Chuyện Tình Ở Thế Giới Song Song

SCENE 5

SCENE 5

2 giờ kém 5 phút, Takashi có mặt tại quán cà phê đã hẹn. Đó là một quán cà phê đơn điệu với những chiếc bàn vuông kê ngay hàng thẳng lối trên mặt sàn khá rộng. Anh gọi một cốc cà phê và đặt chiếc túi giấy có logo Vitec lên bàn. Một người ngồi ngay gần đó bắt đầu di chuyển. Anh quay lại nhìn. Một cô gái nhỏ nhắn với mái tóc dài đang vừa từ từ tiến lại, vừa nhìn anh cùng chiếc túi giấy trên bàn. Cô mặc một chiếc váy ngắn bó sát rất hợp với chiếc sơ mi màu xanh bạc hà.

Takashi hơi nhổm dậy. “Cô Naoi?”

“Vâng.” Cô gật đầu. Đôi mắt và khuôn miệng tương đối to so với gương mặt nhỏ nhắn. Có vẻ cô đang căng thẳng, khiến Takashi thấy thật khó gần.

“Tôi là Tsuruga.” Takashi hơi cúi đầu.

Trên bàn Masami vừa ngồi ở chếch phía sau còn đặt cốc cà phê cô gọi từ trước. Takashi quyết định đổi chỗ và báo cho nhân viên phục vụ.

“Xin lỗi đã phiền cô tới tận đây.” Anh nói khi đối diện với Masami, sau đó đưa cho cô danh thiếp. Masami nhìn nó bằng ánh mắt đầy nghiêm túc.

“Anh học cùng trường của Vitec với anh Goro... à, anh Shinozaki ạ?” Đặt tấm danh thiếp xuống bàn, cô hỏi.

“Tôi thuộc nhóm nghiên cứu khác, nhưng chúng tôi ở cùng tầng nên cũng thường xuyên gặp nhau. Thỉnh thoảng có nói chuyện nữa.” Anh nói dối để trấn an đối phương. Masami khẽ cúi đầu, ánh mắt dường như đang ngẫm ngợi điều gì.

“Cô là bạn gái của cậu Shinozaki à?”

Masami do dự một chút rồi trả lời. “Chúng tôi đã hẹn hò từ hồi cấp ba.”

“Vậy là hai người bằng tuổi.”

“Không ạ, tôi ít hơn anh ấy hai tuổi. Hồi cấp ba chúng tôi cùng tham gia câu lạc bộ cầu lông.”

Quả nhiên là vậy

, Takashi nghĩ. Nếu bằng tuổi Shinozaki thì hiện tại cô đã 23 hoặc 24 tuổi rồi. Nhưng nhìn Masami vẫn không khác gì nữ sinh cấp ba.

“Vậy giờ cô là sinh viên?”

Cô lắc đầu. “Không, tôi học cao đẳng nên đã tốt nghiệp hồi năm ngoái.”

“Ra vậy.” Takashi gật đầu. Nữ phục vụ mang cà phê tới, anh rót sữa vào cốc của mình rồi nói tiếp: “Hai người có thường xuyên gặp nhau không?”

“Trước đây gần như ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau. Từ tháng Tư năm ngoái thì hạn chế hơn.”

“Tháng Tư năm ngoái... nghĩa là sau khi cậu ấy vào Vitec?”

“Vâng. Anh Goro... à, anh Shinozaki...”

“Cô cứ gọi cậu ấy là Goro cũng được.” Thấy cô khá khó khăn khi thay đổi cách gọi, Takashi cười bất đắc dĩ. “Với lại cô không cần phải trịnh trọng quá đâu. Như vậy tôi cũng sẽ dễ nói chuyện hơn.”

Nghe vậy, mặt Masami bớt căng thẳng phần nào. Cô nhấp một ngụm cà phê để làm dịu cổ họng.

“Quê chúng tôi ở Hiroshima. Sau khi tốt nghiệp cấp ba, cả tôi và anh ấy vẫn tiếp tục học ở quê nên vẫn có thể gặp nhau thường xuyên. Có điều từ khi anh ấy tìm được việc ở Tokyo, tôi thường phải lên đây gặp anh ấy, chừng một, hai tháng một lần.”

“Cô không lên đây tìm việc sao?”

“Tôi mới lên Tokyo hồi đầu năm. Năm ngoái, vì hoàn cảnh gia đình nên tôi phải xin việc ở quê.”

“Ừm.” Vừa thắc mắc không biết “hoàn cảnh gia đình” cụ thể là gì, Takashi quyết định đi thẳng vào đề. “Nghe nói cô mất liên lạc với cậu Shinozaki từ khoảng mùa thu năm ngoái.”

“Vâng. Tôi có gọi điện thoại nhưng không ai trả lời, gửi thư cũng không thấy hồi âm. Tôi cứ nghĩ chắc anh ấy bận việc...”

“Lúc đó cậu ấy đã nghỉ MAC và Vitec rồi.”

“Hình như là vậy. Tôi đã rất ngạc nhiên...”

“Gia đình cậu ấy thế nào?”

“Anh Goro vốn ít gọi về nhà nên bố mẹ anh ấy không lo lắng lắm. Họ cũng không biết chuyện anh ấy đã nghỉ... Hồi lễ Obon anh ấy có bảo Tết sẽ không về nên họ cũng không lấy làm lạ.”

“Vậy cô biết chuyện cậu ấy mất tích từ bao giờ?”

“Từ hai tháng trước. Tôi lên Tokyo, tới nhà anh ấy thì thấy anh ấy viết giấy để lại.”

“Viết giấy để lại?”

Masami đặt chiếc túi quai chéo lớn lên đùi, rút ra một mảnh giấy nhắn được gấp làm tư. Cô mở ra rồi đưa nó cho Takashi. “Đây ạ.”

Takashi nhận lấy. Trên giấy là dòng chữ viết bằng bút bi:

“Tôi sẽ đi du lịch một thời gian. Đừng lo lắng. Shinozaki Goro.”

Góc bên trên tờ giấy đề ngày 2 tháng Mười.

“Nhìn thấy nó, tôi rất ngạc nhiên nên đã đến trường anh Goro theo học. Tên là MAC thì phải. Họ bảo anh ấy đã bỏ học rồi...”

Có lẽ đó là lúc Osanai gặp Masami.

“Cô đã kể cho bố mẹ cậu ấy chưa?”

“Tôi có báo rồi. Bố mẹ anh ấy cũng ngạc nhiên không kém. Bác gái còn tức tốc lên Tokyo ngay.”

Nghe cách nói chuyện thì có thể đoán quan hệ của họ đã được cha mẹ hai bên chấp thuận.

“Sau đó thì sao?”

“Chúng tôi hỏi thăm bạn bè rồi người quen thời đại học, nhưng không ai có tin gì cả. Bác gái cũng khó xử, không biết phải làm sao.”

“Cô đã báo cảnh sát chưa?”

“Bác gái đã đến đồn cảnh sát gần nhất để hỏi, nhưng việc anh ấy bỏ nhà đi hơi khác so với mất tích, hơn nữa còn viết giấy để lại nên e rằng cảnh sát cũng không tích cực điều tra.”

“Hẳn thế...” Takashi lẩm bẩm, khoanh tay.

Takashi tự hỏi vậy là sao. Một chàng trai trẻ bất chợt muốn chu du và bắt tay vào thực hiện ngay... Mọi sự chỉ đơn giản vậy thôi sao? Nhưng càng cố nhớ xem Shinozaki có phải típ người như vậy không, anh càng bối rối. Trong đầu anh chẳng có bất cứ ký ức rõ ràng nào về cậu ta cả.

“Tất cả mọi người ở MAC đều không biết gì sao ạ?” Masami hỏi.

“Đúng. Từ khi cậu ấy nghỉ học, không một ai gặp lại cậu ấy nữa.”

“Ra vậy.” Mắt Masami cụp xuống.

“Căn hộ của cậu ấy vẫn còn thuê chứ?”

“Vâng.”

“Tiền thuê nhà thì sao?”

“Vẫn được tự động chuyển khoản đều đặn. Chủ nhà nói anh ấy chưa bao giờ chuyển muộn.”

“Cô gặp chủ nhà của cậu ấy rồi à?”

“Vâng. Họ kể là anh ấy có để một lá thư trong hộp thư báo rằng mình sẽ đi vắng một thời gian, nhờ chủ nhà để ý hộ nhà cửa.”

“Là khi nào thế?”

“Khoảng mùa thu năm ngoái.”

“Hừm...” Takashi rời mắt khỏi Masami, nhìn về phía xa.

Tương tự trường hợp của Miwa Tomohiko chăng

, Takashi nghĩ. Tất nhiên về chi tiết thì khác. Có bằng chứng cho thấy Tomohiko đã chuyển tới trụ sở chính ở Los Angeles, cả đồng nghiệp lẫn gia đình đều biết chuyện đó. Tuy nhiên, cả hai đều giống nhau ở chỗ: họ đều đột ngột biến mất mà không nói một lời với những người thân thiết, và hai căn hộ không ai ở vẫn không bị trả lại.

Takashi quay lại nhìn Masami và hỏi. “Căn hộ của cậu ấy thế nào?”

Cô giật mình. “Ý anh là gì?”

“Có bị xáo trộn không?”

“Không.” Cô lắc đầu. “Có điều nghe bác gái nói là các đồ cá nhân và tài sản có giá trị đều không thấy đâu. Chắc anh ấy đã mang theo.”

“Thế à.” Điểm này thì khác với Tomohiko. Đĩa mềm và MD ở nhà Tomohiko đều đã biến mất.

