Cơm Hộp “Sơn Hào Hải Vị”
Khi Yeom Yeong-sook phát hiện ra rằng chiếc clutch đã không còn nằm trong túi xách của bà nữa thì tàu đã chạy đến gần Pyeong-taek. Vấn đề là bà không thể nhớ ra được nơi mình đã đánh mất nó. Trí nhớ giảm sút còn khiến bà bất an hơn cả hiện thực là chiếc túi đã “không cánh mà bay”. Bà bắt đầu toát mồ hôi hột để cố gắng nhớ lại hành trình đã qua.
Rõ ràng chiếc clutch vẫn còn cho đến khi bà mua vé tàu KTX ở ga Seoul, bởi vì bà vẫn có thể mua vé tàu bằng thẻ ở chiếc ví nằm trong clutch. Sau đó, tại phòng chờ, bà đã ngồi trước tivi xem Kênh thời sự 24h suốt 30 phút trong khi đợi đến giờ tàu chạy. Lên tàu, bà ôm chặt chiếc túi xách vào lòng và thiếp đi một lát nhưng mọi thứ vẫn nguyên vẹn khi bà tỉnh dậy. Thế mà mới đây thôi, khi mở túi xách ra để lấy điện thoại, bà giật mình hoảng hốt khi chiếc clutch lẽ ra phải ở yên trong đó đã “bốc hơi”. Ví, sổ tiết kiệm, sổ tay... tất cả những thứ quan trọng nhất với bà đều nằm gọn ghẽ trong chiếc clutch đó, bà choáng váng đến mức nghẹt thở.
Bà Yeom huy động toàn bộ công suất của bộ não để không chịu thua trước tốc lực của đoàn tàu. Mọi kí ức được tua ngược như thể tái hiện những khung cảnh đã trôi qua một cách chóng vánh bên ngoài khung cửa sổ kia. Quan sát thấy dáng vẻ của bà Yeom cùng với những hành động lạ như vừa run rẩy vừa lẩm bẩm một mình, một người đàn ông trung niên ngồi bên cạnh hắng giọng ho.
Nhưng thứ cản trở sự tập trung của bà Yeom không phải là tiếng ho của người đàn ông ngồi cạnh mà là nhạc chuông điện thoại báo có cuộc gọi đến. Đó là một bài hát của ABBA nhưng bà không thể nhớ ra tên bài hát. “Chiquitita” hay là “Dancing Queen” nhỉ... Ôi, Jun-hee ơi, chắc bà bị lẫn thật rồi.
Mãi tới khi bà Yeom run rẩy lấy chiếc điện thoại trong túi xách ra thì bà mới nhớ, đó là bài “Thank you for the music”. Trên màn hình hiện số điện thoại lạ với đầu số 02. Bà hít một hơi thật sâu rồi mới bắt máy.
“Alo?”
Phía bên kia, không có ai trả lời. Chỉ có những tạp âm xung quanh khiến bà đoán rằng người đó đang ở một nơi công cộng đông đúc, tấp nập.
“Ai đấy?”
“Yeom... Yeong-sook... phải không?”
Một giọng nói khàn đặc thô ráp và không rõ ràng đến mức khó có thể tin được đó là tiếng người. Nó như thể là âm thanh đầu tiên phát ra từ hang động của những con gấu sau một kì ngủ đông dài.
“Vâng. Nhưng anh là ai?”
“Cái ví... của bà.”
“Đúng rồi. Anh đã nhặt được nó sao? Anh đang ở đâu?”
“... Seoul.”
“Anh ở chỗ nào Seoul? Có phải ga Seoul không?”
“Phải rồi. Ga... Seoul.”
Bà quay sang bên, thở phào nhẹ nhõm rồi hắng giọng tiếp tục nói.
“Rất cảm ơn anh vì đã giữ hộ tôi chiếc ví. Nhưng giờ tôi đang ở trên tàu. Tôi sẽ xuống ngay ở bến sau và quay lại, anh có thể giữ nó hay gửi tạm chỗ nào cho tôi được không? Tôi sẽ hậu tạ ngay khi đến nơi.”
“Tôi sẽ ở đây. Vì cũng... không có... nơi nào đi.”
“Thế à? Tôi biết rồi. Vậy chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu tại ga Seoul?”
“Tại cửa hàng tiện lợi GS... chỗ đi sang ga tàu ra sân bay.”
“Cảm ơn anh. Tôi sẽ quay lại thật nhanh.”
“Bà cứ... đi từ từ.”
“Tôi biết rồi. Cảm ơn anh.”
Tắt máy xong tâm trạng của bà rất khó tả. Lối nói chuyện lắp bắp với chất giọng ồm ồm như âm thanh của những con thú từ đầu dây điện thoại bên kia khiến bà tin chắc rằng đó là một người vô gia cư. Bà Yeom không thể ngừng lo lắng. Dù người đó đồng ý trả lại chiếc túi, nhưng bà vẫn thấy có gì đó bất an, sợ rằng anh ta sẽ đòi hỏi thứ gì khác.
Rồi bà nghĩ, một khi đã trực tiếp gọi điện và đồng ý trả lại chiếc túi một cách đơn thuần như vậy thì có lẽ người đàn ông đó sẽ không làm hại bà đâu. Bốn mươi nghìn won tiền mặt trong ví có lẽ sẽ đủ để hậu tạ. Ngay lúc đó, loa thông báo tàu đã đến ga Cheonan. Bà Yeom cất điện thoại và túi xách rồi đứng vậy.
Trên đường quay trở lại Seoul, khi tàu chuẩn bị qua ga Suwon, chuông điện thoại lại vang lên. Lời bài hát “Thank you for the music” được não bộ ghi nhớ thêm một lần nữa như để phòng ngừa căn bệnh đãng trí. Số điện thoại hiện trên màn hình y hệt với số ban nãy gọi đến. Bà Yeom bắt máy, cố giấu đi nỗi bất an.
“... Là tôi đây.”
Lần này, giọng nói phía bên kia đầu dây có đôi chút rụt rè. Bà Yeom lấy lại giọng nghiêm nghị như những lúc đối diện với đám học trò đang biện minh cho hành động sai trái của chúng.
“Anh nói đi.”
“Tôi... Cô giáo. Vì tôi đói...”
“Thế thì sao?”
“Cửa hàng tiện lợi... Cơm hộp... À, không được phải không?”
Trong giây lát, bà Yeom thấy bồi hồi trong lòng. Dường như tiếng gọi “cô giáo” và hai từ “cơm hộp” khiến bà trở nên rộng lượng hơn rất nhiều.
“Được chứ. Anh mua cơm hộp ăn đi. Chắc là sẽ khát nữa, nên anh cứ mua thêm cả nước uống.”
“Ca... ảm ơn cô.”
Vừa tắt điện thoại xong một lát, tin nhắn báo thẻ đã bị trừ tiền được gửi tới. Nhanh tới mức như thể anh ta gọi điện khi đứng trước bàn thanh toán vậy. Đói đến mức như vậy càng khiến bà Yeom chắc tin thêm rằng đó là một “bang chủ” tại ga Seoul, là bạn thân với lũ chim bồ câu, hay chính là một người vô gia cư. Nội dung tin nhắn chỉ vỏn vẹn: “GS – Cơm hộp Park Chan Ho nhiều thức ăn – 4900 won”. “Không thấy mua nước uống thế này chứng tỏ anh ta vẫn còn biết tự trọng.” Bà Yeom thầm nghĩ rồi từ bỏ ý định gọi thêm ai đó tới để đề phòng chuyện bất trắc xảy ra. Bà quyết định sẽ đi gặp người đó một mình. Bảy mươi tuổi, ngoại trừ triệu chứng của căn bệnh đãng trí đáng lo ngại, bà Yeom vẫn tự tin vào phong thái đạo mạo của bản thân mình. Bởi cho đến khi về hưu và rời khỏi bục giảng bà Yeom chưa bao giờ chịu khuất phục trước bất kì học sinh nào, dù có ngỗ nghịch đến đâu đi nữa.
Sau khi đến ga Seoul, rất nhanh chóng, bà Yeom tìm thấy thang cuốn đi xuống ga tàu ra sân bay. Vừa đặt chân lên thang, bà đã thấy cửa hàng tiện lợi GS nằm ở bên phải phía đối diện, và người đàn ông với chất giọng ồm ồm như gấu đang đứng khép nép ở phía trước, mặt cắm vào hộp cơm. Càng lại gần, diện mạo của người đó càng trở nên rõ ràng hơn, khiến bà vô cùng căng thẳng. Người đàn ông với mái tóc dài vón cục lại như cây chổi lau nhà, anh ta mặc một chiếc áo gió thể thao mỏng và một chiếc quần cáu bẩn tới mức không phân biệt nổi đó là màu be hay màu nâu. Anh ta đang rất chăm chú gắp những miếng xúc xích được thái lát bỏ vào miệng. Chắc chắn là người vô gia cư! Bà Yeom lấy lại tinh thần và tiến về phía trước.
Cũng ngay lúc đó, đột nhiên xuất hiện ba người đàn ông, họ lao về phía người đàn ông đang ăn cơm hộp, vì quá bất ngờ nên bà Yeom đứng khựng lại. Không khác gì những con linh cẩu tấn công con mồi, ba người đó cố hết sức để khống chế “người đàn ông cơm hộp”, như thể muốn giành lấy một thứ gì đó. Bà Yeom cầu cứu sự giúp đỡ của những người xung quanh nhưng không ai bận tâm đến cuộc ẩu đả của những kẻ vô gia cư, điều vốn dĩ vẫn diễn ra thường xuyên như cơm bữa.
Hộp cơm vung vãi dưới nền nhà, “người đàn ông cơm hộp” co quắp, cuộn tròn như quả bóng để chống cự. Nhưng cuối cùng, khi bị đám người kia siết chặt cổ, anh ta đành phải buông tay ra và để chúng cướp đi mất thứ mà anh ta đang cố hết sức bảo vệ. Bà Yeom đang bối rối không biết phải làm thế nào thì món đồ kia lọt vào tầm mắt của bà. Đó chính là chiếc clutch màu hồng của bà.
Ba kẻ vô gia cư nọ chuẩn bị rời đi sau khi ra sức giẫm đạp lên “người đàn ông cơm hộp” để anh ta không thể đeo bám theo chúng nữa. Bà Yeom run rẩy sợ hãi, ngồi thụp xuống vì không biết phải làm thế nào. Ngay lúc đó, như thể phản công, “người đàn ông cơm hộp” lao về phía kẻ đang giữ chiếc túi.
“Yaaaaa!”
Cùng với âm thanh kinh hoàng, anh ta tóm lấy chân và vật ngã gã kia xuống. Khi anh ta vừa giành lại được chiếc ví thì những gã còn lại đã lao tới đè lên trên. Trong giây phút đó, như có tia lửa điện chạy qua người, bà Yeom đứng bật dậy, sôi máu chạy về phía đám người đang vật lộn với nhau.
“Mấy tên kia! Bỏ ngay ra!!”
Thấy bà Yeom vừa hét vừa lao tới, mấy gã kia khựng lại. Bà Yeom lấy hết sức dùng túi xách đập thật mạnh vào đầu tên đứng gần nhất. Gã đó tỏ ra rất đau đớn, còn những gã còn lại đứng dậy, sợ hãi bước lùi ra xa.
“Trộm! Bà con ơi, bọn chúng trộm ví của tôi!”
Nghe tiếng hô hoán của bà Yeom, người xung quanh bắt đầu để ý tới, những kẻ kia lần lượt quay đầu bỏ chạy. Chỉ còn mỗi người đàn ông nọ nằm co quắp, tay vẫn ôm khư khư chiếc túi nhỏ. Bà Yeom tiến lại gần hơn.
“Cậu không sao chứ?”
