ngột. Mọi người la lên, những người phụ nữ khóc: “Một người chết! Một người chết!” Và tôi, tôi ở lại một mình trên toa tàu không thể hiểu vì sao người ta lại bị xúc động đến thế quanh tôi. Tôi không có cảm giác một sự kiện bi thảm. Ở mặt trận tôi đã nhìn thấy bao người chết. Còn mới đây thôi mà. Vì thế tôi đã không có phản ứng. Tôi đã quen sống giữa họ... Lúc nào chúng tôi cũng bị vây quanh bởi những người chết... Và rồi cảm giác ấy đã trở lại với tôi, tôi cảm thấy khiếp sợ khi thấy xác chết. Cảm giác ấy trở lại với tôi vài năm sau. Tôi đã trở lại bình thường... Tôi lại như những người khác...” Bella Isaakovna Epstein, trung sĩ, xạ thủ bắn tỉa “ĐỘT NHIÊN TÔI THẤY THÈM SỐNG KINH KHỦNG...” Tôi đặt cho họ những câu hỏi về cái chết và họ nói với tôi về sự sống. Và cuốn sách của tôi, như tôi nhận ra nó bây giờ, là một cuốn sách về sự sống, chứ không phải về chiến tranh. Một cuốn sách về niềm khát khao sống... Tôi có một bà bạn: Tamara Stepanovna Oumniaguina. Chúng tôi đi lại với nhau đã nhiều năm nay. Nhưng chúng tôi không bao giờ nói về chiến tranh,

bà từ chối đề cập đến chủ đề đó: “Hỏi tôi điều gì cô muốn, nhưng cô gái rất quý báu của tôi (đấy là cái tên yêu bà thích dùng để gọi tôi), đừng hỏi về thời đó. Đừng hỏi về chiến tranh...” Và rồi một hôm, tôi nhận được một cú điện thoại: “Đến đi, tôi sợ sẽ chết ngay đấy. Trái tim tôi vừa chơi tôi một vố. Và tôi sợ không còn thời gian.” Đúng là điều đã xảy ra. Vài ngày sau cuộc trò chuyện của chúng tôi. Trong đêm, đã phải gọi xe cấp cứu. Tai biến mạch máu não. Những lời nói cuối cùng của bà, do những người thầy thuốc kể lại cho con gái bà: “Tôi không đủ thời gian...” Bà không đủ thời gian về điều gì? Về những lời bà đã quên nói? Bà còn để lại công việc gì đây? Không bao giờ còn ai biết được. Cho nên tôi không bớt một từ nào trong câu chuyện của bà. Tôi giữ nguyên tất cả. Nhất là - như tất cả những người phụ nữ ấy - bà hiếm khi nói “tôi”, mà phần nhiều là “chúng tôi”. Mỗi người nói về chính mình và về tất cả họ nói chung. Nhưng họ không bao giờ lặp lại nhau, cũng hệt như người hát trong một dàn hợp xướng không lặp lại những gì người khác hát... Tamara Stepanovna Oumniaguina, hạ sĩ cận vệ, cáng thương: “À! cô gái quí báu của tôi... Được rồi, tôi sẽ bắt đầu... Suốt đêm tôi đã moi óc, đã thu dồn các ký ức của tôi lại... Tôi đã chạy đến phòng tuyển quân: tôi mặc một cái váy cộc bằng vải thô và đi giày vải mềm với khóa bàng móc giống như giày có cổ, mốt mới nhất. Và thế là tôi, với váy cộc và giày vải mềm, tôi đòi ra mặt trận. Nguyện vọng được thỏa mãn. Tôi trèo lên chiếc cam nhông đầu tiên. Tôi đến được đơn vị của tôi - một sư đoàn bộ binh đóng ở Minsk. Ở đấy người ta bảo rằng người ta không cần tôi, sẽ là xấu hổ cho bọn đàn ông nếu những cô bé mười bảy tuổi đi chiến đấu. Và cũng với tinh thần ấy, rằng thế nào rồi kẻ thù cũng sẽ bị tiêu diệt ngay ấy mà, và như thế kiểu chíp hôi như tôi chỉ có việc trở về với mẹ. Đương nhiên, tôi rất bối rối khi người ta không muốn nhận tôi đi chiến đấu. Vậy thì tôi đã làm gì? Tôi bèn đi tìm ông tham mưu trưởng. Mà đúng