“Anh Tsuruga có manh mối gì không?” Masami nhìn anh dò hỏi.

“Tôi không dám chắc, nhưng tôi sẽ thử tìm hiểu trong khả năng của mình. Nhân tiện, cô đã từng nghe đến cái tên Miwa chưa? Miwa Tomohiko.”

“Miwa? Tôi chưa. Đó là ai vậy?”

“Anh ấy là một thành viên cùng nhóm nghiên cứu với Shinozaki, hiện đang ở Los Angeles. Nếu liên lạc được với anh ấy, tôi sẽ hỏi thông tin về Shinozaki.”

“Vâng, nhờ anh hỏi giúp ạ.”

Nhìn Masami cúi đầu, Takashi chợt nghĩ có thể anh sẽ không hỏi được Tomohiko về Shinozaki. Nếu có mối liên hệ nào đó giữa hai người cùng biến mất, không thể có chuyện một người đột nhiên xuất hiện được.

“Nếu phát hiện ra gì, tôi sẽ liên lạc với cô.” Takashi rút lấy hai tờ hóa đơn.

“Ấy, không cần đâu ạ.” Masami ngạc nhiên.

“Không sao.” Anh nói. “Chính tôi đã mời cô đến đây mà.”

“Cảm ơn anh.” Cô lịch sự cúi đầu một lần nữa.

“Giờ cô đang làm gì ở Tokyo?”

“Tôi đang theo học trường nghề và đi làm thêm.”

“Cô cất công lên tận đây để tìm cậu Shinozaki à?”

“Không ạ. Khi quyết định lên đây, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng anh ấy đã mất tích.”

“Tức là cô nghĩ có thể gặp cậu ấy thường xuyên?”

“Vâng.” Cô yếu ớt đáp. “Giá mà tôi cũng lên đây từ tháng Tư năm ngoái, có lẽ mọi chuyện đã không thành ra thế này.”

“Ban nãy cô nói là vì hoàn cảnh gia đình?”

“Bố tôi bị bệnh cần người chăm sóc. Mẹ tôi lại bận trông nom cửa hàng. Tuy đó chỉ là một hiệu làm tóc nhỏ.”

“Chăm bệnh cho bố à? Cô hiếu thảo thật đấy.”

Lông mày Masami khẽ giật giật khi nghe Takashi nói câu đó.

“Anh nghĩ vậy à?”

“Không đúng sao?”

“Tôi rất bực mình mỗi khi bị mọi người nói như thế.”

“Tại sao?”

“Anh không thấy từ báo hiếu nghe rất giống như đang coi thường con cái à?”

“Cô nghĩ vậy ư?”

“Nói thật là tôi rất ghét phải chăm sóc ông ấy. Mỗi khi chạm vào cơ thể hôi hám đó để thay tã hay vệ sinh cho ông ta, tôi lại nghĩ ‘Sao ông ấy không chết quách đi cho rồi.’ Thế thì đâu gọi là báo hiếu.”

“Chà, có lẽ sự thật là vậy.”

“Nếu có người họ hàng nào tình cờ có mặt, hẳn họ sẽ tấm tắc: Chà, Masami hiếu thảo quá. Ẩn ý đằng sau câu nói đó là ‘phận làm con chăm sóc cha mẹ là điều đương nhiên, ai lại để người khác chăm’. Chắc chắn là vậy đấy. Dù có khó khăn cách mấy, chỉ cần một lời khen hiếu thảo là cũng coi như xong hết. Nó làm tôi phát điên. Thật sự chỉ muốn ném thẳng chiếc tã đầy phân vào họ.”

Từ đầu tới giờ Masami tỏ ra khá rụt rè. Nên đến khi thấy cô thao thao đầy tức tối, Takashi không khỏi kinh ngạc. Anh cầm tờ hóa đơn trên tay, á khẩu nhìn cô. Như chợt nhận ra điều đó, Masami đưa tay vuốt tóc.

“Xin lỗi. Tôi đã nói chuyện không đâu rồi.”

“Không sao.” Takashi cười. “Nhưng mẹ cô hẳn đang rất vất vả vì cô đã lên đây. Giờ không còn ai chăm sóc ông ấy nữa.”

Masami lắc đầu. “Không. Ông ấy không cần ai chăm sóc nữa.”

“Nghĩa là...”

“Ông ấy đã mất hồi cuối năm ngoái. Nếu không, mẹ tôi đã không cho tôi lên Tokyo rồi.”

“Xin chia...”

Masami đưa tay phải lên như muốn ngăn lời Takashi. Anh ngậm miệng lại.

“Anh không cần phải nói mấy lời chia buồn gì gì đó đâu. Cả tôi và mẹ đều rất vui.”

Nghe câu ấy, Takashi chỉ biết cười khổ.

“Có lẽ tôi hiểu cảm xúc của cậu Shinozaki khi có cô là người yêu rồi.”

Masami khẽ hé môi như thể ngại ngùng.

Từ thứ Hai, chuỗi ngày thí nghiệm và viết báo cáo lại bắt đầu.

Takashi nhận thấy từ khi trở về từ phòng Tư liệu, Whoopie có vẻ hoạt bát hơn trước. Nó không đi vòng vòng trong cũi nữa, nhưng vẻ mặt cùng ánh nhìn vô định vào không trung thì vẫn hệt như cũ. Anh đặt Whoopie ngồi lên ghế, dùng dây cố định chân tay và thân cô tinh tinh lại. Anh luôn cảm thấy tội lỗi khi làm việc này.

Các hội nhóm bảo vệ động vật mà biết là toi

, anh nghĩ. Việc cô tinh tinh hung bạo ban đầu dần trở nên ngoan ngoãn khiến anh phần nào được an ủi.

Sau khi cố định Whoopie vào ghế, đầu tiên, Takashi phủ lên nó một tấm lưới đặc biệt. Hơn một trăm điện cực được gắn vào chiếc mũ đội trên đầu Whoopie. Chúng được thiết kế để bắt lấy những tín hiệu dù là nhỏ nhất do não phát ra. Không chỉ thế, máy tính sẽ phân tích cả mô hình và kích thước rồi dự đoán chuyển động cụ thể của các tế bào thần kinh. Cụ thể, nhóm nghiên cứu coi hoạt động của tế bào thần kinh như một lưỡng cực. Họ sẽ so sánh nó với một mô hình mô phỏng để xác định lưỡng cực sẽ xuất hiện ở phần nào của não. Không chỉ một, mà sẽ có vô vàn lưỡng cực được tạo ra, kéo theo khối lượng phép toán cần xử lý cũng tăng lên theo cấp số nhân. Cùng với sự cải thiện về tốc độ xử lý của máy tính, công nghệ đã phát triển rất nhiều để phù hợp với yêu cầu đó.

Tiếp theo, anh đội mũ lên trên tấm lưới cho Whoopie. Bên trong mũ là hàng chục thiết bị tạo sóng điện từ gây kích thích cho não. Takashi gắn thêm vài thiết bị đo đạc nữa vào cơ thể Whoopie rồi đặt chiếc hộp màu trắng trước mặt cô tinh tinh. Đó là chiếc hộp tự tay anh làm, bởi vậy góc hộp không được vuông vắn lắm.

“Đã chuẩn bị xong.” Takashi nói.

“Tốt. Bắt đầu.” Sudo sửa chương trình máy tính và trả lời.

Người ngoài nhìn vào thí nghiệm này hẳn sẽ không khỏi tủm tỉm cười. Mặt quay về phía Whoopie của chiếc hộp trắng có một cánh cửa đóng vào mở ra ở những thời điểm nhất định. Mặt hộp còn lại cũng có thể mở được, nhưng sẽ chỉ mở để đổi món đồ bên trong. Họ đặt táo và chuối – những thứ cô tinh tinh thích vào hộp. Mỗi khi cánh cửa mở ra, Whoopie có thể nhìn thấy đồ ăn mà mình thích, nhưng nó sẽ không đoán được bên trong là gì cho tới khi cửa mở. Khi cửa đóng, trí tưởng tượng của Whoopie sẽ được phát huy. Đó chính là điều mà nhóm Takashi quan tâm.

“Đúng như tôi nghĩ.” Vừa nhìn màn hình máy tính, Sudo vừa nói. “Mẫu T1 là khi Whoopie tưởng tượng ra quả chuối.”

“Có lẽ vậy.” Takashi đồng tình. Nếu không biết mẫu T1 là gì, khi nhìn vào người ta sẽ chỉ thấy một tập hợp những đường cong lộn xộn. Nhưng những người trong nhóm nghiên cứu thì biết chính xác các mẫu khác nhau ở điểm nào.

“Được rồi. Lần tới khi xuất hiện mẫu T1, hãy thử kích thích Whoopie bằng chương trình số 9.”

“Chương trình số 9?” Nghe vậy, Takashi cau mày. “Can thiệp vào trung khu ký ức ư? Để làm gì ạ?”

“Để xem nội dung tưởng tượng được ký ức xử lý như thế nào. Đây là một phần của kế hoạch nghiên cứu. Tiếp tục đi.” Sudo nói mà không nhìn Takashi.

“Chuẩn bị cài đặt chương trình số 9.” Takashi cố tình đáp theo lối giao tiếp trong công việc.

Dù đã về đây được hai tháng, Takashi vẫn chưa hiểu mục tiêu Sudo đang nhắm tới là gì. Biết là lệnh của cấp trên, nhưng anh không hiểu ý đồ đằng sau nó. Ban đầu anh cho rằng do bản thân trước giờ chỉ nghiên cứu hệ thống nhận thức thị-thính giác nên khó lòng thích nghi với tình hình mới. Nhưng gần đây, anh biết mình đã nhầm. Công việc Sudo giao cho anh không hề có sự nhất quán, mà chỉ giống như đang lạm dụng bộ não của động vật thí nghiệm.