Người đó ngẩng đầu lên ngước nhìn bà. Trông anh ta như một người tiền sử vừa trở về sau một chuyến đi săn với thương tích đầy mình, đôi mắt tím bầm vì bị đánh, nước mũi và máu ứa ra lẫn lộn, miệng thì bị bộ râu bờm xờm che gần hết. Dường như mãi đến lúc đó anh ta mới nhận ra rằng những kẻ vừa mới tấn công mình đã bỏ đi nên từ từ ngồi dậy. Bà Yeom lấy chiếc khăn tay ra, ngồi xuống ngay trước mặt anh ta.
Ngay lập tức, mùi hôi hám đặc trưng của những người vô gia cư xộc vào mũi bà. Bà Yeom cố nín thở, đưa cho anh ta chiếc khăn tay. Nhưng người đàn ông lắc đầu từ chối và lấy tay áo lau vội. Bà Yeom cảm thấy xấu hổ và tức giận với chính mình vì đã lo rằng máu và nước mũi của anh ta sẽ làm bẩn túi của bà.
“Cậu thực sự không sao chứ?”
Người vô gia cư đó vừa gật đầu, vừa quan sát bà Yeom. Ánh mắt chăm chú của anh ta khiến bà Yeom chợt nghĩ rằng có thể bà đã làm sai một điều gì đó và cần phải nhanh chóng rời khỏi nơi này. Đúng vậy, đã đến lúc lấy lại chiếc clutch.
“Cảm ơn vì đã giữ nó hộ tôi.”
Người đàn ông đang giữ chặt chiếc túi bằng cánh tay trái, anh ta từ từ đưa chiếc túi về phía bà Yeom. Nhưng ngay khi bà Yeom đưa tay ra định nhận lại thì anh ta lại ôm nó vào lòng. Vừa chăm chú quan sát bà Yeom, anh ta vừa mở khóa túi ra.
“Cậu làm gì vậy?”
“Bà có đúng là chủ nhân của nó không?”
“Đúng vậy. Vì thế nên tôi mới biết mà đến đây chứ. Cậu không nhớ lúc nãy chúng ta còn nói chuyện điện thoại à?”
Bà Yeom bắt đầu thấy khó chịu vì nghi ngờ vô lý của người đàn ông kia. Anh ta không nói gì thêm nữa, lục lọi bên trong clutch và tìm thấy chiếc ví, anh ta lấy chứng minh thư ra xem.
“Số chứng minh thư?”
“Ô hay, cậu nghĩ tôi đang nói dối sao?”
“Tôi phải chắc chắn. Tôi có... trách... nhiệm phải trả lại cái này cho chủ nhân.”
“Trên chứng minh thư có ảnh của tôi đấy còn gì. Cậu so sánh thử xem.”
Nheo đôi mắt tím bầm vì bị đánh, anh ta lần lượt quan sát chứng minh thư trên tay rồi lại quay ra nhìn bà Yeom.
“Nhìn ảnh... không giống lắm.”
Bà Yeom bối rối, rồi bà tặc lưỡi mà không hề có chủ ý. Bà cũng không tức giận.
“Ảnh đó từ lâu lắm rồi.”
Bức ảnh đó tuy đã lâu thật nhưng rõ ràng vẫn là khuôn mặt của bà Yeom và ai cũng có thể nhận ra điều đó, có lẽ là do thị lực của người đàn ông kia có vấn đề, phản ánh đúng tình trạng sức khỏe của anh ta. Hoặc cũng có thể là bà Yeom đã già tới mức khiến người ta nghi ngờ.
“Bà... đọc số chứng minh thư đi.”
Bà Yeom thở dài rồi đọc rành rọt.
“Năm- Hai- Không- Bảy- Hai- Năm- XXX, được rồi chứ?”
“Đu... úng rồi. Phải chắc chắn chứ... Đúng không?”
Người đàn ông vô gia cư nhìn bà Yeom với ánh mắt như thể tìm kiếm sự đồng tình, anh ta bỏ tấm thẻ chứng minh thư vào ví, rồi đưa lại chiếc clutch cho bà Yeom. Bà Yeom nhận lại đồ của mình. Vậy là mọi thứ đã được giải quyết xong sau khi tinh thần hoàn toàn ổn định trở lại, bà Yeom cảm thấy biết ơn vô cùng. Bởi nếu không phải là một người có tinh thần trách nhiệm cao thì người đàn ông kia sẽ không phải chịu đựng trận đòn của đám người xấu xa để bảo vệ cái túi, hay anh ta cũng không cần phải cẩn thận đến thế để đảm bảo rằng chiếc túi sẽ được trả lại cho đúng chủ nhân của nó.
Lúc đó, người kia rên lên một tiếng rồi đứng dậy. Bà Yeom cũng đứng lên theo, vội vàng móc bốn mươi nghìn won tiền mặt trong ví ra.
“Cậu cầm lấy đi.”
Anh ta có vẻ chần chừ lưỡng lự.
“Không sao đâu, cầm lấy đi.”
Thay vì đưa tay ra nhận lấy tiền, người đàn ông lại bỏ tay vào túi áo rồi moi ra một nắm giấy ăn nhàu nhĩ. Anh ta lau máu mũi đang chảy ra. Rồi anh ta quay lưng bước đi. Bàn tay cầm tiền hậu tạ của bà Yeom bỗng trở nên lạc lõng, bà thần người dõi theo bóng lưng “người đàn ông cơm hộp” một hồi lâu. Anh ta chật vật đi được đến trước cửa hàng tiện lợi ban nãy rồi khom người xuống. Bà Yeom vội vàng đi theo.
Trước cửa hàng tiện lợi, người đàn ông vô gia cư nhìn hộp cơm còn đang vương vãi trên sàn, lẩm bẩm một mình, tiếp đó là tiếng thở dài. Sau một hồi theo dõi từ phía sau, bà Yeom bước tới vỗ nhẹ vào lưng anh ta. Khi người đàn ông kia quay lại, biểu cảm trên khuôn mặt bà Yeom giống hệt với lúc bà động viên, khích lệ cậu học trò nhỏ đang ủ rũ.
“Này cậu, cậu đi ra đây với tôi một lát. Nhé?”
Vừa ra tới cổng ga phía Tây, người đàn ông vô gia cư bỗng khựng lại. Lúc đó, trông anh ta giống như một loài động vật ăn cỏ, không muốn rời xa vòng tay của mẹ thiên nhiên để bước lên thùng xe tải đang đỗ trên đường nhựa. Bà Yeom lấy tay ra hiệu như thúc giục, cuối cùng anh ta cũng chịu đi tiếp, hai người đi về phía Galwol-dong. Người đó đi cùng tốc độ với bà Yeom, anh ta duy trì khoảng cách vài bước từ phía sau, hai người nhanh chóng đi qua Galwol-dong, hướng về Cheongpa-dong. Hai bên đường rải đầy những quả ngân hạnh cuối thu còn sót lại, mùi của chúng cũng giống với mùi của người vô gia cư kia. Bà Yeom nghĩ ngợi xem tại sao mình lại muốn đưa anh ta đi cùng.
Bằng cách nào đó, bà muốn báo đáp cho người đàn ông đã từ chối nhận tiền hậu tạ kia. Đó không chỉ là sự biết ơn dành cho người đã dùng cả tính mạng để bảo vệ chiếc clutch cho bà mà còn là sự ủng hộ đối với một hành động đúng đắn, bất chấp thân phận là một người vô gia cư của người đàn ông kia. Có lẽ sau bao năm gắn bó với bục giảng, thói quen phản hồi cho những hành động tốt-xấu của học sinh đã ngấm sâu vào máu của bà Yeom, và hôm nay thói quen đó lại được phát huy. Tuy vậy, trên hết, là một người đã sống cả đời với đức tin của một tín đồ Cơ đốc giáo, bà Yeom cũng muốn mình trở thành một người Samari thiện lành
[1]
khi người đàn ông vô gia cư kia đã chứng tỏ cho bà thấy nhân cách đích thực của người Samari thiện lành.
Đi được khoảng 15 phút, những dãy phố tối tăm nằm sau ga phía Tây dần khuất bóng, trước mắt hai người là những tòa nhà lớn, nguy nga và sang trọng. Có lẽ vì trường đại học nữ sinh ở ngay phía trước nên lướt qua họ là những nữ sinh viên ăn mặc trẻ trung, năng động đang vui vẻ nói cười, và những hàng người xếp dài trước cửa các quán ăn đã trở nên nổi tiếng nhờ sức mạnh của truyền thông. Bà Yeom nhìn lại phía sau, người đàn ông đang láo liên quan sát khung cảnh đường phố. Nhiều người cố tránh ra xa khi đi ngang qua anh ta. Bà Yeom vừa tò mò vừa lo lắng, không biết những người xung quanh nghĩ gì về mối quan hệ của hai người họ. Bởi nơi này, Cheongpa-dong, là khu bà Yeom sống và cũng là nơi bà đang kinh doanh một cửa hàng.
Người đàn ông lẽo đẽo theo sau bà Yeom như cái đuôi, hai người họ tiếp tục đi về phía trường đại học nữ sinh Sookmyung, đi qua thêm khoảng hai con ngõ nữa thì đến một ngã ba nhỏ. Ngay tại góc rẽ của ngã ba có một cửa hàng tiện lợi. Nơi đó chính là doanh nghiệp tư nhân nhỏ thuộc quyền sở hữu của bà Yeom và cũng là nơi bà có thể cung cấp lại một suất cơm hộp cho người đàn ông kia. Bà Yeom mở cửa và lấy tay ra hiệu. Anh ta ngập ngừng một lát nhưng rồi cũng bước vào theo.
“Xin mời vào. A! Bà chủ đến rồi ạ?”
Si-hyun – cô bé nhân viên bán thời gian – vừa đặt điện thoại xuống vừa niềm nở chào bà Yeom. Bà Yeom cũng chào lại bằng nụ cười vui vẻ, nhưng trong thoáng chốc, bà đã nhìn thấy sự kinh hãi trên gương mặt cô.
“Không sao đâu, cậu ta là khách.”
Nghe thấy vậy, biểu cảm của Si-hyun khi đứng trước “vị khách” kia lại càng trở nên méo mó hơn. “Thế này thì còn lâu mới lớn được!” Bà Yeom vừa nghĩ thầm trong bụng, vừa kéo tay người đàn ông kia về phía kệ hàng để cơm hộp. Không rõ anh ta tinh ý nên cũng muốn tránh xa Si-hyun hay đầu óc đơn thuần, chẳng nghĩ ngợi gì mà cứ lẳng lặng đi theo bà Yeom.
“Cậu chọn thoải mái đi. Hãy chọn tất cả những gì cậu muốn ăn.”
“?”
“Đây là cửa hàng tôi đang kinh doanh nên không cần ngại đâu, cứ tự nhiên đi.”
“Vậy thì... ơ...?”
Người đàn ông kia đang hào hứng bỗng dưng tiu nghỉu.
“Sao thế? Không có thứ cậu muốn ăn à?”
“Không có... cơm hộp... Park Chan Ho...”
“Đây không phải là cửa hàng tiện lợi GS. Cơm hộp Park Chan Ho chỉ bán ở GS thôi. Ở đây cũng có nhiều loại ngon lắm. Cậu cứ chọn đi.”
“... Cơm hộp Park Chan Ho cũng ngon...”
Bắt đầu thấy khó chịu khi người đàn ông kia cứ ca mãi điệp khúc về cơm hộp Park Chan Ho – một sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với cửa hàng của mình, bà Yeom chọn luôn một hộp cơm to nhất ở ngay trước mặt.
“Cậu ăn cái này đi, ‘Cơm hộp sơn hào hải vị’. Thức ăn nhiều mà cũng ngon lắm.”