ngay ông đại tá vừa từ chối nhận tôi lại cũng đang ở đấy. Tôi bèn nói: “Thưa đồng chí thủ trưởng cấp trên, xin cho phép tôi không tuân lệnh đồng chí đại tá. Dẫu thế nào, tôi cũng không thể trở về nhà, tôi sẽ vừa chiến đấu vừa rút lui cùng các đồng chí. Tôi còn đi đâu nữa khi bọn Đức chỉ còn cách có hai bước?” Sau vụ đó, mọi người chỉ còn gọi tôi là “đồng chí thủ trưởng cấp trên”. Chúng ta đang ở ngày thứ bảy của chiến tranh. Chúng ta đã bắt đầu rút lui... Chẳng bao lâu, chúng tôi đã phải lội trong máu. Chúng tôi có một số lượng thương binh khổng lồ, nhưng họ đều thật bình tĩnh, thật kiên nhẫn, họ thật khát khao sống... Mọi người đều muốn đứng vững cho đến ngày chiến thắng. Người ta chờ nó, vấn đề chỉ tính bằng ngày... Tôi nhớ là tất cả đồ đạc của tôi đều thấm máu... kinh khủng... Đôi giày mềm của tôi rách bươm, thực sự là tôi đi chân trần... Tôi chứng kiến những gì? Ở vùng Moguilev, tôi thấy một nhà ga bị ném bom. Một đoàn tàu chở bọn trẻ con đang ở sân ga. Người ta đưa bọn trẻ ra qua cửa sổ: những đứa trẻ ba, bốn tuổi. Gần ngay đấy có một khu rừng và thế là chúng chạy trốn vào đấy. Đúng lúc ấy, những chiếc xe tăng Đức xuất hiện, chúng lao thẳng vào bọn trẻ. Chẳng còn lại chút gì của bọn nhóc ấy... Ngay đến hôm nay, một cảnh tượng như thế cũng khiến bất cứ ai mất trí. Nhưng trong chiến tranh, người ta đã đứng vững... Nhiều người chỉ rơi vào tình trạng điên loạn khi chiến tranh đã kết thúc... Rồi đơn vị chúng tôi bị bọn Đức bao vây. Tôi có nhiều thương binh, mà chẳng chiếc xe nào chịu dừng lại để đón họ. Còn bọn Đức thì đã đến sát gót, chúng chỉ còn chút xíu nữa để khép kín gọng kìm. Một sĩ quan bị thương cho tôi mượn khẩu súng ngắn của anh: “Cô có biết bắn không?” Nhưng tôi làm sao biết được? Tôi chỉ nhìn thấy những người khác làm như thế nào. Tôi cũng cứ cầm lấy súng và bước ra đường để chặn các xe cam nhông. Chính ở đấy lần đầu tiên tôi chửi thề. Rất đàn ông. Một tràng đẹp đẽ những thứ tục tĩu chọn lọc... Các xe cứ phóng vụt qua. Lần đầu, tôi bắn lên trời... Tôi biết chúng tôi không thể chuyển thương binh bằng cáng. Chúng tôi không thể dẫn họ đi. Họ van chúng tôi: “Các cậu, kết liễu chúng tôi đi, đừng bỏ chúng tôi thế này.” Phát súng thứ hai. Viên đạn bắn thủng phía sau một chiếc cam nhông. “Đồ ngốc! Ít ra cũng học bắn đã chứ!” Những chiếc cam nhông đã hãm lại. Họ giúp chúng tôi đưa thương binh lên xe... Nhưng cuộc chiến ác liệt nhất còn ở phía trước chúng tôi, ác liệt nhất là