Sau khi kết thúc công việc ngày hôm đó, Takashi thử hỏi Sudo về Shinozaki. Tất nhiên là Sudo nhớ, nhưng anh ấy chẳng có vẻ gì là hoài niệm, và cũng không biết gì hơn những thông tin Takashi đã có.

“Cậu ta không phải típ thích ở lâu trong phòng thí nghiệm. Có khi đang ngao du tại đất nước xa lạ nào đó cũng nên.” Ngay cả khi nghe tin Shinozaki mất tích, Sudo cũng không quá ngạc nhiên mà chỉ nói như vậy.

Hôm đó, Takashi đọc sách ở bàn ăn đến tận khuya. Mayuko đi ngủ trước. Trước khi vào phòng ngủ, cô hỏi anh: “Anh đọc chăm chú thế. Sách hay lắm à?”

“Ừm, là tiểu thuyết trinh thám. Anh đang tò mò không biết chuyện gì sắp xảy ra nên muốn đọc cho xong.” Anh đáp vậy. Nhưng kỳ thực sách chẳng thú vị chút nào. Anh chỉ chọn bừa khi ghé vào hiệu sách trên đường đi làm về mà thôi.

Takashi đọc cuốn sách nhàm chán đó đến hơn 3 giờ sáng. Đến cuối vẫn không hiểu truyện nói về cái gì. Nhưng với anh, điều đó không hề quan trọng. Điều quan trọng là có thể thức khuya mà không bị Mayuko nghi ngờ. Takashi cầm chiếc điện thoại không dây vào phòng tắm, trong lòng thầm mong bên phòng ngủ sẽ không nghe thấy gì. Anh đặt một tờ giấy nhớ lên bồn rửa mặt, trên đó là số của trụ sở chính ở Los Angeles. Anh vừa nhìn vừa bấm. Lần nào gọi điện ra nước ngoài, anh cũng thấy căng thẳng.

Đáp lại là giọng của một cô gái trẻ. Takashi xưng tên và nơi làm việc rồi nhờ chuyển máy cho người phụ trách nhân sự bên phía Nhật Bản. Sau một hồi chờ đợi, anh nghe được thứ tiếng Nhật trôi chảy từ đầu dây bên kia: “Vâng, tôi nghe.” Vẫn là giọng nữ. Takashi giới thiệu bản thân lần nữa, rồi nói muốn hỏi nơi làm việc và số điện thoại của người vừa được thuyên chuyển sang đó – Miwa Tomohiko.

“Anh Tsuruga Takashi phải không nhỉ? Phiền anh đọc cho tôi ID.”

Takashi đọc mã nhân viên. “Xin anh chờ một chút,” người kia nói. Có lẽ cô ta đang bấm máy để xác minh danh tính người gọi.

“Xin lỗi đã để anh phải đợi. Anh Miwa đã được phân công về trung tâm nghiên cứu B7.” Nghe đến đây, Takashi thở phào. Dù gì thì Tomohiko cũng đang thực sự ở Los Angeles. Người phụ nữ kia nói tiếp. “Tuy nhiên, giờ anh ấy không ở đó nữa.”

“Sao? Ý cô là...”

“Anh ấy đang tham gia một dự án đặc biệt, nên không được phép công khai nơi ở.”

“Vậy... số điện thoại thì sao?”

“Nếu có việc gấp, vui lòng liên hệ với B7. Họ sẽ nhắn với anh ấy giúp anh.”

“Không thể liên lạc trực tiếp được ư?”

“Vâng. Nhưng nếu anh để lại lời nhắn, tôi nghĩ anh Miwa sẽ liên lạc lại với anh.” Takashi cảm thấy giọng điệu của người ở đầu dây bên kia dần trở nên giống như trả lời theo công thức.

“Tôi hiểu rồi. Vậy tôi sẽ thử liên lạc với bên đó.”

“Tôi chuyển máy cho anh về tổng đài nhé?”

“Vâng. Cảm ơn cô.”

Khi cuộc gọi được chuyển về tổng đài, Takashi nhờ họ giúp anh kết nối với trung tâm nghiên cứu B7. Nhấc máy là một người đàn ông nói tiếng Anh rất khó nghe. Takashi nhờ anh ta nhắn với Miwa Tomohiko là hãy liên lạc với Tsuruga ở Tokyo, nhưng anh không dám chắc anh ta hiểu. Kể cả anh ta có hiểu, anh vẫn lo không biết lời nhắn có thực sự đến tai Tomohiko hay không. Miwa đang tham gia một dự án đặc biệt, không được công khai nơi ở, không thể liên lạc trực tiếp... có cần làm tới mức đó để tránh rò rỉ thông tin mật hay không? Nếu cần thì đó là dự án gì? Dù có suy nghĩ cách mấy cũng không tưởng tượng ra nổi, anh tắt đèn rồi vào phòng ngủ. Lúc lên giường, anh nhận ra Mayuko vẫn đang mở mắt.

“Anh đọc sách đến tận giờ này sao?” Cô hỏi.

“Ừ.” Anh đáp, tự hỏi không biết Mayuko tỉnh từ lúc nào.

Khi Takashi tới công ty vào ngày hôm sau, trong hòm thư của anh có một bức thư gửi qua đường hàng không. Nhìn tên người gửi, anh suýt đánh rơi chiếc túi đang kẹp dưới cánh tay. Đó là TOMOHIKO MIWA.

Anh vội vàng về chỗ, dùng dao rọc giấy mở phong bì. Trên bì thư có đề dòng chữ Vitec America, giấy viết thư bên trong cũng vậy.

“Chào, ông khỏe không?”

Bức thư mở đầu bằng dòng chữ viết tay bằng mực đen. Nhìn nó, bao khúc mắc trong lòng anh mấy ngày nay đột nhiên bay biến. Nét chữ này chắc chắn là của Tomohiko. Cậu ấy có cách viết rất đặc trưng.

“Tôi rất xin lỗi vì đã sang Mỹ mà không nói với ông lời nào. Nhưng mãi đến hôm nay tôi mới có thời gian viết cho ông vài dòng. Việc tôi được lệnh sang Mỹ diễn ra khá đột ngột, ngày lên đường cũng gấp. Có thể ông cũng biết, tôi thậm chí còn không có thời gian về thăm nhà ở Shizuoka. Hơn nữa, từ khi sang đây ngày nào tôi cũng bị kéo đi hết chỗ này đến chỗ nọ, nhiều lúc còn chẳng biết mình đang ở đâu nữa. May mà cơ thể tôi vẫn đủ sức chịu đựng.

Giờ tôi đang làm việc tại một nơi gọi là viện Nghiên cứu Trung ương B7. Công việc chủ yếu là nghiên cứu phân tích sóng não từ. Nhưng tôi không ở trung tâm mà làm ở phòng thí nghiệm của một công ty liên kết với Vitec. Tiếc là tôi không được tiết lộ cụ thể hơn về địa điểm này. Không phải do nghiên cứu to tát gì cả, mà đại khái quy định rườm rà thế đấy.

Tôi ăn ngủ ở viện nghiên cứu luôn. Bên này môi trường khá tốt. Thiên nhiên phong phú, không gian rộng rãi, đồ ăn cũng không tệ. Tuy cũng có lúc gặp sự cố như hôm qua chẳng hạn. Tôi được một người bạn mời đến thăm nhà, trong bữa tối có đãi món hàu. Mà ông biết đấy, tôi ghét nhất cái món đó, thế nhưng cuối cùng vẫn phải cố ăn vì không muốn làm người ta phật ý. Mặc dù đôi khi cũng có những chuyện kiểu vậy, nhưng tôi vẫn ổn. Tôi sẽ viết thư cho ông. Và nếu có thể, hãy kể cho tôi xem dạo này ông thế nào. Gửi cho tôi tới B7 theo địa chỉ trên bì thư nhé.

Chào ông!”

Takashi đọc lại bức thư lần nữa, đặc biệt là phần cuối. Tâm trạng vui vẻ khi đọc những dòng đầu đã không còn. Cơn tức ngực vừa biến mất giờ còn khó chịu hơn trước.

Anh nghi ngờ bức thư này là giả.

Từ khóa là “hàu”.

Tomohiko không ăn hàu, nhưng lý do không phải là vì “ghét” như trong thư đã viết. Takashi nhớ lại chuyện Tomohiko đã kể cho anh về ông nội mình từ hồi cấp hai, rằng “kể từ sau trận ốm khiến chân tôi bị thế này, ông đã không ăn hàu nữa. Ông bảo sẽ không đụng tới bất kỳ con hàu nào cho tới khi chân tôi lành lại, dù trước đó hàu là món cực kỳ khoái khẩu của ông. Ông đã mất được ba năm rồi, nhưng mãi đến gần đây tôi mới biết chuyện đó. Và tôi thấy cực kỳ có lỗi khi cứ hồn nhiên ăn hàu trước mặt ông bấy lâu nay.”

“Vậy nên,” Tomohiko nói tiếp, “Tôi cũng quyết định sẽ không bao giờ ăn hàu nữa.”