Cầm hộp cơm trên tay, người đàn ông kia thận trọng đếm xem có bao nhiêu món. Mười hai món tất cả. “Thằng nhóc này, với một kẻ vô gia cư thì hộp cơm đó chẳng khác gì bữa ăn của bậc vua chúa đâu!” Bà Yeom thầm nghĩ khi thấy người vô gia cư đó quan sát hộp cơm như thể thăm dò. Xem xét xong anh ta ngẩng đầu lên, cúi chào lễ phép. Và rồi cứ như đã đặt chỗ trước, anh ta bước ra khỏi cửa hàng và tiến thẳng về phía chiếc bàn nhựa ở bên ngoài.
Ngay lập tức, chiếc bàn nhựa màu xanh đặt ở ngoài trời đã trở thành một chiếc bàn ăn nhỏ. Người đàn ông đó nâng niu hộp cơm như một món đồ vô cùng quý giá, anh ta thận trọng tách đôi đũa gỗ và xúc một thìa cơm to cho vào miệng. Bà Yeom quan sát mọi cử chỉ và hành động của anh ta rồi quay lại cửa hàng lấy một hộp canh tương và đặt lên bàn thanh toán. Vừa thấy vậy, Si-hyun đã hiểu ra ý định của bà Yeom nên nhanh chóng quét barcode, bà Yeom đổ nước nóng vào hộp canh rồi cầm thìa mang ra ngoài.
“Cậu ăn cùng món này nữa đi. Phải có canh thì mới dễ ăn.”
Người đàn ông kia nhìn hộp canh tương bà Yeom vừa mới đặt xuống rồi ngẩng lên nhìn bà, và không thể đợi được đến lúc bà Yeom đưa thìa ra, anh ta bê hộp canh lên miệng húp. Dường như quên mất cái nóng, anh ta xì xụp húp hết một nửa hộp canh rồi mới gật gù tấm tắc, rồi lại cầm đũa lên gắp lia lịa.
Bà Yeom lại quay vào cửa hàng rót một cốc nước lọc và mang ra đặt bên cạnh người vô gia cư, rồi bà ngồi ở phía đối diện. Bà chăm chú quan sát. Bộ dạng của anh ta lúc đó khiến cho bà liên tưởng tới hình ảnh của một con gấu đang mải miết với hũ mật ong, không biết là nó đang đói bụng sau một giấc ngủ đông dài hay đang tích lũy năng lượng để chuẩn bị cho giấc ngủ đông sắp tới nữa. Một người vô gia cư thì khó có thể ăn đầy đủ ba bữa một ngày, vậy mà sao thân hình cậu ta lại to lớn đến vậy? Thật chẳng khác nào công nhận tỷ lệ béo phì ở người nghèo đang ở mức rất cao. Hay là vì lúc nào cũng ăn vội ăn vàng nên mới vậy? Bà Yeom thầm nghĩ.
“Ăn từ từ thôi. Không ai giành ăn của cậu đâu.”
Người đàn ông kia ngước nhìn bà Yeom, trên khóe miệng anh ta còn dính đầy nước sốt món kimchi xào. Không còn vẻ dè chừng như ban nãy nữa, khuôn mặt anh ta có vẻ thoải mái hơn nhiều.
“Ngon... lắm.”
Anh ta nhìn nắp hộp cơm để bên cạnh, nói thêm.
“Thật đấy, sơn hào hải vị...”
Thay vì nói cho hết câu, anh ta lại cúi đầu như thể cảm ơn, rồi lại tiếp tục với món canh tương. Có lẽ đã kịp lót dạ xong, tinh thần tỉnh táo trở lại nên hành động của anh ta điềm tĩnh hơn nhiều. Bà Yeom cảm thấy vui một cách lạ kì khi thấy người đàn ông kia đang cố nhón nốt những miếng chả cá còn sót lại. Vì chứng kiến lòng quyết tâm ăn cho bằng được miếng chả cá nhỏ xíu đó, bà thấy được sự quý giá của cuộc sống này.
“Từ giờ trở đi, khi nào đói, cậu cứ đến đây. Lúc nào cũng có cơm hộp dành cho cậu.”
Người đàn ông kia dừng đũa, tròn xoe mắt nhìn bà Yeom.
“Tôi sẽ dặn nhân viên trước, cậu cứ đến đây ăn, không phải lo tiền nong gì đâu.”
“Ý bà là đồ hết hạn sử dụng phải không?”
“Không, đồ mới chứ. Sao lại ăn đồ hết hạn sử dụng?”
“Nhân viên bán thời gian... ăn đồ hết hạn đấy. Tôi thấy... rất tuyệt vời.”
“Cửa hàng của tôi không để ai ăn đồ hết hạn sử dụng cả. Nhân viên cũng thế, cậu cũng vậy. Nên cứ ăn đồ tử tế. Tôi sẽ dặn mọi người như vậy.”
Người đàn ông kia hơi lúng túng, anh ta cúi đầu tỏ vẻ biết ơn rồi lại cắm cúi với mấy miếng chả cá. Đến lúc này bà Yeom mới có cơ hội đưa cho anh ta chiếc thìa lấy từ cửa hàng ban nãy. Như con tinh tinh lần đầu tiên nhìn thấy chiếc smartphone, người đàn ông khựng lại một lát sau khi cầm chiếc thìa trên tay. Nhưng rồi anh ta dùng đũa gom hết những miếng chả cá còn sót lại lên chiếc thìa một cách thuần thục, giống như việc cơ thể sẽ nhớ mãi cách đi xe đạp cho dù không đi trong một khoảng thời gian dài. Sau đó, anh ta đưa chiếc thìa vào miệng đầy thỏa mãn.
Ăn sạch sẽ hộp cơm xong anh ta ngẩng lên nhìn bà Yeom.
“Cơm... rất ngon. Cảm ơn bà.”
“Tôi mới là người phải cảm ơn mới đúng, cảm ơn cậu vì đã bảo vệ cái túi.”
“Thực ra... hai người khác đã nhặt được cái túi.”
“Hai người á?”
“Vâng. Tôi đã cho chúng một trận để lấy lại... Đồ đạc trong túi thì sao...”
“Hóa ra là cậu đã giành lại chiếc túi của tôi từ hai kẻ ăn trộm à? Chỉ vì muốn trả lại cho tôi?”
Người đàn ông kia gật đầu và uống nước bà Yeom mang tới bằng chiếc cốc giấy.
“Nếu chỉ có hai tên... tôi sẽ thắng. Ba thì... mệt lắm. Bọn chúng... sau này sẽ biết tay tôi.”
Nói xong, dường như anh ta nhớ lại chuyện xảy ra ban nãy ở ga Seoul nên tức giận tới mức vô tình để lộ cả hàm răng. Những chiếc răng màu vàng ố cùng với đám bột ớt còn dính trên kẽ răng khiến cho bà Yeom cau mày lại, nhưng sức sống mãnh liệt tỏa ra từ cách anh ta khoe mẽ về sức khỏe của mình đã khiến cho bà không còn bận tâm nữa.
Sau khi uống nốt cốc nước, anh ta nhìn ngó xung quanh.
“Nhưng... đây là đâu?”
“Cheongpa-dong. Ngọn đồi xanh.”
“Ngọn đồi... xanh... Hay nhỉ.”
Khóe miệng ẩn sau bộ râu um tùm kia khẽ nhếch lên, anh ta cầm hộp cơm và hộp canh tương đứng dậy. Một cách rất tự nhiên và quen thuộc, sau khi bỏ những thứ đó vào thùng đựng rác có thể tái sử dụng anh ta đến trước mặt bà Yeom và lại lôi nắm giấy ăn nhàu nát trong túi ra lau miệng. Và rồi, anh ta quay lưng bước đi sau khi chào bà bằng cái cúi gập người 90 độ.
Bà Yeom đứng dõi theo, trông anh ta như một nhân viên văn phòng đang trên đường ra ga Seoul sau khi kết thúc giờ làm việc. Khi quay lại cửa hàng, bà Yeom được Si-hyun chào đón bằng ánh mắt hiếu kì với hàng tá câu hỏi. Bà kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra, từ lúc bà phát hiện ra sự biến mất của cái túi khi đang ở trên tàu cho đến sự việc ban nãy. “Ôi trời! Ôi trời!” – Si-hyun liên tục hưởng ứng câu chuyện của bà Yeom bằng sự thích thú xen lẫn cả lo lắng.
“Cậu ta rất thú vị. Thật khó để tin rằng đó lại là một người vô gia cư.”
“Cháu lại thấy anh ta rõ ràng là một kẻ vô gia cư... Bà chủ xem trong ví xem có mất thứ gì không?”
Bà Yeom mở túi kiểm tra. Mọi thứ vẫn còn y nguyên. Bà у Yeom vừa cười, vừa giơ túi ra cho Si-hyun xem để chứng minh lời mình nói là đúng, rồi như chợt nhớ ra điều gì đó, bà lấy chứng minh thư trong ví ra.
“Nhìn có khác không?”
“Giống y hệt ạ. Ngoại trừ việc có một ít tóc bạc ra thì bà chủ không già đi một chút nào cả.”
Bà Yeom nhìn lại thật kĩ tấm ảnh thẻ trên chứng minh thư. Rõ ràng bây giờ bà trông rất khác với bức ảnh.
“Dù không vui chút nào nhưng cậu ta nói đúng.”
“Sao cơ ạ?”
“Không có gì đâu. Si-hyun à, cháu rất biết quan tâm đến cảm xúc của người khác.”
Bà Yeom dặn Si-hyun lấy cơm hộp cho người đàn ông to cao kia nếu anh ta quay lại, bà cũng không quên nhắc Si-hyun truyền đạt lại lời dặn đó cho tất cả những nhân viên bán thời gian khác nữa. Si-hyun tỏ vẻ không hài lòng lắm nhưng cô vẫn nhắn chỉ thị của bà Yeom lên nhóm chat riêng của cửa hàng cho mọi nhân viên cùng biết. Bà Yeom vui vẻ nhìn một lượt quanh cửa hàng. Rồi đột nhiên bà tỏ ra phiền não vô cùng. Bà không nhớ gì về những vị khách đã ghé vào cửa hàng trong khoảng thời gian người đàn ông vô gia cư kia ăn suất cơm hộp. Bà sợ mình bị lẫn thật, miệng bỗng đắng ngắt. Dù sao thì bà đã được người khác giúp đỡ và cũng đã kịp tri ân người đó. Bà tự trấn an mình rằng một ngày như vậy cũng không quá tồi tệ.
“Nhưng bà chủ không đi Busan nữa ạ?”
“Ôi trời, đầu óc ta thật là...”
Vẫn còn thời gian. Dù muộn thế nào thì trong đêm nay bà Yeom cũng phải có mặt ở Busan. Chị họ của bà vừa mất, bà dự định sẽ ở lại Busan thêm vài hôm sau khi tang lễ kết thúc.
Bà Yeom cẩn thận bỏ chiếc clutch vào túi xách rồi lại ra ga Seoul.
Năm ngày sau, bà Yeom quay lại cửa hàng sau khi lo liệu xong xuôi mọi công việc và trở về từ Busan. Khi bà bước vào, Si-hyun đang thanh toán tiền nước uống cho hai vị khách là một đôi bạn trẻ nên chỉ kịp đưa mắt chào bà. Hai vị khách rời đi, Si-hyun bước ra khỏi quầy thanh toán và tiến đến gần bà Yeom. Sau những lời chào và hỏi thăm qua tình hình của cửa hàng, Si-hyun hào hứng kể như thể đã đợi từ lâu lắm rồi.
“Bà chủ ơi! Người đó ngày nào cũng đến đây.”
“Người đó là ai... À, người vô gia cư đó hả?”
“Vâng. Ngày nào anh ta cũng đến vào giờ làm của cháu, ăn một suất cơm xong rồi đi luôn.”
“Vậy là cậu ta không đến vào ca trực của những nhân viên khác à?”
“Vâng. Chỉ đến vào ca trực của cháu thôi.”
“Hay là cậu ta thích Si-hyun?”