Stalingrad... Có chiến trường nào lại đến như thế?... Cả một thành phố: những con đường, những ngôi nhà, những căn hầm. Hãy vào đấy mà lấy ra cho được một thương binh! Cả cơ thể tôi chỉ duy nhất là một bọc máu mênh mông. Và quần tôi hoàn toàn đẫm máu. Ông thượng sĩ mắng chúng tôi: “Này các cô gái, tôi không còn quần dự trữ đâu đấy, đừng có mà đến đòi tôi.” Khi đã khô, những chiếc quần cứng đanh lại, còn hơn là nhúng trong bột hồ: mặc vào có thể bị thương. Trên người chúng tôi không còn một milimét vuông vải sạch, mùa xuân, chúng tôi chẳng có gì cả để mà trả lại cho quân nhu. Mọi thứ đều cháy: trên sông Volga, chẳng hạn, ngay cả nước cũng bốc lửa. Ngay cả về mùa đông, sông không đóng băng, mà bốc cháy. Ở Stalingrad, không một tấc đất nào không thấm máu. Nga và Đức. Tăng viện đến. Những cậu con trai trẻ đẹp. Hai hay ba ngày sau, họ đã chết hết, không còn một người. Tôi bắt đầu sợ những người mới. Sợ giữ những kỷ niệm về họ, nhớ những khuôn mặt họ, những cuộc trò chuyện với họ. Bởi vừa đến, là họ chết rồi. Hai đến ba ngày... Chúng tôi đang ở năm 1942 - lúc căng nhất, nặng nề nhất của cuộc chiến. Một lần, trong số ba trăm chúng tôi, đến buổi chiều chúng tôi chỉ còn mười. Và tiếng súng ngưng, chúng tôi cùng đếm lại, và chúng tôi ôm nhau khóc, xúc động vì còn sống. Chúng tôi họp thành như một gia đình. Một người chết dưới mắt ta. Và ta biết, ta thấy ta không thể giúp anh ấy, anh ấy chỉ còn sống được một lúc nữa. Ta ôm lấy anh, ta vuốt ve anh, ta nói với anh những lời dịu dàng. Ta vĩnh biệt anh. Nhưng đấy là tất cả sự cứu giúp ta có thể mang đến cho anh. Những khuôn mặt ấy, tôi vẫn còn tất cả trong ký ức. Tôi nhìn thấy lại họ, tất cả những người con trai ấy, tất cả. Bao năm đã qua mà chỉ ước gì tôi có thể quên được một người, xóa đi một khuôn mặt. Tôi không quên ai hết, tôi nhớ tất cả, tôi thấy lại tất cả... Chúng tôi muốn đào cho họ những nấm mộ bằng chính bàn tay chúng tôi, nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Chúng tôi ra đi và họ ở lại. Đôi lúc, ta đang lo băng cho trọn hết đầu một thương binh, và anh ấy chết trên tay ta. Chúng tôi chôn anh như vậy, đầu quấn đầy băng. Một người khác, nếu anh ngã xuống giữa chiến trận, ít ra còn có thể ngắm bầu trời. Hay lúc chết, anh nhờ ta: “Khép mắt hộ tôi, cô em, nhưng mà thật nhẹ nhé.” Thành phố đổ nát, các ngôi nhà bị phá hủy, đương nhiên thật kinh khủng, nhưng khi những con người nằm đó, những con người trẻ trung... Ta không thể lấy lại hơi thở, ta chạy... Ta tưởng như ta đã đuối hết sức rồi, chỉ còn may lắm năm phút, cảm thấy chân ta đã rủn đi.

Nhưng ta chạy... tháng ba, đã phải bì bõm trong nước... Không thể đi valenki, nhưng tôi đã xỏ một đôi và tôi đi đến đó. Tôi đã bò suốt một ngày với đôi ủng đó trong chân. Buổi tối, nó úng nước đến nỗi tôi không sao cởi ra được. Tôi phải cắt chúng ra. Và tôi đã không ngã bệnh... Nhưng cô có tin tôi không, cô gái quý báu của tôi? Khi trận Stalingrad đã kết thúc, họ giao cho tôi nhiệm vụ chở các thương binh nặng nhất về đến tận Kazan và Gorki bằng tàu thủy, sà lan. Đang mùa xuân, tháng ba, tháng tư. Nhưng cứ tìm ra mãi bao nhiêu là thương binh: họ bị vùi trong các đống đổ nát, các chiến hào, các hầm bị vùi lấp, các hầm ngầm - họ nhiều đến mức tôi không thể tả. Thật kinh hoàng! Khi ta nhặt thương binh trên chiến trường, ta luôn nghĩ đấy là những người cuối cùng, đã di tản tất cả, rằng ngay cả ở Stalingrad không còn thương binh nữa, nhưng khi mọi sự đã xong, ta tìm ra một số lượng không thể tin... Trên chuyến tàu tôi đi, người ta đã dồn về đấy những người bị cụt cả hai tay, hai chân, và hàng trăm người bị lao. Chúng tôi phải chăm sóc họ, động viên họ bằng một lời thân ái, một nụ cười. Khi giao cho chúng tôi nhiệm vụ này, người ta đã đảm bảo với chúng tôi rằng đây sẽ như là một kỳ đi nghỉ cho chúng tôi sau trận chiến, rằng họ dành ưu đãi này cho chúng tôi như là một kiểu biết ơn, khuyến khích. Nhưng rồi thách thức còn khủng khiếp hơn cả địa ngục Stalingrad. Ở ngoài đó, khi tôi kéo một người ra khỏi trận địa, tôi sơ cứu cho anh ta, tôi giao anh lại cho những người khác, và tôi tin chắc bây giờ mọi sự đều ổn, vì người ta đã chuyển anh đi. Và tôi đi tìm người tiếp theo. Nhưng trên tầu, họ luôn ở dưới mắt tôi. Ở ngoài ấy, họ muốn, họ chỉ khao khát được sống: “Nhanh lên nữa, cô em! Nhanh lên, người đẹp!” Còn ở đây họ từ chối ăn và muốn chết. Một số lao xuống nước. Chúng tôi phải canh chừng họ. Bảo vệ họ. Thậm chí tôi đã thức trắng nhiều đêm cạnh một đại úy: anh mất cả hai tay, anh muốn kết liễu cho xong. Và rồi một lần, tôi quên báo trước cho một cô y tá khác, tôi vắng vài phút và anh đã lợi dụng cơ hội để nhảy qua thành tàu... Chúng tôi đã đưa họ đến Oussolié, gần Perm. Có những ngôi nhà nhỏ, mới tinh, sạch bong, được đặc biệt bố trí cho họ. Như một trại thiếu niên tiền phong... Người ta chuyển họ trên những chiếc cáng, và họ, họ nghiến răng. Tôi có cảm giác tôi có thể cưới bất kỳ người nào trong số họ. Hoàn toàn nhận lấy trách nhiệm về anh ấy. Chúng tôi trở về trên cùng chiếc tàu ấy, hoàn toàn trống trơn. Bây giờ thì chúng tôi có thể nghỉ ngơi, nhưng chúng tôi không