Nếu thật sự là Tomohiko, chắc chắn cậu sẽ không viết như thế. “Hàu” là món ăn có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc với cậu. Có thể bức thư này là do người khác chứ không phải Tomohiko viết. Kẻ đó chỉ biết Tomohiko thật sự không ăn hàu, và đã dễ dàng lầm tưởng rằng cậu ghét món đó, nên đã cố tình đề cập đến chi tiết đầy cá nhân như vậy để tạo cảm giác chính chủ đã viết lá thư này. Điều đó là hoàn toàn có thể. Và như vậy thì rõ ràng hợp lý hơn việc bức thư này là do chính tay Tomohiko viết.

Nhưng còn nét chữ thì sao?

Takashi lập tức lắc đầu. Có thể giả mạo mà. Chỉ cần có chữ viết tay của Tomohiko và một chiếc máy tính để ghi nhớ mẫu chữ là được. Vấn đề là tại sao kẻ đó phải làm vậy? Và quan trọng hơn cả, là chuyện gì đã xảy ra với Tomohiko?

Hôm đó, Takashi hầu như không làm được việc gì. Sudo hỏi “Có chuyện gì vậy?” nhưng anh không thể giải thích tại sao. Đây không phải chuyện anh có thể tâm sự với bất kỳ ai. Takashi rời trung tâm nghiên cứu sớm hơn thường lệ, nhưng không về thẳng nhà mà lang thang ở Roppongi. Anh cảm thấy cần thời gian từ từ suy nghĩ một mình. Có thể là anh đang đứng trước một ngã rẽ vô cùng quan trọng.

“Anh Takashi đấy à?” Đột nhiên, có ai đó gọi tên anh. Takashi dừng lại, nhìn quanh quất. Một cô gái trong bộ váy đỏ siêu bó đang tươi cười tiến lại. Đôi môi cùng màu với bộ đồ của cô mấp máy: “Lâu quá rồi nhỉ? Anh vẫn khỏe chứ?”

Cô ấy là ai nhỉ?

Vừa tự hỏi, Takashi có ngay câu trả lời. Họ từng cùng là thành viên câu lạc bộ tennis.

“Natsue hả? Đúng là lâu quá rồi không gặp em.” Takashi đáp lại với nụ cười trên môi. “Dễ phải hai năm rồi ấy nhỉ?”

“Anh nói linh tinh gì đấy? Mình mới gặp nhau năm ngoái mà. Ở Shinjuku.”

“Năm ngoái?”

“Vâng. Lần mà cái anh gì đó... Anh Miwa đúng không nhỉ? Lần mà anh ấy giới thiệu bạn gái ấy.”

“Sao cơ...” Takashi nhìn chằm chằm vào Natsue. Ký ức trong đầu anh trở nên rối rắm. Những hình ảnh trong quá khứ bắt đầu biến thành một mớ hỗn độn.

SCENE 5

Được gọi tên, tôi hít một hơi thật sâu, kiểm tra cà vạt rồi đứng dậy. Gần như cùng lúc, các slide được chiếu lên màn hình lớn. Dòng chữ “Báo cáo nghiên cứu về việc nhập thông tin cho hệ thần kinh thị-thính giác (Lần thứ 7)” xuất hiện đầu tiên. Tôi nhìn quanh phòng. Đây là giảng đường ở MAC. Cửa sổ được che kín bằng rèm đen. Căn phòng gần như kín chỗ. Cỡ một trăm, thậm chí hai trăm người cũng nên. Chứng tỏ báo cáo này khá được quan tâm. Tuy nhiên, tôi không cần giải thích kết quả nghiên cứu cho chừng ấy người. Chỉ cần giải thích với những người ngồi ở ba hàng ghế đầu là đủ. Họ đến từ Vitec với mục đích tìm hiểu khả năng của lớp trẻ chúng tôi. Nếu không được những người này công nhận, tương lai tôi sẽ không thể được phân về những phòng ban trọng điểm.

Cố lên, Takashi. Kết quả quan trọng đấy. Cho họ thấy khả năng của mày đi.

“Tôi là Tsuruga Takashi, đến từ phòng Nghiên cứu Khoa học Thực tế. Sau đây, tôi sẽ báo cáo về những thành quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu về việc đưa thông tin vào hệ thần kinh thị-thính giác.”

Suôn sẻ hơn tôi nghĩ. Chắc sẽ ổn thôi. Vài người ngồi ở hàng hai chỉnh gọng kính. Slide tiếp theo hiện ra.

Đó là một ngày tháng Bảy. Buổi thuyết trình kết quả nghiên cứu thường niên đang được tổ chức tại MAC. Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên phát biểu về đề tài của nhóm mình. Thường thì ai phát biểu cũng được, nhưng nếu có người đã được chọn vào Vitec trong kỳ tới thì đó sẽ là người phát biểu. Vì thế, năm nay tới lượt tôi.

“... Biểu đồ này ghi lại phản ứng từ não của đối tượng thí nghiệm, khi chúng tôi nhập hình ảnh ‘quả táo’ và ‘quả chuối’ đã được hệ thống chuyển đổi thành tín hiệu thị giác vào não của chúng. Đối tượng không được biết về nội dung tín hiệu này. Tiếp theo đây là biểu đồ ghi lại các phản ứng tương ứng khi đối tượng được cho xem một quả táo và quả chuối thật. Bỏ qua các thành phần tần số nhỏ, ta có thể thấy hai biểu đồ có hình dạng khá giống nhau. Tuy nhiên, khi giải đáp câu hỏi đối tượng nghĩ mình đã nhìn thấy gì khi nhận được tín hiệu đầu tiên, câu trả lời là ‘quả chuối’ và ‘không biết’. Chuối có độ lớn và hình dạng đặc biệt nên dễ nhận biết hơn, còn táo thì do có nhiều thứ có hình cầu và độ lớn tương tự nên cần thêm thông tin chi tiết mới nhận biết được.”

Suốt một tuần nay, tôi mất ăn mất ngủ để chuẩn bị cho buổi báo cáo này. Lời khuyên của giáo sư Osanai là tập trung “Làm thế nào để người nghe cảm thấy như đã hiểu”. Chỉ có một số ít người hiểu được nội dung nghiên cứu, nên việc liệt kê chi tiết là vô ích. Hãy cố gắng đẩy những nội dung hay ho mà cả người bình thường cũng có thể hiểu lên trước. Có vậy, ban giám khảo mới có cảm giác rằng mình đã hiểu, hài lòng và đánh giá cao. Đó là lời khuyên của giáo sư bảo thủ và ghét rủi ro vào báo cáo những khó khăn mình đã gặp phải trong quá trình nghiên cứu, anh lập tức yêu cầu tôi xóa hết đi.

“Chẳng ai quan tâm cậu đã gặp khó khăn thế nào đâu.” Giáo sư Osanai nói. “Tất cả những gì họ muốn biết là nghiên cứu đã tiến triển đến đâu, yếu tố nào cản trở việc ứng dụng nghiên cứu cứu vào thực tế, và nếu thương mại hóa thì có thể kiếm được bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ vậy thôi. Nghe này, nguyên tắc cơ bản chỉ có một. Đừng kể khổ. Chỉ cần nói cho họ biết nghiên cứu này giá trị đến chừng nào.”

Vì phát biểu ở đây khác với báo cáo ở trường đại học hay hội nghị học thuật thông thường, giáo sư bổ sung.

“... Những chủ đề trong tương lai của chúng tôi bao gồm: Một, chia nhỏ dữ liệu nhận dạng hình dạng và màu sắc. Hai, tăng tốc độ nhập thông tin. Và ba, đồng bộ sự dịch chuyển của nhãn cầu. Tôi xin phép kết thúc bài phát biểu tại đây.” Tôi cúi đầu nói và thu cây thước chỉ lại. Một tràng pháo tay vang lên. Đó chỉ là phép lịch sự, chứ không phải vì bài phát biểu của tôi được đánh giá cao. Đèn bật sáng, cho phép tôi nhìn rõ mặt người nghe. Phía cuối căn phòng có một anh chàng đang ngáp miệng ngáp dài.

Người dẫn chương trình yêu cầu mọi người đặt câu hỏi. Một cánh tay ở hàng ghế phía trước lập tức giơ lên. Đúng như tôi dự đoán, đó là một câu hỏi về phương pháp phân tích dữ liệu. Tôi trả lời trơn tru, không vấp váp gì. Hai câu hỏi tiếp theo đối với tôi cũng dễ như kể về sở thích bản thân trong buổi phỏng vấn xin việc. Những tưởng mọi chuyện sắp kết thúc êm đẹp, nhưng một người đàn ông ở hàng ghế thứ ba giơ tay. Người dẫn chương trình ra hiệu mời ông ta đặt câu hỏi.

“Tôi vẫn luôn đánh giá khả năng phân tích dòng điện trong não của cậu rất xuất sắc.” Người đàn ông tóc lưa thưa trạc tứ tuần bắt đầu bằng một lời khen. Tôi lập tức cảnh giác, liếc nhìn giáo sư Osanai đang ngồi ở vị trí đồng nghiên cứu với vẻ căng thẳng. Ông ta tiếp tục. “Tuy nhiên, lần này không thấy cậu nhắc đến việc phân tích các phản ứng hóa sinh trong não như đã đề cập sơ bộ ở lần thứ sáu. Tại sao thế?”

Rốt cuộc chuyện gì đến cũng phải đến, tôi tự nhủ. Nếu có thể, tôi muốn tránh câu hỏi này. Nhưng vì đã có người nêu ra, nên tôi đâu còn cách nào khác ngoài trả lời họ.