Trước câu nói đùa có phần hơi quá của bà Yeom, Si-hyun liếc mắt, tỏ vẻ khó chịu. Bà Yeom cười, chấp nhận sự “phản kháng” đáng yêu của Si-hyun và bảo rằng bà chỉ nói đùa thôi.
“Nhưng bà chủ ơi. Nghĩ cho kĩ thì anh ta chỉ đến vào ca trực của cháu, tức là tám giờ tối hằng ngày, như thể cố tình đến đúng vào lúc mình hủy hàng hết hạn sử dụng ấy ạ.”
“Cái gì? Ta đã dặn cháu cho anh ta đồ ăn mới rồi cơ mà?”
“Cháu có nói rồi. Cháu đưa cho anh ta đồ ăn mới nhưng anh ta nhất định đòi ăn cơm hộp hết hạn bằng được.”
“Dù thế nhưng ta đã nói là sẽ cho cậu ta ăn đồ mới rồi... Làm thế mất hết thành ý của ta.”
“Nhưng mà khó lắm ạ. Người đó cứ lẩm bẩm một mình rồi “cố thủ” trước bàn thanh toán. Trước tiên là rất nặng mùi. Chẳng khác gì đặt một đống phân to ở giữa cửa hàng ấy ạ. Thậm chí, thấy anh ta đứng ở bàn thanh toán, có khách vừa mở cửa vào đã đi ra ngay. Không còn cách nào nữa. Muốn dọn dẹp thật nhanh thì phải đáp ứng theo yêu cầu của anh ta. Anh ta đi rồi cháu còn phải thông gió nữa đấy.”
“Ừm, ta biết rồi.”
“Theo cháu, rõ ràng là anh ta cố tình. Nhưng sao anh ta biết mà căn đúng vào giờ hủy cơm hộp hết hạn được cơ chứ?”
“... Chắc chắn là có gì đó. Đúng như ta nghĩ.”
“Hôm qua anh ta đến hơi muộn, cháu cứ lo anh ta bị ốm ở đâu nữa cơ.”
Thấy Si-hyun có vẻ thật sự lo lắng, bà Yeom bật cười. Si-hyun rất cao ráo nhưng thân hình lại gầy đét, lần nào gặp cô, bà Yeom cũng liên tưởng tới hình ảnh con búp bê quảng cáo làm bằng bong bóng đang bay phần phật trong gió, và lần này thì bà phát hiện ra rằng cô bé này còn có một tâm hồn rất yếu đuối.
“Si-hyun à, cháu tốt bụng vậy thì sống thế nào ở thế giới phức tạp này được?”
“Bà chủ mới là người ngây thơ khi định cho một người vô gia cư ăn cơm hằng ngày ấy ạ... Nhỡ anh ta bất ngờ dắt theo đám đồng bọn nữa thì sao ạ?”
Si-hyun phản bác lại. Dù là búp bê bong bóng thì cũng có sức bật đấy chứ.
“Cậu ta không phải là người như thế đâu.”
“Ôi! Làm sao bà biết được ạ?”
“Ta có mắt nhìn người. Chẳng phải vì thế nên mới tuyển được cháu hay sao?”
“Bà chủ quả là rất tuyệt vời.”
Những màn đối đáp của Si-hyun lúc nào cũng khiến bà Yeom cảm thấy vui vẻ, cô bé giống như cô con gái út mà bà Yeom vẫn hằng ao ước. Một mặt, bà mong Si-hyun thi đỗ công chức để có thể đường đường chính chính rời khỏi nơi này, mặt khác, chỉ nghĩ tới ngày cô bé không còn làm việc tại cửa hàng nữa thôi là bà đã thấy lòng buồn não nề.
Leng keng~ Tiếng chuông vang lên báo hiệu có khách vào, Si-hyun đon đả chào khách rồi quay lại bàn thanh toán. Bà Yeom nhìn quanh cửa hàng, mắt bà dừng lại tại kệ hàng bày những suất cơm hộp. Bà quyết định sẽ đến cửa hàng vào giờ hủy cơm hộp hết hạn sử dụng vào một ngày gần nhất có thể. Để hỏi tên của người đàn ông vô gia cư kia.
Đêm hôm đó, sau khi về nhà, bà Yeom đang ngủ mê mệt thì bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại, tivi vẫn còn đang bật. Trên màn hình điện thoại hiện lên từ “Con trai”, khi đó đã quá nửa đêm. Áp lực tạo ra từ sự kết hợp của nhân vật và thời điểm đó khiến bà Yeom cảm thấy nôn nao trong người, bà bắt máy. Bà nghe thấy một giọng nói say mèm từ phía bên kia đầu dây. Con trai bà không biết bà mới trở về từ Busan, cậu ta cũng không nhớ ngày mai là sinh nhật của bà. Dù vậy, cậu ta vẫn nói yêu bà, cậu ta nói xin lỗi vì không hiếu thuận được với bà. Phần kết của vở kịch cứ mãi lặp đi lặp lại đó bao giờ cũng là một câu hỏi mang tính bản thể về “tình trạng của cửa hàng”. Bà Yeom nói cậu ta không cần phải bận tâm. Như thường lệ, câu trả lời của người con trai vẫn là những điều mơ mộng hão huyền, rằng nếu bà giải thể cửa hàng ế ẩm của bà và đầu tư vốn vào công việc kinh doanh của cậu ta thì cậu ta sẽ đảm bảo cho bà một cuộc sống đầy đủ, nhàn hạ hơn. Không thể chịu đựng thêm nữa, bà Yeom nói thẳng thừng.
“Min-sik à! Con định lừa cả người nhà hay sao?”
“Mẹ! Tại sao mẹ không tin con? Con trai mẹ là người như thế sao?”
“Là một người về hưu sau khi đã gắn bó cả cuộc đời với nghề giáo viên lịch sử, mẹ có thể khẳng định rằng, dù là một đất nước hay một cá nhân đi chăng nữa thì đều bị đánh giá bởi những việc đã làm trong quá khứ. Hãy nghĩ lại những hành động của con trong suốt thời gian qua mà xem. Con có thể tin vào chính mình được không?”
“Con... Con khổ lắm mẹ ơi! Chị cũng thế, mẹ cũng vậy, tại sao đến cả những người trong nhà cũng làm con khổ thế này? Rốt cuộc thì tại sao?”
“Nếu cứ lè nhè thế này thì cúp máy đi.”
“Mẹ---”
Tắt máy xong bà Yeom đi vào bếp. Tim bà đau như thể đang bị đặt trên một chảo dầu sôi. Cơn đau nhức nhối, đè nén khắp lồng ngực. Bà mở tủ lạnh, lấy một lon bia uống ừng ực. Bà uống như thể muốn dập tắt ngọn lửa đang bừng cháy trong lồng ngực và nỗi đau đớn đang dấy lên trong lòng vội vàng đến mức bị nghẹn, ho sặc sụa. Bà thấy bản thân mình thật thảm hại khi phải uống bia để quên đi những lời nói nhảm của đứa con trai say xỉn.
Bà thật sự không biết phải làm như thế nào.
Bà Yeom luôn cho rằng nhờ có khả năng phán đoán và đưa ra quyết định một cách gọn gàng, nhanh chóng mà cuộc đời của bà diễn ra khá suôn sẻ. Nhưng những vấn đề liên quan đến con cái luôn biến bà thành một cái cân bị hỏng. Cứ cho là bà sẽ đóng cửa hàng, bỏ vốn giúp đỡ công việc kinh doanh của cậu con trai hay thậm chí là nhắm mắt để cho cậu ta lừa mất hết đi chăng nữa, thì tiếp theo sẽ là gì? Có lẽ sẽ là tòa nhà này, tòa nhà ba tầng cũ kĩ, phai màu đã nằm ở con dốc Cheongpa-dong suốt hai mươi năm nay. Đây cũng chính là tài sản duy nhất còn sót lại của bà. Chưa biết chừng, phải đến khi nơi dung thân cuối cùng của bà cũng không còn nữa thì người con trai kia mới chịu ngừng thất bại.
Tuy không muốn thừa nhận nhưng con trai bà vừa là một kẻ vô dụng vừa là một kẻ lừa đảo. Con dâu bà cũng biết điều đó nên đã vội vàng ly hôn sau khi cưới được khoảng hai năm. Lúc mới đầu, bà rất tức giận vì quyết định nhẫn tâm của cô con dâu nhưng rồi cuối cùng, bà cũng phải thừa nhận rằng phần lớn tội lỗi đều nằm ở con trai bà. Ly hôn xong, người con trai đã làm tiêu tan toàn bộ tài sản trong vòng ba năm và trở thành một kẻ thảm hại. Lúc này, người duy nhất có thể giúp đỡ anh ta là bà Yeom. Nhưng bà đang làm gì vậy? Bà có thể lo cho bữa ăn của một người vô gia cư ở ga Seoul thì sao lại không thể giúp đỡ đứa con trai đã bỏ nhà đi, đang khổ sở, vật vã và đắm chìm trong men rượu?
Bà Yeom uống nốt lon bia rồi bắt đầu cầu nguyện ngay tại bàn ăn. Điều duy nhất bà có thể làm lúc này chỉ là cầu nguyện và cầu nguyện mà thôi.
Bà Yeom đã trải qua ngày sinh nhật cùng với con gái, con rể và cháu gái Jun-hee – người luôn mang đến cho bà rất nhiều niềm vui. Lần này, gia đình cô con gái không đến Cheongpa-dong mà mời bà đến một nhà hàng thịt bò Hàn Quốc nằm trong một tòa thương mại phức hợp ở nơi họ đang sống – Eco Village – nằm tại phía Đông của Ichondong. Nơi này tuy cũng thuộc quận Yongsan giống ngôi nhà tại Cheongpa-dong của bà nhưng hai nơi lại khác nhau một trời một vực. Quận Yongsan hiện đã trở thành khu phố đắt đỏ thứ hai ở Seoul sau quận 3 Gangnam, nhưng Cheongpadong của bà Yeom vẫn là một con dốc với mật độ dày đặc các tòa nhà cũ kĩ và khu nhà trọ dành cho những người thu nhập thấp. Con gái và con rể bà hay nói đùa rằng ngân hàng mới là chủ của căn nhà nhưng thực tế, họ đang tích lũy rất chăm chỉ để đạt được “mục tiêu” là có thể sở hữu một khu đất đẹp nhất tại Gangnam khi Jun-hee lên cấp hai. Đôi khi bà Yeom cũng tò mò, không biết những phương pháp đầu tư và cách thức quán xuyến công việc gia đình một cách năng động và đầy tham vọng kia là nhờ vào sự khéo léo của con gái bà hay năng lực của cậu con rể, tuy nhiên, điều quan trọng là mọi thứ hòa hợp với nhau, tạo ra hiệu quả lan tỏa đến hai người đó và nó rất khác với quan điểm kinh tế có phần bảo thủ của bà. Sau khi kết hôn, con gái bà ngày một thay đổi, còn con rể thì như người ta vẫn nói, “rể là khách”. May mắn là hai vợ chồng hợp nhau nên vẫn sống yên ổn, bà cũng bớt lo lắng hơn, không như gia đình cậu con trai cãi cọ liên miên rồi ly hôn. Thế nhưng từ chủ đề cho đến phương hướng của những cuộc trò chuyện, bà Yeom lờ mờ cảm thấy rằng mối quan hệ của bà với cô con gái đang thay đổi từng ngày kia sẽ lại càng xa cách hơn nữa, và đến khi họ chuyển từ Yongsan sang Gangnam thì khoảng cách đó sẽ lại lớn hơn nữa, tỉ lệ thuận với quãng đường địa lý.