ngủ. Các cô gái lả đi suốt nhiều giờ, rồi bỗng nhiên bắt đầu thét lên. Chúng tôi cứ nhốt mình trong khoang và mỗi ngày chúng tôi viết những bức thư. Chúng tôi chia nhau những người nhận thư. Ba đến bốn lá thư mỗi ngày... Và này một chi tiết. Sau chuyến đi ấy, trong các trận đánh tôi bắt đầu che giữ chân và mặt tôi. Tôi có đôi chân đẹp, tôi rất sợ chúng bị hỏng. Cũng như mặt mày biến dạng đi... Đó chỉ là một chi tiết... Sau chiến tranh tôi đã để nhiều năm để cố xua đi mùi máu. Nó bám theo tôi khắp nơi. Tôi giặt quần áo, tôi nấu ăn, nó vẫn ở đấy... Có ai đó cho tôi một chiếc áo sơ mi nữ màu đỏ, thời thiếu vải ấy đấy là của hiếm. Nhưng tôi không bao giờ mặc vì màu của nó khiến tôi buồn nôn. Tôi không thể đi mua đồ ở các cửa hàng nữa. Ở quầy thịt. Nhất là về mùa hè... Và nhìn thấy thịt gia cầm... Cô hiểu đấy... Nó rất giống ... Nó cũng trắng như thịt người... Chồng tôi phải làm những việc ấy... Mùa hè, tôi hoàn toàn không thể ở lại trong thành phố, tôi làm mọi cách để ra đi, tới bất cứ đâu. Cứ mùa hè đến, là tôi có cảm giác chiến tranh sắp nổ ra. Khi mọi thứ bị mặt trời nung nóng lên: cây cối, nhà cửa, nhựa đường, tất cả những cái ấy tỏa một thứ mùi, đối với tôi tất cả đều mùi máu. Tôi có thể ăn hay uống bất cứ thứ gì, không thể xua đi được cái mùi ấy! Ngay những tấm trải giường sạch, khi tôi dọn giường, đối với tôi, ngay cả những tấm trải giường ấy cũng có mùi máu... ... Những ngày tháng Năm 1945... Tôi nhớ người ta chụp ảnh nhau rất nhiều. Chúng tôi rất hạnh phúc... Ngày 9 tháng Năm, mọi người reo lên: “Chiến thắng! Chiến thắng!” Thật không tin nổi. Và chúng tôi sẽ làm gì bây giờ? Người ta bắn lên trời... Tất cả những ai có súng đều bắn lên trời... “Ngừng lại, ngừng ngay! người chỉ huy ra lệnh.” - Nhưng dẫu sao trên tay chúng tôi còn đạn. Để làm gì? Chúng tôi không hiểu. Dù mỗi người có nói gì, tôi chỉ nghe một từ: Chiến thắng! Bỗng nhiên chúng tôi thèm sống đến lạ! Ôi, bây giờ tôi sẽ có một cuộc sống tươi đẹp biết chừng nào! Tôi cài tất cả huân

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 63

Đang tải bình luận...