“Chúng tôi vẫn đang nghiên cứu phản ứng hóa sinh của não. Như ông đã biết, muốn thực hiện được điều này, chúng tôi sẽ cần tìm nguyện viên là các bệnh nhân phẫu thuật, vậy nên sẽ rất khó để thu thập được lượng lớn dữ liệu phổ quát. Do đó, lần này chúng tôi tập trung thúc đẩy việc phân tích bằng phương pháp kích thích gián tiếp, cho phép thu thập một lượng lớn dữ liệu xác định.”

“Lần trước cậu đã trả lời như vậy rồi. Nhưng rõ ràng là cảm xúc cá nhân có liên quan chặt chẽ đến nhận thức thị-thính giác.”

“Vâng, đúng thế ạ.”

“Một khi cảm xúc còn là một tham số, thì việc nắm được các phản ứng hóa sinh vẫn là điều không thể thiếu. Nếu chưa xem xét đến điều này, tôi e rằng phân nửa số biểu đồ phản ứng não cậu vừa công bố gần như là vô nghĩa. Đặc biệt là biểu đồ thứ tư.”

Bực thay, người phụ trách trình chiếu đã chiếu lại biểu đồ vừa được nhắc tới.

“Không phải là chúng tôi chưa xem xét đến vấn đề đó. Chúng tôi đã có kế hoạch phân tích những biểu đồ này từ góc độ phản ứng hóa sinh. Phải thừa nhận rằng nếu đi theo hướng đó thì có thể dẫn tới một kết luận hoàn toàn khác.” Không còn cách nào khác, tôi đành nhượng bộ. “Tuy nhiên, tôi nghĩ khả năng đó cực kỳ thấp.” Ít nhất, tôi cần một câu phản biện.

Có vẻ đã hài lòng, ông ta gật đầu rồi ngồi xuống ghế. Người dẫn chương trình thông báo đã hết thời gian và bài thuyết trình của tôi kết thúc.

“Thế là toi.” Lúc trở lại phòng chờ, tôi nói với giáo sư Osanai. Anh nhăn nhó.

“Ông ta là một nhà hóa học. Tên Sugihara thì phải. Trước đây từng làm nghiên cứu về morphin nội sinh.”

“Em từng nghe cái tên đó rồi.”

“Nếu biết ông ta cũng tới, có lẽ ta nên chuẩn bị câu trả lời từ trước. Chúng ta có dữ liệu giả lập phản ứng hóa sinh rồi mà, đúng không?”

“Có ạ. Nhưng em nghĩ chẳng ích gì đâu. Dễ gì mà che mắt được người như thế.”

Trong suốt thời gian dài, nhóm nghiên cứu hệ thống nhận thức thị-thính giác đã phải đối mặt với một trở ngại lớn. Đó chính là phản ứng hóa sinh trong não mà người đàn ông ban nãy đặt câu hỏi. Sử dụng động vật linh trưởng để thí nghiệm không cho ra kết quả như kỳ vọng. Đôi khi còn ra kết quả hoàn toàn trái với mong đợi nữa. Thí nghiệm cần can thiệp ngoại khoa thì chỉ có thể sử dụng động vật, nhưng thí nghiệm đòi hỏi thu thập ý kiến của đối tượng lại cần được thực hiện trên con người. Mâu thuẫn thực tế ấy đã phá hoại sự tiến bộ trong nghiên cứu của chúng tôi.

“Mà cậu đừng lo. Vitec chắc chắn sẽ thừa nhận năng lực của cậu thôi.” Giáo sư Osanai vỗ nhẹ vai tôi. “Chắc cậu cũng mệt rồi. Về phòng chợp mắt chút đi. Đêm qua cậu thức trắng đúng không?”

“À, vâng.” Tôi nới cà vạt. “Nhưng em muốn nghe các nhóm khác thuyết trình nữa.”

“E là không còn bài nào xuất sắc bằng bài của cậu đâu.” Giáo sư Osanai an ủi.

Nhưng tôi muốn nghe bài phát biểu của Tomohiko. Tháng trước, anh chàng Shinozaki kia vừa hào hứng khoe khoang nghiên cứu của nhóm bên đó tuyệt vời cỡ nào. Và kể từ đó, họ đã tỏ ra rất đáng ngờ. Chẳng hạn như Tomohiko và Mayuko thường ở lại phòng thí nghiệm tới tận khuya, người ngoài thậm chí còn bị hạn chế ra vào khu của họ. Chưa kể cửa sổ luôn buông rèm để không ai có thể ngó nghiêng gì từ bên ngoài. Nghĩ theo cách hợp lý thì có thể là họ đã đạt được kết quả gì đó mang tính đột phá. Tuy nhiên ngoại trừ tôi, không mấy ai tò mò về họ đến thế. Mọi người chỉ nghĩ ai cũng đang gấp rút chuẩn bị dữ liệu trước thềm báo cáo. Trên thực tế, đó là tình trạng chung của rất nhiều người. Mà vốn dĩ các nhóm nghiên cứu đều theo chủ nghĩa bí mật. Rất nhiều nhóm không cho phép người không liên quan ra vào phòng thí nghiệm của mình.

Hẳn không cần nói cũng biết tôi băn khoăn vì việc này liên quan tới Tomohiko và Mayuko. Gần đây, tôi hầu như không gặp họ, cũng không thấy họ ở căng tin trong giờ ăn trưa. Thậm chí trong vài lần hiếm hoi chạm mặt, khi tôi hỏi họ đang làm gì, họ đều chỉ trả lời qua loa lấy lệ. Họ tỏ ra xa cách đến mức khiến tôi không khỏi nghĩ rằng đó chỉ là do Tomohiko không muốn Mayuko đến gần tôi thôi, chứ chẳng liên quan gì tới công việc hết. Kể từ cái ngày tôi và Mayuko cùng nhau chơi tennis, ánh mắt u tối của cậu chưa một lần biến mất khỏi tâm trí tôi.

Nhưng nhìn thái độ của Tomohiko khi nói về những chuyện khác ngoài công việc, tôi biết mình đã nhầm. Lúc ấy, điệu bộ của cậu hoàn toàn giống trước đây. Tuy nhiên vì đang ở công ty, làm sao tôi có thể nói mãi về những chuyện không liên quan tới công việc? Tôi cố gắng tìm đề tài để nói, nhưng sự im lặng ngột ngạt vẫn bao trùm. Và quan trọng hơn cả, là dù có phải đang giữ bí mật nghiên cứu hay không, thì kết quả vẫn giống hệt nhau: Tomohiko đang ngăn Mayuko đến gần tôi. Nhìn vẻ mặt cô, tôi đoán cô muốn tiết lộ cho tôi về nghiên cứu của họ, nhưng kiểu gì Tomohiko cũng sẽ nhận ra và không bao giờ để cô làm vậy.

Suốt nhiều ngày không được nói chuyện với Mayuko khiến tôi hơi khó chịu. Chưa kể, để chuẩn bị cho buổi báo cáo, tôi gần như ăn ngủ suốt ở phòng thí nghiệm. Những khi thấy phòng của nhóm Tomohiko sáng đèn đến tận khuya nhưng luôn khóa trái, tôi không khỏi bứt rứt, tự hỏi không biết hai người bọn họ đang làm gì trong phòng kín. Dù đương nhiên, trong phòng còn cả những người khác nữa.

Sắp tới lượt báo cáo của nhóm Tomohiko. Tôi cởi áo vest, tháo cà vạt rồi tiến vào hội trường. Dù các phòng đều có điều hòa, nhưng đây mới là lần thứ hai tôi mặc vest vào giữa mùa hè kể từ khi nhập Vitec. Bên trong đã tắt đèn. Người dẫn chương trình bắt đầu giới thiệu.

“Sau đây là bài báo cáo của nhóm tiếp theo, nhóm nghiên cứu gói ký ức thuộc phòng Nghiên cứu Khoa học thực tế. Đề tài nghiên cứu là ‘Khả năng phát sinh ảo giác thời gian trong hệ thống thực tế ảo theo mô hình từ trước đến nay’. Xin mời diễn giả Sudo Takaaki.”

Cái gì?

Tôi đứng bật dậy. Tôi cứ tưởng mình nghe nhầm, nhưng không phải. Người đứng trên bục chắc chắn là giáo sư Sudo. Tomohiko đâu? Tôi nhìn xuống khu vực dành cho tác giả đồng nghiên cứu, nhưng không thấy ai trong nhóm nghiên cứu bên ấy. Cả Mayuko lẫn Shinozaki đều không ở đó.

Thế là thế nào?

Tôi đánh mắt về phía giáo sư Sudo. Giáo sư điềm đạm bắt đầu.

Không chỉ có việc nhóm Tomohiko vắng mặt khiến tôi thấy lạ. Tôi còn thắc mắc về đề tài của họ nữa. Tiêu đề nghe thì có vẻ dao to búa lớn, nhưng thực chất nội dung chỉ tóm gọn lại ở điểm: khi sử dụng loại màn hình trình chiếu thực tế ảo thông thường, có thể tạo ra ảo giác về thời gian thực tế đã trôi qua không? Nếu thời gian trên màn hình và thời gian ngoài thế giới thực bằng nhau, đương nhiên có thể kết luận ta đã trải nghiệm thực tế ảo theo đúng thời gian thực. Vậy nếu ta làm cho thời gian trên màn hình chạy nhanh hơn thực tế một chút thì sao? Câu hỏi đặt ra là liệu người tham gia có thể nghĩ rằng họ đã trải qua một ngày trải nghiệm đáng giá nhưng thực tế chỉ mới trôi qua một phút không?