Trong hoàn cảnh đó, khi được con rể tổ chức tiệc sinh nhật tại một nhà hàng thịt bò Hàn Quốc nổi tiếng đắt đỏ thì thành thật mà nói, bà cảm thấy áp lực hơn là cảm động. Bởi suốt những năm qua, gia đình cô con gái luôn mừng sinh nhật bà tại một quán sườn heo ở ngay cổng trường đại học Sookmyung. Vào bữa ăn, bà Yeom vẫn không cảm thấy thoải mái một chút nào nhưng chỉ cần nhìn thấy cô cháu gái Jun-hee, bà không thể không nở nụ cười. Dĩ nhiên, Jun-hee đang dán mắt vào điện thoại để xem YouTube nên chẳng mảy may để ý đến, nhưng thế cũng đủ khiến bà vui rồi. Bà Yeom không thể hiểu được những câu chuyện về các sản phẩm tài chính, về gói tiết kiệm, gói bảo lãnh... mà con rể và con gái bà đang say sưa trao đổi nên chỉ muốn thịt bò được mang ra thật nhanh, để bà có thể tập trung ăn. Bà Yeom thầm nghĩ, hôm nay là sinh nhật của bà và chỉ bà mới có tư cách để tận hưởng ngày này.
Thức ăn đã được mang ra hết. Bà Yeom dồn hết sức lực để giải quyết chỗ thịt con rể nướng cho. Cô con gái thì bận chăm sóc Jun-hee, cậu con rể vẫn mải miết nướng thịt. Cuối cùng sau khi cả nhà cùng nâng ly bia, cô con gái mở lời như thể đã chờ cơ hội để được nói ra.
“Mẹ à! Jun-hee chuẩn bị đi học taekwondo.”
“Con gái thì học taekwondo làm gì...”
“Ơ, sao một người có trình độ như mẹ lại suy nghĩ như vậy nhỉ? Học taekwondo thì cần gì phân biệt nam nữ? Lần trước Jun-hee bị một đứa con trai đánh đấy. Jun-hee đã xin đi học để tự đối phó khi bị người khác bắt nạt.”
Con gái bà nói đúng. Bà Yeom thấy ngại vì suy nghĩ cổ hủ của mình, khuôn mặt bà hơi tối lại. Trong khi anh con rể dò xét bầu không khí giữa mẹ vợ và vợ thì cô con gái bà đã uống hết ly bia. Bà Yeom nhanh chóng tươi cười trở lại, quay sang hỏi Jun-hee.
“Jun-hee ơi, cháu muốn học taekwondo à?”
“Vâng.”
Jun-hee trả lời mà mắt vẫn không rời khỏi màn hình điện thoại.
“Nhân tiện, nghe nói có một phòng tập taekwondo rất tốt ở gần chỗ mẹ. Thầy dạy cũng được lắm. Cậu ta còn khá trẻ tuổi nhưng đã được chọn làm vận động viên của đội tuyển quốc gia, tư duy cũng khá ổn... Mọi người trong “Mom Cafe” đều rất khen.”
“Mom Cafe?”
“Trên mạng có một nhóm dành riêng cho các bà mẹ ở phía Đông Ichon-dong.”
“Vậy người thầy đó chẳng phải là một kẻ rất ngốc nghếch hay sao? Lẽ ra cậu ta phải chuyển đến khu phía Đông Ichondong chứ, nằm chết dí trong ngóc ngách ở Cheongpa-dong để làm gì?”
“Thầy ấy cũng muốn lắm chứ. Nhưng ở đây đắt mà. Tóm lại là không thể đợi được đến lúc người ta chuyển về đây mà con sẽ cho Jun-hee qua đó học, nên con cần mẹ giúp.”
Miếng thịt bò đang mềm như vậy bỗng trở nên khô khốc tới mức không thể nhai nổi. Đương nhiên, bà Yeom muốn có nhiều thời gian ở bên Jun-hee hơn. Nhưng việc bà không có quyền lựa chọn khung thời gian như vậy khiến bà có đôi chút lấn cấn.
Cô con gái mong bà Yeom sẽ chăm sóc Jun-hee trong hai tiếng trống giữa giờ học taekwondo và giờ học violin. Ngoài ra, giờ xe buýt của trung tâm đưa đón không được rõ ràng nên bà Yeom sẽ phải tự đưa Jun-hee đến trung tâm học violin. Việc hằng ngày chăm cô cháu gái nhỏ trong vòng hai giờ đồng hồ có vẻ như không có gì là khó đối với một người phụ nữ lớn tuổi đã về hưu. Tuy nhiên bà Yeom thì lại khác, bà có công việc riêng của bà. Bà phải kiểm tra cửa hàng thường xuyên, phải tham gia hoạt động tình nguyện ở nhà thờ, và mỗi ngày bà còn phải tập viết các từ mới bằng tiếng Anh để đề phòng bệnh lẫn nữa. Thế nhưng, như một lẽ đương nhiên, khi bị trùng lặp với công việc của con gái hoặc cháu gái thì lịch trình của bà Yeom chưa bao giờ là thứ được ưu tiên hàng đầu.
Bà Yeom đã không thể từ chối lời đề nghị của cô con gái. Dù không ai đề cập đến bất kì khoản bồi dưỡng nào nhưng bà Yeom tin rằng con gái và con rể bà là người hiểu chuyện nên đã chấp thuận, không hề do dự.
Trên đường trở về nhà, ngồi một mình trên xe buýt, bà Yeom chợt nghĩ đến các nhân viên cửa hàng. Dạo gần đây, so với cậu con trai ngỗ nghịch, không nghe lời và cô con gái tài giỏi nhưng xa cách thì bà Yeom thấy họ giống gia đình của bà hơn, bên họ bà cũng thấy thoải mái hơn. Nói như vậy, chắc sẽ có nhiều người bắt bẻ, đánh giá bà là một chủ doanh nghiệp xấu xa, cư xử tùy tiện với nhân viên nhưng biết làm sao được khi sự thật là vậy. Bà không yêu cầu nhân viên cũng coi bà như là gia đình của họ, bà cũng không giao cho họ những công việc gì quá đáng. Bà tự an ủi mình rằng bởi họ là những người gần gũi nhất mà bà có thể tin tưởng nên bà mới có suy nghĩ như vậy.
Bà Oh, người chịu trách nhiệm cho cửa hàng vào buổi sáng là một người bạn sống cùng khu phố với bà Yeom, họ đã biết nhau từ hai mươi năm trước và cùng đi nhà thờ với nhau. Thực ra, bà Oh coi bà Yeom như chị gái nên rất tin tưởng và nghe lời bà Yeom, hai người đã cùng nhau chia sẻ vui buồn trong suốt một khoảng thời gian dài. Si-hyun làm việc vào buổi chiều thì vừa giống một cô con gái, vừa giống một cô cháu gái nên lúc nào bà Yeom cũng muốn giúp đỡ cô bé. Si-hyun làm việc ở cửa hàng đã được gần một năm, ngoại trừ vài lần tính sai tiền cho khách thì cô chưa bao giờ làm điều gì khiến bà Yeom phiền lòng. Trên tất cả, với công việc của một nhân viên bán thời gian tại cửa hàng tiện lợi thì hiếm ai có thể duy trì được lâu đến vậy, chỉ thế thôi cũng khiến bà Yeom biết ơn cô bé lắm rồi. Cũng tương tự như vậy, người có công lớn nhất là chú Seong-pil, người đã phụ trách ca đêm cho cửa hàng từ khi khai trương đến giờ. Khoảng hai năm trước, khi bà Yeom đang vô cùng đau đầu vì nhân viên ca đêm liên tục nghỉ việc, thì chú Seong-pil xuất hiện như một vị cứu tinh. Chú Seong-pil khoảng gần sáu mươi tuổi, có hai cô con gái, chú ấy sống cùng gia đình tại một căn nhà bán hầm ở gần cửa hàng nên vẫn thường xuyên ghé mua thuốc lá. Khi thấy có biển đăng tìm người làm ca đêm, chú ấy ngỏ ý muốn được làm. Chú Seong-pil khi đó vừa mất việc và không xin được việc mới, vì thế, dù chỉ là làm bán thời gian vào ban đêm thì chú ấy vẫn muốn nhận để kiếm thêm chút tiền sinh hoạt phí. Bà Yeom cảm nhận được sự khẩn thiết của một người cha đang mang trọng trách trên vai nên đã tăng thêm cho chú ấy năm trăm won vào tiền lương giờ cơ bản. May mắn thay, chính phủ mới đưa ra quyết định tăng mức lương giờ tối thiểu, nên chú Seong-pil có thể kiếm được hơn hai triệu won mỗi tháng. Kể từ đó, chú ấy đã liên tục làm ca đêm tại cửa hàng trong suốt một năm rưỡi, một công việc mà ai cũng cho là vô cùng vất vả.
Có lẽ đây mới chính là lý do bà Yeom coi những nhân viên ở cửa hàng như gia đình. Ở cương vị của một người làm chủ, ai cũng mong nhân viên gắn bó với cửa hàng thật lâu. Tuy vậy, nếu có cơ hội để Si-hyun xin được việc làm, chú Seong-pil tìm lại được công việc đúng chuyên môn, giúp hai người đạt được “mục tiêu” của họ, thì bà Yeom sẽ rất vui lòng để họ ra đi. Thậm chí, có lần bà Yeom còn giới thiệu việc làm cho Si-hyun. Tuy nhiên, cô đã không trụ được quá một ngày mà lại quay về cửa hàng. Bà Yeom vẫn còn nhớ như in hình ảnh của Si-hyun khi cô nói: “Chắc là cháu vẫn chưa sẵn sàng để trở thành một nhân viên văn phòng thực sự.”
Vào cuối tuần, sinh viên trường đại học Sookmyung sẽ giúp bà Yeom trông coi cửa hàng còn những giờ trống trong tuần thì có các học sinh từ Hội thanh niên cùng nhà thờ đến làm. Khi những người trẻ tuổi có xu hướng làm thêm ngắn hạn trong vài ngày để kiếm tiền tiêu vặt thì lượng công việc bà Yeom phải làm cũng đỡ đi được rất nhiều, bà tạm thời đã có thể thở phào nhẹ nhõm trước nỗi khó khăn lớn nhất của những người tự kinh doanh, đó là việc thuê người. Những nhân viên cố định mà bà Yeom coi như gia đình và những cô sinh viên bán thời gian vẫn chưa bị vấy bẩn bởi xã hội bên ngoài gọi bà là “bà chủ”. Bà Yeom lúc nào cũng thấy kì diệu và biết ơn về việc họ sát cánh cùng bà để phát triển cửa hàng.
Chỉ có một vấn đề duy nhất. Đó là việc kinh doanh không được suôn sẻ.
Bà Yeom có thể sống và chăm lo cho bản thân mình bằng tiền lương hưu của một giáo viên. Việc kinh doanh cửa hàng tiện lợi là do lời khuyên của em trai bà, một người đang quản lý ba cửa hàng trong khi bà đang không biết phải làm thế nào với số di sản chồng bà để lại. Ông ấy cũng nói rằng nếu muốn kiếm được tiền từ việc kinh doanh này, ít nhất phải có ba cơ sở và nhấn mạnh việc phải mở rộng ra thêm nữa, nhưng với bà Yeom thì một cửa hàng đã là quá đủ. Bà Yeom có thể sống bằng tiền lương hưu, chỉ cần cửa hàng này giải quyết được kế sinh nhai cho nhân viên của bà là ổn rồi. Khi bắt đầu, không ai có thể ngờ rằng cửa hàng tiện lợi này lại là kế sinh nhai duy nhất của bà Oh và chú Seong-pil, còn Si-hyun cũng đang kiếm tiền từ đây để chuẩn bị chi phí cho kì thi công chức. Cả đời bà Yeom chưa bao giờ nghĩ rằng bà sẽ trở thành bà chủ hay tự kinh doanh gì đó, nhưng từ khi nhận ra rằng cửa hàng này không chỉ là của riêng bà mà nó còn quyết định cuộc sống của những người khác nữa thì bà đã bắt đầu chăm chút cho công việc kinh doanh thực sự.