Vấn đề này đã được làm sáng tỏ rồi. Câu trả lời là “có thể” trong điều kiện vô cùng hạn chế và “không thể” trong tất cả trường hợp còn lại. Nghĩ kỹ thì đó là điều tất yếu. Cơ thể con người có một thứ gọi là “đồng hồ sinh học”. Chu trình ngủ của chúng ta được kiểm soát bởi chiếc đồng hồ đó. Con người không thể đánh lừa cơn đói. Sự mệt mỏi hay khả năng phục hồi cũng vậy. Thi thoảng vẫn có những tác phẩm hư cấu cho rằng các thiết bị thực tế ảo khiến con người thể phân biệt giữa thực tế và không gian giả tưởng, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra trong khoảnh khắc ngắn ngủi chứ không thể kéo dài được.

Vấn đề là tại sao nhóm của Tomohiko, thậm chí cả giáo sư hướng dẫn của họ, lại chọn báo cáo về một đề tài cũ rích như thế? Họ đã khám phá thêm bước ngoặt mới nào chăng? Nhưng bài thuyết trình của giáo sư Sudo lúc này chỉ đơn giản là lặp lại những điều đã được xác nhận. Tất cả các slide trong bài đều là những slide tôi đã từng thấy trước đây. Bài thuyết trình kết thúc sau đúng 15 phút. Kiểm soát thời gian giỏi thật. Như thường lệ, người dẫn chương trình mời mọi người đặt câu hỏi. Thể nào cũng có người phàn nàn rằng nội dung quá nhạt nhẽo, tôi nghĩ. Nhưng không ai làm thế cả. Có lẽ vì người thuyết trình là giáo sư hướng dẫn. Chỉ có một câu hỏi vô thưởng vô phạt được đưa ra.

Đến đây là tới giờ giải lao. Các giám khảo ngồi ở hàng ghế đầu đồng loạt đứng dậy. Lạ thật, vừa nhìn họ tôi vừa nghĩ. Ít hơn lúc tôi thuyết trình. Tôi đảo mắt nhìn quanh, nhận ra ít nhất đã thiếu ba người. Một trong số đó là Sugihara, người đã hỏi tôi một câu hỏi về phản ứng hóa sinh lúc nãy. Thế là thế nào? Giám khảo phải ngồi nghe hết chứ. Hoặc vì biết rằng bài phát biểu của giáo sư Sudo đã lỗi thời nên họ đi nghỉ trước rồi chăng?

Dù sao đi nữa, quan trọng nhất lúc này là tìm Tomohiko. Tôi rời khỏi hội trường, tiến về phòng thí nghiệm của nhóm nghiên cứu gói ký ức. Cậu ấy đang làm cái quái gì vậy?

Tôi tiến lại gần đúng lúc cánh cửa phòng thí nghiệm của họ mở ra.

Ước gì người xuất hiện là Mayuko

, tôi nghĩ. Nhưng trái với mong đợi của tôi, bước ra là một người đàn ông cao lớn trong bộ vest. Nhìn mặt ông ta, tôi biết đó không phải người Nhật. Tóc nhớ mình từng thấy mái tóc vàng cùng vầng trán cao ấy rồi, nhưng ở đâu thì tôi chịu. Thêm một người nữa bước ra. Người này thì tôi biết, đúng hơn là tôi vừa mới gặp ông ta ban nãy. Đó là Sugihara từ Vitec. Người nước ngoài đó và Sugihara đi ngược hướng với tôi, vừa đi vừa chuyện trò với vẻ rất nghiêm túc. Họ không hề để ý đến tôi. Là do đang quá chú tâm vào cuộc nói chuyện riêng chăng?

Tôi tiến về phía cánh cửa nơi họ vừa bước ra, thắc mắc sao Sugihara không nghe giáo sư Sudo thuyết trình mà lại xuất hiện ở phòng thí nghiệm này. Đã thế còn đi cùng một người nước ngoài...

Đến đây, tôi liền nhớ ra mình đã nhìn thấy người nước ngoài kia ở đâu. Trên bản tin nội bộ của Vitec. Ông ta là chủ nhiệm phòng thí nghiệm tại trụ sở chính ở Los Angeles. Tên là Floyd, nếu tôi nhớ không nhầm... Một chuyên gia về phân tích não. Tại sao một người như thế lại xuất hiện ở đây?

Cứ gõ cửa đã

, tôi nghĩ. Việc Sugihara và Floyd bước ra nghĩa là Tomohiko và nhóm của mình đang ở trong phòng. Nhưng trước khi kịp chạm tay vào nắm đấm cửa, tôi đã bị gọi giật lại: “Có chuyện gì thế?”

Tôi quay lại nhìn. Giáo sư Sudo mới nãy còn đứng thuyết trình trên bục, giờ đã đang đứng trước mặt tôi.

“Em tìm Tomohiko... à, tìm Miwa có chút việc.” Tôi đáp, tay buông xuống.

“Cậu có việc gì gấp à?”

“Không ạ. Em có vài chuyện muốn hỏi cậu ấy thôi.”

“Thế thì...” Giáo sư Sudo chen vào, đứng chắn giữa tôi và cánh cửa. “Cậu để sau được không? Giờ chúng tôi phải họp.”

“Thế ạ.”

“Rất xin lỗi.”

Tôi gật đầu và bước đi. Nhưng sau đó quay lại ngay. “Giáo sư Sudo.”

Đang đưa tay ra toan mở cửa, anh ta liền khựng lại nhìn tôi.

“Bài thuyết trình vừa nãy là sao ạ?” Tôi hỏi. Lông mày Sudo nhướn lên.

“Sao là sao?”

“Em không nghĩ chỉ với nội dung ấy mà mọi người phải thức trắng nhiều đêm như vậy. Với cả, tại sao diễn giả không phải là Miwa?”

Sudo nhún vai. “Chúng tôi có nguyên nhân riêng.”

“Không thể tiết lộ cho người ngoài đúng không ạ?”

“Đúng vậy. Nhóm của cậu cũng có những điều không thể nói với người ngoài mà, đúng không?” Đơn cử như phản ứng hóa sinh trong não chẳng hạn.” Anh ta cười rồi biến mất sau cánh cửa.

Đến khi công bố kết quả buổi báo cáo, tuy đứng hạng nhất nhưng tôi thực lòng chẳng vui vẻ mấy. Trong vài năm gần đây, kỳ nào sản phẩm liên quan được Vitec tập trung phát triển cũng chiếm vị trí đầu bảng. Họ sẽ không vì thế mà đối xử đặc cách với tôi. Dù sao, kết thúc báo cáo cũng là lúc tôi trút được gánh nặng trên vai, có thể thong thả thư giãn một thời gian.

Ngày hôm sau, lâu lắm rồi tôi mới gặp lại Tomohiko và Mayuko. Trên đường tới căng tin để ăn trưa, tôi đi ngang qua phòng thí nghiệm thì một người bất ngờ bước ra. “Này.” Tomohiko lên tiếng gọi tội trước. Giọng điệu vẫn giống hệt trước kia.

“Chúc mừng ông đã giành giải nhất. Quả đúng là ông mà.” Tomohiko đưa tay ra tỏ ý muốn bắt tay tôi.

“Sao ông không thuyết trình?” Tôi không những không đáp lại cái bắt tay, giọng tôi còn trở nên gay gắt.

“Ừ thì cũng có chuyện này chuyện nọ.” Dường như thấy bàn tay đang chìa ra trở nên gượng gạo, Tomohiko liền đút tay vào túi áo blouse, mặt cau lại.

“Tôi cũng nghe giáo sư Sudo nói vậy.”

“Tóm lại chúng tôi thấy kết quả hiện tại chưa đủ điều kiện để công bố rộng rãi. Tôi nghĩ là cần phải tăng N lên thêm chút nữa mới được.” Tăng N, tức là tăng số lượng mẫu để củng cố độ tin cậy của dữ liệu.

“Hôm qua, tôi thấy người tên Sugihara từ Vitec bước ra khỏi phòng ông. Cùng một người nước ngoài... Tên là Floyd thì phải.”

Nghe tôi nói vậy, Tomohiko hơi bối rối. “Đó là Brian Floyd. Đúng là ông ta đã đến phòng thí nghiệm nhóm tôi, nhưng không có gì đặc biệt đâu. Ông ta muốn xem thiết bị chúng tôi sử dụng trong phòng.”

“Nhưng sao phải xem đúng lúc người khác đang thuyết trình?”

“Ông Floyd không phải là thành viên ban giám khảo. Ông Sugihara thân với ông ta nên đi theo làm phiên dịch. Họ cũng đã thông báo với trưởng ban tổ chức rồi.”

Tomohiko càng lúc càng trở nên căng thẳng. Tôi rời mắt khỏi cậu ta và nhìn sang Mayuko. Nhưng cô chỉ cúi đầu im lặng, dường như phó mặc mọi thứ cho bạn trai. Điều này lại càng khiến tôi tức nghẹn cổ.

“Shinozaki nói nhóm bên đó đã có một bước tiến nhảy vọt kia mà.”

“Thì tôi cũng bảo cậu ta lúc nào chẳng nói quá còn gì.”

“Vậy ư? Tôi lại thấy mấy người đang cố tình che giấu điều gì đó.”

Tomohiko cau mày. Cậu liếc nhìn Mayuko rồi nhìn lại tôi.

“Takashi này. Một khi làm công việc này, có giữ riêng vài điều bí mật cũng là chuyện bình thường thôi mà. Chẳng lẽ có bất cứ chuyện gì tôi cũng phải báo cáo với ông?”

Có thể thấy rõ Mayuko đang tròn mắt nhìn sang Tomohiko. Bản thân tôi cũng không khỏi ngạc nhiên. Từ hồi cấp hai, tôi chưa bao giờ nghe cậu ấy nói ra điều gì như thế. Tôi khẽ gật đầu. Rồi lại gật mạnh thêm vài cái nữa.