Lúc mới đầu, cửa hàng cũng khá đông khách nhưng chỉ khoảng sáu tháng sau, hai cửa hàng tiện lợi của các thương hiệu khác đã xuất hiện, chúng chỉ cách cửa hàng của bà chưa đầy 100 mét và vừa mở ra đã cạnh tranh với nhau. Hai nơi đó đưa ra các chương trình khuyến mại gây sốc để thu hút khách hàng còn cửa hàng của bà Yeom tương đối yên ắng nên doanh thu giảm dần và ngày càng đi xuống.
Bà Yeom hoàn toàn không có tham vọng kiếm thật nhiều tiền từ cửa hàng. Bà chỉ lo rằng nếu doanh thu quá thấp, không thể duy trì cửa hàng thì nhân viên của bà không có nơi nào để đi. Bà cũng không ngờ rằng thị trường lại cạnh tranh khốc liệt tới mức này và bà không biết có thể kéo dài việc kinh doanh được bao lâu nữa.
Ngày hôm sau, bà Yeom căn đúng giờ hủy cơm hộp hết hạn sử dụng để ra cửa hàng và bà đã chứng kiến cảnh người đàn ông vô gia cư kia đang lau dọn chiếc bàn ở ngoài trời. Giữa cái se lạnh của buổi tối mùa thu, anh ta đang lúi húi nhặt tàn thuốc lá, cốc giấy và vỏ lon bia. Anh ta chậm rãi đưa hết đống rác vừa gom được ra khu chứa rác, quan sát rất cẩn thận rồi mới phân loại chúng vào thùng, bà Yeom thấy hình ảnh đó đẹp đẽ đến lạ kì. Ngay lúc đó, Si-hyun cầm hộp cơm ra, để lên bàn rồi ra hiệu cho người kia. Anh ta quay lại, khẽ cúi đầu chào, Si-hyun cũng chào lại đáp lễ, cô định quay lại cửa hàng thì bắt gặp bà Yeom đang đứng quan sát.
“A~ Bà chủ đến rồi ạ?
“Cháu mang cơm cho cậu ta đấy à?”
“Vâng. Anh ta còn dọn dẹp giúp nữa... Nên cháu thấy biết ơn lắm.”
Si-hyun khẽ cười rồi đi vào cửa hàng, đến lúc đó thì người vô gia cư kia cũng quay lại. Anh ta lễ phép cúi chào bà Yeom rồi mở nắp hộp cơm ra. Bà Yeom không nói gì, lẳng lặng tiến đến ngồi phía đối diện với anh ta. Có lẽ hộp cơm vừa mới được làm nóng lại bằng lò vi sóng nên vẫn còn đang bốc khói, còn người đàn ông kia, phải chăng anh ta bị phân tâm vì bà Yeom nên tỏ ra đôi chút ngập ngừng. Mãi đến khi bà Yeom lấy tay ra hiệu, anh ta mới tách đôi đũa, rồi lấy ra một chai màu xanh trong túi áo khoác.
Đó là một chai soju đã uống dở một nửa, người đàn ông rót rượu vào một chiếc cốc giấy còn sót lại sau khi dọn rác ban nãy. Bà Yeom không tỏ thái độ gì, chỉ lặng lẽ quan sát anh ta giải quyết hộp cơm và thức ăn. Không lâu sau, người vô gia cư cũng không còn thấy bất tiện vì bà Yeom nữa, anh ta chỉ tập trung ăn.
Khi anh ta gần ăn xong hộp cơm và uống hết chai soju, bà Yeom vào cửa hàng và mang ra hai lon cà phê. Bà lại ngồi vào phía đối diện rồi đưa một lon cà phê cho người đàn ông kia, mặt anh ta rạng rỡ hẳn lên. Anh ta cúi đầu, mở lon cà phê rồi uống ngon lành như thể uống nước mật ong. Bà Yeom cũng uống theo. Dường như sự ảm đạm của một buổi tối cuối thu đang tan chảy trong lon cà phê ấm áp. Vào mùa hè, chiếc bàn nhựa đặt bên ngoài cửa hàng này là nơi khách uống bia tụ tập trò chuyện, hút thuốc nên rác thải lúc nào cũng ngổn ngang, không chỉ nhân viên bị mệt vì dọn dẹp mà không ít lần cửa hàng của bà còn bị dân cư xung quanh phàn nàn, góp ý. Nhưng không thể phủ nhận rằng, đây vẫn là một địa điểm giải trí nhỏ của khu phố, nơi ai cũng có thể tận hưởng sự thảnh thơi, chậm rãi của cuộc sống. Có lẽ vì thế mà mặc kệ sự phàn nàn của cư dân và sự bất bình của nhân viên, bà Yeom vẫn quyết tâm giữ lại nơi này.
“Trời... lạnh rồi nhỉ?”
Như thể nghe thấy tiếng ma huýt sáo ở bên cạnh, bà Yeom vô cùng bất ngờ, nhìn chằm chằm vào người đàn ông vô gia cư. Trong suốt bữa ăn, anh ta không nói một câu gì nên bà Yeom đã nghĩ rằng anh ta không muốn nói chuyện, bà đã định từ bỏ cả ý định hỏi tên anh ta. Vậy mà anh ta lại mở lời hỏi chuyện trước, bà Yeom thấy hứng thú trở lại.
“Đúng rồi. Sắp lạnh hẳn rồi... Cậu vẫn sẽ ở ga Seoul chứ?”
“Trời lạnh hơn... thì lại càng phải ở đó.”
Gì vậy nhỉ? Cách nói chuyện của anh ta đã ổn định hơn lần gặp vào tuần trước rất nhiều. Hay là nhờ lui tới cửa hàng ăn cơm nên anh ta đã được xã hội hóa ít nhiều? Bà Yeom quyết định sẽ hỏi nhiều nhất có thể về những điều bà tò mò về anh ta từ hồi sáng.
“Một ngày cậu chỉ ăn một bữa này thôi à?”
“Nhà thờ... có cho ăn bữa trưa... nhưng phải hát thánh ca nên tôi không thích.”
“Kể cũng đúng. Mà nhà cậu ở đâu? Cậu không có ý định quay về nhà à?”
“... Tôi không biết.”
“Vậy tôi có thể biết tên của cậu không?”
“Tôi không biết.”
“Cậu không biết cả tên của mình sao? Thế còn tuổi? Trước kia cậu làm gì để sống?”
“Tôi... không biết.”
Bà Yeom thở một hơi dài.
Người đàn ông “cơm hộp” đã chịu nói chuyện nhưng câu trả lời vẫn trước sau như một. Vậy có khác gì quyền giữ im lặng đâu cơ chứ. Ngay cả một người tinh tường như bà Yeom cũng không thể đoán được xem anh ta thực sự không biết cả tên mình hay đang giả vờ không biết. Dù vậy, bà Yeom vẫn quyết không bỏ cuộc. Để giao tiếp, ít nhất thì cũng phải biết nên gọi đối phương như thế nào.
“Vậy cậu muốn tôi xưng hô như thế nào?”
Thay vì trả lời, người đàn ông kia quay đầu nhìn về phía ga Seoul. Dường như anh ta muốn quay về nơi quen thuộc duy nhất của mình. Rồi bất chợt, anh ta quay lại nhìn thẳng vào bà Yeom.
“Dok... Go...”
“Dok-go?”
“Mọi người... đều gọi tôi là... Dok-go.”
“Dok-go là họ hay tên cậu?”
“Cứ gọi là... Dok-go thôi.”
Bà Yeom thở dài rồi gật gật đầu.
“Tôi biết rồi. Cậu Dok-go này! Hằng ngày cậu nhớ đến nhé, không được quên đâu đấy. Nghe nói hôm qua cậu đến muộn nên tôi đã rất lo.”
“Bà... đừng như vậy... Đừng bận tâm đến tôi.”
“Sao có thể không bận tâm được khi một người ngày nào cũng đến đúng giờ lại đột nhiên đến muộn? Vì thế nên cậu không được muộn nữa, nhớ đến đúng giờ nhé. Đến ăn cơm rồi dọn dẹp giúp tôi như bây giờ, coi như là tập thể dục, thế không phải là rất tốt hay sao?”
“Nếu... nếu... lại bị mất ví... hãy cứ nói với tôi.”
“Hả?”
“Tôi sẽ lại tìm cho bà. Vì... tôi không có gì để báo đáp...”
“Cậu thật là... Cậu bảo tôi cố tình làm mất ví đi để lại được cậu giúp đỡ ấy hả?”
“Không... Không được làm mất nữa... Nói chung là gì cũng được... Nếu tôi có thể giúp gì... thì cứ nói.”
Bà Yeom vừa thấy đáng khen vừa thấy chán nản trước lời nói đó. Bà chưa khẩn thiết đến mức phải nhờ anh ta giúp đỡ. Hay là trong mắt anh ta, cửa hàng của bà thảm hại đến mức thế sao? Bà Yeom nhìn thẳng Dok-go và quyết định sẽ kết thúc câu chuyện tại đây.
“Dok-go này! Cậu tự giúp mình trước đi.”
Dok-go ngại ngùng cúi đầu. Có cần thiết phải ủ rũ vì chuyện như thế này đâu cơ chứ.
“Nhân tiện, cho cậu ăn cơm hộp cũng là vì tôi muốn giúp đỡ cậu, dù chỉ là một chút thôi. Vì thế, tôi không đồng ý cho cậu uống soju ở đây đâu.”
“...”
“Cơm hộp không phải là đồ nhắm, mà là một bữa ăn. Tôi không thể giúp cậu say rượu được.”
“Một chai... thì không nhằm nhò gì cả...”
“Thôi không nói nữa. Tôi là người có nguyên tắc. Chiếc bàn này là sở hữu của tôi, và tôi không cho phép uống soju ở đây. Cậu hãy nhớ đấy!”
Dok-go không nói gì, chỉ nuốt nước bọt. Anh ta quay ra nhìn vỏ chai soju rồi lặng lẽ nhặt nó lên. Bà Yeom hơi căng thẳng sợ anh ta sẽ dùng thứ đó để tấn công bà. Nhưng anh ta lại đặt vỏ chai soju lên nắp hộp cơm rỗng, đứng dậy rồi khệnh khạng di chuyển ra chỗ phân loại rác. Bà Yeom khẽ thở phào nhẹ nhõm. Một lát sau, Dok-go quay lại, móc một búi giấy ăn lộn xộn từ trong túi áo ra, lau bàn rồi cúi chào bà Yeom.
Từ phía sau, bà Yeom lặng lẽ quan sát bóng người đàn ông được gọi là Dok-go kia ngày càng xa dần. “Dok-go”. Cái tên đó có nghĩa là “một mình cô độc”? Hay là vì anh ta sống tách biệt với người khác nên mới bị gọi như vậy? Bà Yeom quyết định sẽ không bận tâm đến người có bóng lưng đơn độc đúng như tên gọi kia nữa.
“Bà chủ, rất xin lỗi nhưng có lẽ tôi sẽ phải nghỉ việc gấp.”
Tối hôm đó, khi đang trò chuyện với Si-hyun tại cửa hàng, bà Yeom không khỏi bối rối khi chú Seong-pil vừa đến để nhận giao ca đã nói như vậy. Vuốt mái tóc còn lơ thơ vài sợi, chú ấy kể rằng thông qua người quen, chú đã tìm được việc lái xe cho giám đốc một công ty nhỏ. Chú mong bà Yeom thông cảm vì phải bắt đầu công việc mới trong vòng ba ngày nên đành phải nghỉ việc đột ngột như vậy, sự áy náy biểu hiện rất rõ trên khuôn mặt vốn dễ gây thiện cảm cho người đối diện của chú Seong-pil.