“Ông nói đúng. Ông không có nghĩa vụ phải kể cho tôi mọi chuyện.” Câu nói này một phần là do tức giận, nhưng cũng một phần là tiếng lòng thật sự của tôi. Có lẽ tôi nên hiểu vị trí của mình. Mọi chuyện giờ đã khác, Tomohiko và tôi không thể chia sẻ mọi bí mật cho nhau như thời sinh viên nữa. “Xin lỗi. Sau này tôi sẽ không hỏi nữa.”

Tomohiko mím môi, có vẻ không thoải mái.

“Chúng ta đi ăn trưa thôi.” Mayuko nói với giọng vui vẻ. Chúng tôi chậm rãi bước đi. Khi tới căng tin, người duy nhất nói chuyện là Mayuko. Tomohiko và tôi chỉ ậm ừ đáp lấy lệ với vẻ mặt như đưa đám. Thấy Tomohiko càng như vậy, tôi lại càng nghi. Chẳng phải chính cậu đã bóng gió về sự tồn tại của một bí mật nào đó hay sao? Trước buổi báo cáo, họ đã giam mình trong phòng thí nghiệm mà ngày lẫn đêm. Nhưng hiện tại, guồng làm việc đã trở lại bình thường. Ai cũng nghĩ là do bận chuẩn bị cho bài báo cáo, nhưng tôi thì không. Nội dung thuyết trình của họ không to tát đến mức cần chuẩn bị nhiều như thế.

Tôi có một mối hoài nghi nữa. Đó là phải chăng trong cùng một ngày, có một buổi báo cáo khác đã diễn ra ở nơi khác? Và “nơi khác” ấy chính là phòng thí nghiệm của nhóm Tomohiko.

Trước đây tôi đã từng nghe những tin đồn kiểu như vậy rồi. Nội dung nghiên cứu mà trụ sở chính thực sự quan tâm đôi khi không được công bố kể cả trong nội bộ, và cũng không được ghi lại trong các báo cáo thông thường. Chỉ những người cốt cán có liên quan mới được nhóm họp để bí mật thảo luận mà thôi. Nếu đúng là vậy thì quá hợp lý rồi. Bài thuyết trình của giáo sư Sudo chỉ là bản thay thế. Mà không, biết đâu họ đều ngó lơ các đề tài khác, kể cả đề tài của tôi. Nếu tổ chức cùng ngày phát biểu, Vitec có gửi cả đội kỹ sư hàng đầu tới MAC cũng không ai nghi ngờ.

Vậy tức là... nhóm nghiên cứu gói ký ức của Tomohiko hẳn đã gặt hái được thành quả. Những lời Shinozaki từng nói sống lại trong tâm trí tôi.

Một khám phá vĩ đại có thể làm đảo lộn hoàn toàn những thường thức gốc rễ của ngành khoa học thực tế.

Tôi phải thừa nhận điều đó. Nhưng tôi ghen tị. Và lo lắng. Vậy là cậu ấy đã gặt hái được những thành quả tuyệt vời trước tôi. Tôi tức giận vì trong lòng không mảy may một chút cảm xúc muốn cầu chúc những điều tốt đẹp cho cậu ấy. Nhưng tôi chẳng biết mình phải làm gì nữa.

Và thế là tôi đón ngày 9 tháng Bảy – một ngày trước ngày đặc biệt – trong tâm trạng ấy. Ngày 10 tháng Bảy là sinh nhật của Mayuko.

Khi trời đã tối, tôi rời MAC và bắt đầu lang thang quanh đó. Bầu trời đầy mây u ám, bầu không khí ẩm ướt nặng trĩu như đè nặng lên cơ thể tôi. Mỗi lần một chiếc ô tô đi ngang, bụi lại bay tung lên và bám chặt vào làn da nhớp nháp của tôi. Tôi phải liên tục lấy khăn tay lau mặt, khiến chiếc khăn caro xanh trắng chẳng mấy chốc đã ố bẩn đục ngầu.

Nói là lang thang, nhưng thực ra tôi không chỉ đi loanh quanh trong vô định. Tôi có đích đến. Chỉ là đầu tôi đang phân vân không biết có nên đến đó hay không. Vậy nhưng đôi chân tôi lại không hề ngần ngại mà hướng về nơi đó. Và tôi nhận ra là mình chỉ đang giả vờ phân vân, để giảm bớt cảm giác tội lỗi được chút nào hay chút ấy. Cuối cùng, tôi đứng trước một tiệm trang sức. Tôi đã từng đến cửa tiệm này một lần rồi. Đó chính là cửa tiệm mà Mayuko đã dừng chân trên đường thăm bệnh Tomohiko. Liệu chiếc trâm cài bằng đá chạm nổi mà Mayuko thích còn ở đó không nhỉ?

Hôm nay tôi cũng ăn trưa với Tomohiko và Mayuko. Nhưng từ sau cái ngày đó, bầu không khí giữa tôi và Tomohiko đã trở nên thật gượng gạo. Giống như một chiếc radio bị mất sóng vậy. Mặc dù vậy, tôi vẫn kè kè bên họ. Vì tôi không muốn đánh mất tình bạn với Tomohiko ư? Không, một tôi khác nói.

Vì mày muốn ở bên Mayuko. Chính xác hơn là muốn quan sát xem mối quan hệ giữa hai người họ đã tiến triển thế nào.

Mặc dù từng cố tránh mặt họ hết sức có thể để cắt đứt mối tơ tưởng với Mayuko, nhưng giờ đây tôi lại đang làm điều hoàn toàn trái ngược.

Trong bữa trưa, Tomohiko hoàn toàn không đả động gì tới việc mai là sinh nhật Mayuko. Chắc họ đã quyết định mai sẽ đón sinh nhật bên nhau. Có thể Tomohiko nghĩ rằng nếu cậu mở lời, biết đâu câu chuyện sẽ dẫn đến kết quả là tôi cũng tham gia buổi tiệc. Biết đâu cậu đang nghĩ tôi sẽ không nói “Ngày mai tôi sẽ không làm phiền hai người.” Tại sao? Giác quan thứ sáu nhạy bén của cậu đã giúp cậu nhận ra điều gì rồi ư?

Tôi nhìn những chiếc tủ trưng bày bên trong tiệm trang sức. Chiếc trâm cài từng khiến đôi mắt Mayuko sáng bừng vẫn ở chỗ cũ. Đó là một chiếc trâm cài sang trọng, khảm mặt đá màu xanh nhạt chạm nổi hình khuôn mặt một cô gái đang quay nghiêng.

Tomohiko có biết trong lòng mình nghĩ gì cũng chẳng sao.

Nghĩ vậy, tôi bước vào tiệm trang sức. Cánh cửa tự động lặng lẽ mở ra.

Sau bữa tối nhanh gọn ở một quán ăn gia đình, tôi uống hai cốc cà phê và rời khỏi đó lúc gần 8 giờ, đi bộ về phía ga Takadanobaba trên tuyến Tozai. Khi đến ga, tôi mua vé, bắt tàu về hướng ngược lại rồi xuống tàu ở ga Koenji. Tôi chỉ biết Mayuko ở gần ga Koenji chứ không biết địa chỉ chính xác. Tôi ra ngoài, tìm một bốt điện thoại công cộng, sau đó rút sổ tay và xác nhận số của cô. Xác nhận. Bởi tôi nhớ dãy số đó. Dãy số mà tôi đã định gọi không biết bao lần rồi lại thôi.

Ba hồi chuông vang lên. Tới hồi thứ tư thì đầu dây bên kia nhấc máy. “A lô.” Cô nói.

“Chào em, anh đây. Là Tsuruga.”

“A.” Giọng Mayuko khiến tôi nghĩ có lẽ cô đang tủm tỉm cười. “Có chuyện gì vậy ạ? Chẳng mấy khi anh gọi cho em thế này.”

“Anh đang ở gần nhà em. Ở Koenji.”

“Sao ạ?” Có vẻ cô đang bối rối. Cũng đúng thôi. “Em có thể ra ngoài một chút được không?”

“Bây giờ ạ?”

“Ừ. Chừng mười lăm phút thôi. Anh có việc muốn gặp em.”

“Để mai không được ạ?” Cô im lặng một chút rồi đáp.

“Anh xin lỗi. Anh không thể đợi đến mai.”

Cô lại im lặng. Có lẽ đang tự hỏi là có chuyện gì. Có thể cô đã nhận ra tình cảm thật sự của tôi. Điều đó cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Cuối cùng Mayuko nói. “Quanh đó có quán cà phê nào không ạ?”

Tai vẫn áp vào ống nghe, tôi nhìn quanh. Có một quán cà phê nằm cạnh tiệm bánh ngọt. Tôi trả lời Mayuko.

“Em biết chỗ đó. Anh chờ em ở đó nhé? Khoảng mười phút nữa em tới.”

“Ừ.” Tôi cúp máy, rút thẻ và rời khỏi bốt điện thoại, tim đập rộn ràng như lần đầu tiên gọi cho bạn gái hồi cấp hai.

Nói là mười phút, nhưng tôi vừa vào quán chưa lâu thì Mayuko đã xuất hiện. Thấy tôi, cô nhoẻn miệng cười. Điều đó khiến tôi nhẹ nhõm hơn phần nào.

“Em đến nhanh quá.”

“Vâng, em ở gần đây thôi mà.” Khi nhân viên phục vụ tới, cô gọi một tách hồng trà.