Làm ca đêm tại cửa hàng tiện lợi là công việc vô cùng vất vả nên rất khó tìm người thay thế. Hơn một năm rưỡi qua, nhờ sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của chú Seong-pil mà bà Yeom đã có những đêm yên ổn, không phải lo lắng gì, vậy mà vị trí này lại sắp bị để trống. Dù tìm được người đi chăng nữa thì cũng chưa chắc sẽ trụ được lâu dài, vì thế chắc chắn bà sẽ lại phải trông cửa hàng để chữa cháy. Cứ nghĩ đến khoảng thời gian từ giờ cho tới lúc vị trí ca đêm ổn định trở lại là bà Yeom đã thấy đau đầu lắm rồi.
Bà Yeom nhớ lại quyết tâm của mình, rằng sẽ vui vẻ ủng hộ khi chú Seong-pil rời cửa hàng để làm một công việc mới. Bà cảm ơn vì nhờ có chú Seong-pil vất vả đêm hôm trông coi cửa hàng mà bà không phải lo lắng điều gì, bà còn nói sẽ thưởng thêm cho chú ấy nữa. Chú Seong-pil rất cảm động và hứa sẽ chăm chỉ làm việc nốt ba ngày còn lại.
“Bà chủ thật tuyệt vời!”
Trong khi chú Seong-pil vào nhà kho thay đồng phục, Si-hyun giơ ngón tay cái lên và nói.
“Si-hyun à, cháu cũng cố thi đỗ nhé. Nếu thi đỗ, ta sẽ mua tặng cháu một bộ vest để đi làm.”
“Thật ạ? Cháu muốn mua một bộ thật đắt có được không ạ?”
“Nhân viên mới mà mặc đồ xịn quá thì sẽ bị để ý đấy. Ta sẽ mua cho cháu một bộ thật hợp lý. Cứ chăm chỉ học đi nhé.”
“Vâng ạ.”
“À, nhưng phải tìm người làm ca đêm ngay. Thử xem bạn bè cháu có ai đang tìm việc không. Ta cũng sẽ nhờ bên Hội thanh niên của nhà thờ nữa.”
“Bà chủ sẽ cho cháu tiền môi giới chứ ạ?”
“Đương nhiên rồi. Nhưng nếu không tìm được thì cháu phải làm ca đêm đấy.”
“Cháu không chịu đâu!”
“Nếu không tìm được người trong vòng bốn ngày thì cháu hoặc ta sẽ phải làm. Bà Oh thì vướng con trai nên không được rồi, còn ai ngoài chúng ta nữa đâu? Cháu nghĩ xem, đêm hôm, bà già này vừa trông cửa hàng vừa sắp xếp hàng hóa được không hả?”
Bà Yeom vừa diễn thuyết một tràng xong Si-hyun đảo đảo mắt, vẻ mặt mơ hồ.
“Để cháu tìm thử xem. Nhiều đứa đang rảnh lắm ạ.”
“Nhớ bảo là bà chủ siêu tốt nhé.”
“Đương nhiên rồi ạ.”
Bà Yeom ngao ngán nhìn vào những thùng hàng đang được trút xuống. Bà vừa tự trách mình tham lam đặt quá nhiều hàng trong khi kinh doanh ế ẩm, vừa bắt đầu chuyển những thùng hàng đang chất đầy ở ngoài cửa ra vào. Người giao hàng chỉ giao đến cửa thôi. Từ cửa vào đến kho, nhân viên cửa hàng sẽ phải tự chuyển. Mới bê có vài chuyến thôi mà chân bà đã run rẩy rồi. Người giao hàng đã rời đi sau khi xếp nốt những thùng hàng cuối cùng, còn bà Yeom chỉ biết thở dài.
Chú Seong-pil nghỉ việc đã được một tuần rồi mà vẫn chưa tìm được người thay thế. Ba ngày đầu, có một cậu thanh niên cùng sinh hoạt tại nhà thờ với bà Yeom xin làm trong thời gian đợi nhập ngũ, nhưng chỉ được vài hôm, cậu ta đã xin nghỉ việc với lý do “bố mẹ phản đối” dù vừa nghe qua đã biết là nói dối. Ban đầu, bà Yeom còn lo không biết cậu ta có chịu đựng được ở môi trường quân đội hay không nhưng hóa ra vị trí ca đêm mới là nỗi lo lớn hơn của bà.
Sau đó, ba ngày liền, bà Yeom thức đêm để trông cửa hàng. Thật trùng hợp vì đúng thời điểm đó, Si-hyun phải đến Noryangjin từ sáng sớm để tham gia một khóa học đặc biệt. Thật đáng ghét! Bà Yeom chỉ muốn ra đề thi thử để kiểm tra xem có đúng là cô đang học hành chăm chỉ hay không. Thật ra, với một giáo viên lịch sử như bà Yeom thì bà có thể nhắm mắt giải những câu hỏi lịch sử trong bài thi công chức và về lĩnh vực đó, bà hoàn toàn có thể giúp Si-hyun. Nhưng Si-hyun nhất quyết từ chối, cô muốn coi bà Yeom là một bà chủ hơn là một cô giáo. Có lẽ, Si-hyun đang dành quá nhiều thời gian vào việc kiếm tiền tiêu vặt bằng cách làm thêm ở cửa hàng hơn là việc học.
Lại bao đồng chuyện người khác rồi! Việc bà Yeom cần làm ngay bây giờ là tìm được nhân viên làm ca đêm. Hôm nay, bà gọi điện cho cậu con trai nhưng không khác gì mua thêm bực bội vào người. Anh ta không những không giúp gì được mà còn phát ngôn như thể “đổ thêm dầu vào lửa”: Nào thì, thứ nhất, ai dám bảo anh ta là một kẻ “ăn không ngồi rồi”. Hai là dù có thất nghiệp đi chăng nữa thì một nhân lực cao cấp như anh ta cũng không bao giờ chịu làm ca đêm ở cửa hàng tiện lợi. Ba là sao bà Yeom không bán cửa hàng đi cho bản thân đỡ khổ? Cuối cùng nhân cơ hội này, bà Yeom nên thanh lý cửa hàng rồi đầu tư vào công việc kinh doanh mới của anh ta để được thoải mái nghỉ ngơi... Bà Yeom tuyên bố, anh ta sẽ không bao giờ nhận được một thứ gì từ cửa hàng dù chỉ là một cái kẹo cao su rồi cúp máy. Bà uống hết một lon bia rồi ngủ thiếp đi, mãi đến khi chuông báo thức kêu bà mới tỉnh dậy và cũng là lúc Si-hyun đến đổi ca cho bà. Nhờ cậu con trai mà tửu lượng của bà ngày càng tăng. Một con chiên ngoan đạo như bà cứ thế này liệu có ổn không? Tại sao Chúa đã ban cho bà một cậu con trai chuyên gây rắc rối lại còn tạo điều kiện cho bà uống rượu nữa cơ chứ? Bà Yeom không thể nào hiểu được.
Khi bà Yeom chuyển hết hàng vào kho và kiểm kê xong thì đã quá nửa đêm. Giờ thì bà phải bày hàng mới lên kệ nữa. Và rồi thêm ba tiếng đồng hồ nữa, bà như một con sóc cặm cụi tha quả sồi về tổ, liên tục di chuyển giữa nhà kho và các kệ hàng lối đi. Mãi đến bốn giờ sáng thì bà mới xong việc. Bà Yeom tựa lưng vào bàn thanh toán rồi ngáp ngắn ngáp dài, bà đang cố căng mắt ra để chống lại cơn buồn ngủ. May mà không có khách, chứ không biết một mình bà sẽ xoay sở như thế nào. Nhưng không có khách chẳng phải là điềm báo trước rằng cửa hàng sắp phá sản hay sao?
Leng keng~ Tiếng chuông vang lên, một nhóm người đi vào cửa hàng với những lời chửi thề và văng tục. Hai cô gái và hai chàng trai chỉ khoảng ngoài 20 tuổi, họ đều đang trong tình trạng say mèm. Hai cô gái nhuộm tóc vàng và tím đang nói chuyện với nhau bằng những lời lẽ vô cùng tục tĩu, còn hai chàng trai thì tung hứng câu chuyện với giọng điệu đầy lố bịch và phô trương. Bà Yeom đoán chắc chắn họ không phải là sinh viên trường Sookmyung mà từ một quán rượu nào đó ở phía ga Nam Yeong đến đây.
“Mẹ kiếp, ở đây không có Samanco
[2]
!”
“Ở đây này. Samanco bánh gạo!”
“Tao không thích bánh gạo. Ghét đếch chịu được!”
“Đồ ngu. Thế mày cứ tìm Samanco không có bánh gạo đi. Tao sẽ ăn kem đậu đỏ.
“Bọn mày có biết “Samanco” nghĩa là gì không? Rẻ (“sa”) và nhiều (“man”) đấy!”
“Mày lảm nhảm cái gì thế? Vẫn đang tìm Samanco à? Ơ, không có kem đậu đỏ, tao đang muốn ăn đậu đỏ. Mẹ kiếp!”
Bà Yeom nhíu mày khi chứng kiến lũ trẻ bàn tán và chửi bậy. Bà tự nhủ phải nhịn. Vì bây giờ có nói gì thì cũng không có tác dụng với đám say xỉn cả.
“Ở đây có Babambar này. Mày “hốc luôn Babambar đi!”
“Đồ ngu. Babambar là hạt dẻ. Tao muốn ăn đậu đỏ cơ mà!!”
“Muốn ăn đậu đỏ thì ăn đá xay đậu đỏ đi. Ở đây có đây này!”
“Lạnh bỏ mịa đi, ăn đá xay làm sao được. Thằng bệnh này!”
“Cái gì? Địt mẹ, mày vừa nói gì?”
“Này, mấy học sinh kia!!”
Không thể nhịn thêm nữa, bà Yeom hét to. Tiếp theo đó, bằng giọng điệu rất quyết liệt, bà bảo chúng đừng làm loạn ở cửa hàng của người khác nữa, nhanh mua hàng rồi về nhà đi. Cuối cùng thì bà Yeom đã nổi giận. Vốn dị ứng với những đứa trẻ hay chửi bậy, bà không thể chịu đựng được những lời nói khiếm nhã của chúng nữa. Nhưng chúng không phải học sinh của bà, cũng không phải là những đứa trẻ ngoan ngoãn gì, nhìn chúng giống một đám lưu manh say xỉn thì đúng hơn. Bà Yeom vừa nói xong mặt chúng đã biến sắc, lừ lừ tiến lại gần bà. Bà Yeom căng thẳng, nuốt nước bọt.
Cô gái nhuộm tóc vàng đi đầu tiên nhổ toẹt nước bọt xuống sàn nhà.
“Này bà già. Bà là cáo chín đuôi hả? Bà có mấy cái mạng?”
“Chúng mày gây ồn ào trước mà. CCTV quay hết lại rồi đấy.”
Bà Yeom cố gắng bình tĩnh và cảnh cáo. Lúc đó, cô gái tóc tím ném gói Samanco xuống trước mặt bà Yeom mạnh đến nỗi dường như nó sắp vỡ tan ra.
“Tính tiền đi. Trước khi tụi này cho bà xẹp lép như cái kem cá này!”
Hai cô gái cười ngặt nghẽo như thể sẽ động tay động chân với bà Yeom ngay lập tức, hai tên con trai chứng kiến cảnh tượng đó từ phía sau cũng cười khoái chí. Trong giây lát, bà Yeom giận sôi người. Bà quyết sẽ không nhượng bộ chúng.
“Tao không bán hàng cho chúng mày. Đi ra ngay. Không thì tao sẽ gọi cảnh sát.”
Bà Yeom vừa dứt lời, cô gái tóc vàng cầm gói Samanco gõ vào đầu bà Yeom. Sự việc diễn ra quá nhanh khiến bà Yeom ngây người, mắt trợn tròn, không biết phải làm thế nào.