“Việc nghiên cứu của em thế nào? Có bận không?”

“Rất bận, bận tối tăm mặt mũi luôn ạ. Bận đến mức nhiều khi em cảm thấy thậm chí không hiểu được phân nửa ý nghĩa của những việc mình đang làm nữa.”

“Chắc em không kể chi tiết hơn được nhỉ. Kiểu gì cũng bị cấm thôi, đúng không?”

Mayuko tỏ ra hơi khổ sở khi tôi nói vậy.

“Em nghĩ chắc chắn anh Tomohiko cũng rất muốn kể với anh. Ngặt nỗi...” Trà được mang tới. Mayuko ngừng lời.

“Không sao đâu, em đừng để ý. Không tiết lộ nội dung nghiên cứu cho người ngoài là lẽ thường. Nhưng có câu này, em có thể trả lời được không? Chỉ cần nói đúng hay sai thôi. Có phải Tomohiko... đã phát hiện ra điều gì rồi đúng không?”

Đang đưa tách trà lên miệng, Mayuko đặt nó trở lại bàn, im lặng vài giây rồi nhìn tôi. Sau đó, cô chậm rãi gật đầu. “Em nghĩ là... đúng.”

“Cảm ơn em. Thế là đủ rồi.”

“Anh Tomohiko sẽ sớm giải thích với anh.”

“Mong là vậy.” Tôi nói, nhấp môi vào cốc cà phê thứ ba trong ngày.

Mayuko nhìn tôi ái ngại. “Anh gọi cho em để hỏi chuyện đó à?”

“Không.” Tôi đặt cốc cà phê xuống, mở chiếc túi đặt bên cạnh. Sau đó, tôi rút ra một gói nhỏ hình vuông đưa cho cô. “Để tặng em thứ này.”

Mayuko chớp chớp mắt, hết nhìn tôi lại nhìn gói vuông trên bàn. “Mai là sinh nhật em đúng không?” Tôi nói.

“Sao anh biết?”

“Tomohiko kể với anh.”

“Thế ạ?” Vẻ mặt cô từ ngạc nhiên thoát cái đã chuyển sang bối rối, sau đó trở thành một nụ cười ngượng nghịu. Có lẽ cô không biết phải phản ứng thế nào. “Ngạc nhiên thật đấy.”

“Anh cũng đoán vậy.”

“Sao anh lại tặng quà cho em?” Mayuko hỏi, nét mặt hơi đanh lại.

“Chẳng có lý do gì cả. Anh biết mai là sinh nhật em nên muốn tặng gì đó cho em thôi.”

“Ừm...”

“Em mở ra đi.”

Dù còn bối rối, Mayuko vẫn với tay lấy gói quà trên bàn. Cô dùng móng tay út bóc miếng băng dính trong suốt, sau đó cẩn thận bóc giấy bọc. Bên trong là một chiếc hộp nhỏ vuông vức. Cô mở nắp hộp. Trong thoáng chốc, mắt cô mở to, đôi môi khẽ cong lên.

“Anh nghĩ em sẽ thích.” Tôi nói.

Ánh mắt cô nhìn tôi lấp lánh, nhưng rất nhanh đã tối sầm lại.

“Chuyện này... anh ấy...”

Tôi lắc đầu. “Cậu ấy không biết đâu. Anh không nói gì hết. Cả lúc cậu ấy có hỏi anh là nên mua gì cho em, anh cũng không kể gì về chiếc trâm này.”

Nụ cười đã biến mất hoàn toàn trên gương mặt Mayuko. Cô nhìn chằm chằm vào chiếc trâm cài và suy nghĩ một lúc.

“Khó cho em quá.” Cuối cùng cô lẩm bẩm. “Không ngờ mọi chuyện lại thành ra thế này.”

Có lẽ cô đang nghĩ tới quan hệ giữa ba chúng tôi.

“Thú thực là anh cũng rất khó xử. Anh không biết có nên làm vậy hay không. Có lẽ là không, nhưng anh không thể...”

“Nên anh đẩy sự khó xử ấy cho em?”

“Không phải vậy. Nhưng dù sao thì... sự thật là anh đã làm em khó xử.”

“Em đang rất khó xử.” Cô nói và uống nước. “Có lẽ em không nên nói thế này...” Cô đặt chiếc trâm lại vào hộp. “Nhưng em không thấy khó chịu gì cả.”

“Vậy à? Thế thì tốt quá.”

“Tuy nhiên em cũng không thể nhận món quà này.”

“Em đừng nghĩ sâu xa quá.” Vừa nói, tôi vừa tự hỏi có thật là vậy không.

“Sao em có thể không nghĩ được chứ.” Mayuko cười. Nhưng nụ cười của cô không còn như trước nữa. Cô đậy nắp hộp, bắt đầu gói chặt lại như cũ bằng giấy gói.

“Anh muốn tặng em chiếc trâm cài này. Chỉ vậy thôi.”

Cô ngừng tay và nhìn tôi. “Có thật là chỉ vậy thôi không?”

Tôi khoanh tay thở dài, không tìm được lời nào để đáp lại.

“Em nghĩ tốt nhất chúng ta nên giữ cho mọi thứ giống hệt như từ trước tới giờ. Nếu nhận món quà này, em sẽ không thể nói chuyện với anh Tsuruga như trước nữa đâu.”

“Không còn cách nào khác nữa sao.”

“Em không muốn như vậy. Em thực sự thích những cuộc trò chuyện của ba chúng ta.”

“Anh e là mình không thể làm điều đó nữa.”

“Em nghĩ là không đâu.” Cô đã gói xong. Do bóc băng dính cẩn thận nên gói quà nhìn như chưa từng được mở ra. Cô đặt nó trước mặt tôi. “Đây, xin anh hãy nhận lại.”

Tôi khoanh tay nhìn gói quà một lúc lâu. Rồi tôi hỏi. “Tomohiko hẳn cũng sẽ chuẩn bị một món quà cho em. Em sẽ nhận chứ?”

“Vâng. Chắc là vậy rồi.”

“Vì cậu ấy là người yêu em?”

Câu hỏi này dường như khiến cô bất ngờ. Một giây sau, cô mới đáp “Vâng.”

Tôi không biết làm gì khác ngoài gật đầu. Tôi với tay lấy cốc cà phê nhưng nó trống trơn. Tôi đã uống cạn tự lúc nào.

“Hôm nọ Tomohiko đòi chìa khóa anh cầm để đưa cho em. Có lẽ anh cũng nên sớm trả cho cậu ấy thôi.”

Tay đặt trên đầu gối, hai vai Mayuko như gồng lên. Cô đưa mắt nhìn quanh quán cà phê rồi nhìn lại tôi.

“Chuyện đó thì không cần đâu ạ.”

“Không cần?”

“Anh ấy nói sẽ đưa chìa khóa cho em. Mới tuần trước thôi.”

“Rồi em nói sao?”

“Em bảo là không cần.”

“Sao lại không cần?”

“Vì...” Mayuko so vai. “Em không muốn vậy.”

“Hừm.” Thảo nào sau đó cậu ta không giục nữa, tôi nghĩ. Đồng thời, tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm.

Tiệm bánh ngọt bên cạnh rục rịch đóng cửa. “Đến lúc rồi. Ta về thôi,” tôi nói. Mayuko đáp lại bằng một nụ cười.

Chúng tôi bước ra bên ngoài. Trời lất phất mưa. Mayuko không mang ô. Thấy tôi lo lắng, cô chỉ nói “Không sao, nhà em ngay gần đây thôi,” rồi nói lời tạm biệt.

“Khoan đã.” Tôi gọi cô lại. Trong tích tắc, vẻ mặt cô như thoáng hồ nghi. Tôi chìa gói quà ra. “Anh vẫn mong em nhận lấy nó. Nếu không thích thì vứt đi cũng được.”

Mắt Mayuko đượm buồn. Tôi thấy trái tim mình như nhỏ máu, nhưng vẫn kiên quyết không thu tay lại.

“Anh thích em.” Tôi nói. “Trước cả Tomohiko.”

Môi cô hé mở. Dường như cô đã nói gì đó, nhưng tôi không nghe được. Khóe mắt cô hơi hoe đỏ. Mặt cô cau lại.

“Hai năm trước. Em thường đi tuyến Keihin-Tohoku đúng không?”

Cô không đáp. Mặt vẫn như đóng băng.

“Thứ Ba nào anh cũng đi tuyến Yamanote. Lúc hai đoàn tàu chạy song song, anh luôn nhìn em. Lúc ấy em để tóc dài.”

Cô vẫn im lặng. Sự im lặng khiến tôi càng thêm khẳng định suy nghĩ của mình là đúng. Lúc đó, từ đoàn tàu đối diện, cô cũng nhìn tôi.

“Em... vẫn nhớ đúng không?”

Mayuko nhìn vào mắt tôi. Rồi cô lắc đầu.

“Em không nhớ gì hết.”

Nói dối,

tôi định nói vậy nhưng lại thôi. Hỏi dồn cô lúc này cũng chẳng ích gì.

Tôi lại chìa gói quà ra. “Anh muốn em nhận nó.”

Mayuko nhìn tôi chằm chằm một lúc lâu rồi từ từ đưa tay phải ra đón lấy gói quà.

“Vậy em sẽ giữ.” Cô nói. “Cho đến khi anh Tsuruga bình tĩnh lại. Đến lúc đó, anh hãy nói với em. Nhất định em sẽ trả lại.”

“Anh đang rất bình tĩnh.”

“Không đâu.”

Cô lắc đầu rồi bỏ chạy vào màn đêm.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 11

Đang tải bình luận...