“Bà già! Ban nãy bà vừa nói gì? “Mấy học sinh kia!?” Nhìn kiểu gì mà nghĩ tụi này là học sinh hả? Mấy mụ già thì cứ thấy ai trẻ cũng tưởng là học sinh. Tôi không đi học nhé. Tôi bị đuổi học vì ném bánh bao vào mặt mụ giáo như bà già đấy!”
Cô gái tóc vàng cầm gói Samanco định vả vào má bà Yeom thì ngay lập tức bị bà tóm chặt lấy cổ tay.
“Tao sẽ dạy dỗ lại mày!”
Bà Yeom dùng hết sức để khóa chặt cổ tay cô gái kia lại. Cô gái tóc vàng vừa gào thét, vừa phản kháng nhưng đã không thắng được lực nắm của bà Yeom. Ngược lại, bà Yeom vừa buông tay ra, lực phản kháng mất đà khiến cô gái lảo đảo rồi khuỵu xuống. Thấy vậy, cô gái tóc tím túm lấy vai bà Yeom, theo phản xạ bà cũng nắm lấy tóc cô gái ấy rồi ghì chặt xuống bàn thanh toán, nơi đang để gói kem Samanco.
“Xẹp lép như con cá á? Ăn nói như thế với người lớn hả?”
Mặc kệ cô gái tóc tím giãy giụa, bà Yeom vẫn tóm chặt đầu cô ta rồi lắc liên hồi, cho đến khi cô ta không còn phản kháng nữa bà mới buông ra. Với khuôn mặt thất thần, cô ta thở hổn hển, ho sặc sụa. Thấy vậy, mặt hai tên con trai kia càng trở nên hung hăng hơn. Bà Yeom nhanh chóng đặt ống nghe máy điện thoại cố định xuống bàn. Nếu cứ để thế, chỉ một lát sau máy sẽ tự động kết nối đến đồn cảnh sát gần nhất.
“Chúng mày điên rồi nên mới dây vào bà già này!
Một tên con trai lao tới như muốn phá nát máy tính tiền. Bà Yeom bị dồn về góc tận cùng của quầy thanh toán. Tên con trai kia nhếch mép cười khẩy, nhấc ống điện thoại lên rồi đặt về vị trí cũ.
“Mụ tưởng tôi chưa làm thêm ở cửa hàng tiện lợi bao giờ à? Tại sao mụ đặt ống nghe xuống bàn? Định gọi cảnh sát đến làm gì?”
Thật là sai lầm. Lẽ ra, bà nên ấn nút “Khẩn cấp” trên máy tính tiền chứ không nên đặt ống nghe xuống như vậy. Tên kia cười cợt rồi hét lên với đám còn lại.
“Này! Mau rút thôi. Nhớ mang theo máy ghi hình CCTV. Và tiền nữa!”
Bà Yeom cảm thấy ớn lạnh sau sống lưng và không thể cử động được. Hai tên con trai trong tình trạng kích động cực độ, vừa gào thét vừa bắt đầu hành động, hai cô gái kia thì dồn về phía máy tính tiền. Bà Yeom không biết phải làm thế nào, đứng run rẩy.
Leng keng~ Ngay lúc đó, tiếng chuông cửa vang lên và một ai đó bước vào.
“Này... Lũ mất dạy kia!”
Một giọng nói vang lên như sấm. Trong tích tắc, ánh mắt của cả bốn người kia đều hướng về phía cửa. Bà Yeom cũng ngẩng đầu lên nhìn, hóa ra là Dok-go. Đúng là Dok-go rồi.
“Chúng mày... làm trò gì với người lớn tuổi vậy hả!”
Giọng Dok-go sang sảng không hề giống với người đàn ông vô gia cư lúc nào cũng lù khù và chậm chạp như một con gấu to xác nhưng ốm yếu nữa. Nhìn thấy Dok-go, bà Yeom reo lên như thể đội quân cứu trợ đã đến nơi. Nhưng trong mắt đám lưu manh kia thì Dok-go không có vẻ gì là đáng bận tâm cho lắm.
“Gì vậy? Cục xương chó này! Ôi, mùi quá.”
“Một tên vô gia cư thôi mà. Mẹ kiếp, số đen vãi.”
Hai tên con trai cùng lúc lao về phía Dok-go. Dok-go dùng thân để đối phó với bọn chúng. Nói cụ thể hơn thì anh ta lấy thân mình chặn cửa và chịu đựng mọi sự tấn công của hai kẻ kia. Thấy Dok-go kiên định chỉ phòng ngự, bọn chúng càng ra sức đấm đá mạnh hơn. Một lát sau, Dok-go cuộn tròn người như quả bóng co ro bất động trước cửa ra vào.
Tiếng còi xe cảnh sát vang lên khi màn chửi bới và đánh đập vẫn đang diễn ra. Hai cô gái nhận ra trước, vẻ hốt hoảng lộ rõ trên mặt. Chúng cố đẩy Dok-go ra để chạy trốn nhưng bất lực, anh ta bám trụ trước cửa như một chướng ngại vật khổng lồ khiến chúng chỉ biết chửi bới.
“Mẹ kiếp, tránh ra! Tránh ra ngay!! Đồ hôi thối này!!!”
Chỉ đến khi hai người đàn ông mặc đồng phục xuất hiện, chúng mới chịu dừng lại. Lúc đó bà Yeom mới lấy lại được bình tĩnh. Dok-go từ từ đứng dậy, mở cửa cho cảnh sát vào, tấm lưng của anh ta trông to lớn và đáng tin cậy vô cùng. Dok-go quay ra nhìn bà Yeom và nở một nụ cười nhăn nhúm. Lần đầu tiên nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt của anh ấy. Tuy máu vẫn đang chảy ròng ròng từ khóe mắt, Dok-go vẫn không hề bận tâm, anh cười để trấn an bà Yeom.
Trong số những phụ huynh được gọi tới đồn cảnh sát, một người đàn ông trung niên đề nghị bồi thường bằng tiền cho Dok-go khi thấy khuôn mặt sưng húp của anh. Thật bất ngờ, thay vì nhận tiền, Dok-go đã yêu cầu một thứ khác. Anh ta tiến gần lại chỗ đám thanh niên vẫn còn nồng nặc mùi rượu kia đang ngồi và bảo chúng giơ hai tay lên. Ban đầu, chúng vẫn còn do dự, nhưng khi người đàn ông trung niên kia vừa quát to một tiếng thì ngay lập tức chúng ngoan ngoãn giơ hai tay lên cao như đám học sinh tiểu học bị phạt.
Mọi việc ở đồn cảnh sát Nam Dae Mun được giải quyết xong bà Yeom và Dok-go đi bộ ra chợ đêm Nam Dae Mun. Hai người đi qua vài tiểu thương đang chuẩn bị mở hàng hướng về phía quán canh giải rượu. Dok-go húp vội vàng bát canh vẫn còn nóng hôi hổi, trên mặt vẫn còn dán băng keo, còn bà Yeom thì chỉ cầm đũa cho có, nhìn anh ta với vẻ mặt đầy sự thương cảm và lo lắng.
“Cậu có biết bọn trẻ thời nay đáng sợ thế nào không? Sao cậu dám đối đầu với chúng như vậy?”
“Tôi... đã nói rồi mà... tôi có thể đối phó được hai tên.”
Dok-go vừa nói, tay vừa mân mê miếng băng keo như thể nó là chiếc huy chương danh giá. Bà Yeom định nói thêm điều gì đó nhưng chợt nhớ ra rằng bà mới chính là người đã liều lĩnh xông vào đám trẻ kia. Bà nhìn Dok-go, gượng cười.
“Cảm ơn cậu.”
“Thế... đủ tiền cơm chưa?”
“Đương nhiên rồi. Nhưng sao cậu lại đến đúng vào lúc đó?”
“Nghe nói... bà... phải trông cửa hàng vào ban đêm. Tôi không ngủ được... lại lo nữa... nên đến thử.”
“Chà chà. Tôi còn lo cho cậu hơn.”
Dok-go gãi gãi đầu, tỏ vẻ ngại ngùng rồi lại tiếp tục ăn.
“Thấy cậu đứng ra hiên ngang lắm nên tôi tưởng cậu cũng giỏi đánh đấm thế nào. Ai ngờ lại chỉ đứng yên chịu trận. Thật may vì lúc đó xe cảnh sát đi tuần tra qua, chứ không thì cậu đã bị thương nặng rồi.”
“Cảnh sát... là do tôi gọi đến đấy.”
“Cái gì?”
“Ở... gần đó... có bốt điện thoại công cộng. Tôi thấy chúng gây chuyện... nên báo cảnh sát rồi mới đến... Nếu vậy thì... chỉ cần chịu để chúng đánh một tí... là cảnh sát sẽ đến cứu...”
Bà Yeom ngạc nhiên tới mức há hốc miệng. Hóa ra Dok-go không chỉ tốt bụng mà còn rất nhanh trí nữa. Và trên tất cả, vì bà mà Dok-go đã cất công tới cửa hàng xem xét rồi bị đánh thay bà. Ngay lập tức, sự biết ơn và xúc động dâng trào trong lòng bà Yeom. Dok-go thì vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, vừa gãi gãi đầu vừa ăn.
“Tôi gọi cho cậu một chai soju nhé?”
Đôi mắt ti hí của Dok-go bỗng mở to.
“... Thật không?”
“Nhưng đây sẽ là chai rượu cuối cùng đấy. Cậu hãy đến cửa hàng tôi làm việc, với điều kiện là phải bỏ rượu.”
Dok-go nghiêng nghiêng đầu, khó hiểu.
“Tôi... á?”
“Cậu Dok-go sẽ làm được. Trời sắp lạnh hơn rồi, cậu vừa được ở trong cửa hàng ấm áp, vừa kiếm được tiền, vậy không phải tốt sao?”
Bà Yeom nhìn thẳng vào mắt Dok-go để chờ đợi câu trả lời. Dok-go lảng tránh ánh mắt của bà, ra vẻ khó xử, gò má giật giật liên hồi, anh ta liếc đôi mắt nhỏ nhìn bà.
“Tại sao... bà lại đối xử tốt với tôi vậy?”
“Cũng như cậu Dok-go đối tốt với tôi thôi. Hơn nữa, ở cửa hàng vào ban đêm rất mệt mỏi và đáng sợ. Nên cậu phải làm giúp tôi.”
“Bà... không biết... tôi... là ai... mà.”
“Sao không biết? Cậu là người giúp đỡ tôi.”
“Tôi còn không biết rõ về tôi... Bà có thể tin tôi sao?”
“Để đủ tuổi về hưu với tư cách là một giáo viên trường phổ thông, tôi đã gặp vô số học sinh. Tôi biết cách nhìn người. Chỉ cần bỏ rượu thôi, cậu sẽ làm tốt.”
Dok-go vuốt râu rồi lại đưa tay vần vò môi một hồi lâu. Tuy bà Yeom đưa ra lời đề nghị này rất đột ngột nhưng nếu bị từ chối, chắc bà cũng không được thoải mái cho lắm. Bà rất muốn bảo Dok-go ngưng sờ râu và cho bà câu trả lời ngay đi.
Đúng lúc đó, như thể đã đưa ra quyết định, Dok-go nhìn bà Yeom.
“Vậy... thêm một chai nữa... Nếu chỉ uống một chai rồi phải bỏ… thì thật là không cam lòng...”
“Vậy cũng được. Ăn cơm xong tôi sẽ ứng tiền lương trước, cậu hãy đến phòng tắm hơi tắm rửa sạch sẽ, cắt tóc và mua cả quần áo nữa nhé. Rồi buổi tối hãy đến cửa hàng.”
“... Cảm ơn bà.”
Bà Yeom gọi hai chai soju. Bà mở nắp một chai, tự tay rót rượu cho Dok-go. Rồi bà tự rót cho mình một chén.
Hợp đồng lao động giữa hai người đã được kí kết thành công bằng một lần nâng ly.