Công Dụng Của Kimbap Hình Tam Giác
Đối với bà Oh Seon-sook, có ba người đàn ông mà bà không bao giờ hiểu được.
Người thứ nhất chính là chồng bà. Tuy đã sống cùng hơn 30 năm, nhưng bà vẫn không thể đoán trước được gì về ngày mai của người đàn ông này. Như khi ông ấy bất ngờ rời bỏ vị trí trưởng phòng của một công ty cỡ vừa với thu nhập ổn định, hay khi ông ấy bỏ nhà đi, mặc kệ cửa hàng mới hoạt động được vài năm sau bao khó khăn mới gầy dựng xong, mọi chuyện đều diễn ra vô cùng đột ngột. Chồng bà Oh là một người cố chấp và không bao giờ chịu tiếp thu hay lắng nghe người khác. Mấy năm trước, ông ấy quay về nhà với cơ số bệnh trên người, dù gặng hỏi thế nào thì ông ấy cũng không nói xem tại sao bản thân lại chỉ sống theo ý mình như vậy. Bà Oh đương nhiên không thể quên được điều đó, ngày nào bà cũng hỏi đi hỏi lại như thể trừng phạt chồng. Cuối cùng không hiểu vì không muốn trả lời bà Oh hay vì lý do gì mà ông ấy lại bỏ nhà đi. Thế là bà Oh không những không nhận được câu trả lời mà còn vĩnh viễn không còn cơ hội để hiểu, và cũng không cần phải cố hiểu người chồng mà bây giờ bà còn không biết sống chết ra sao.
Người thứ hai là cậu con trai. Vì có mỗi cậu con trai, lại nuôi con một mình, nên bà Oh đã dành tất cả những điều tốt đẹp cho anh ta, vậy mà “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, càng lớn anh ta càng bộc lộ những thứ bà Oh không thể hiểu được, giống hệt như người chồng trước kia. Cho đến khi anh ta tốt nghiệp đại học và xin được việc làm tại một tập đoàn lớn thì bà Oh vẫn thấy bõ công sức nuôi dạy vất vả. Thế nhưng chỉ một năm hai tháng sau, khi anh ta xin nghỉ tại công ty mà bao người mơ ước đó, thì bà Oh đã bắt đầu cảm thấy bất an, và rồi linh cảm đó đã trở thành sự thật. Sau khi nướng hết số tiền đã kiếm được vào cổ phiếu, anh ta lại thường xuyên tụ tập với đám bạn vô công rồi nghề quen được ở một trung tâm đào tạo nào đó, nơi anh ta huyễn hoặc về mơ ước “trời ơi đất hỡi” của mình là trở thành một đạo diễn phim. Anh ta còn vay nợ để làm một việc hết sức hoang đường đó là sản xuất phim độc lập, nhưng rồi, đến độc lập của bản thân cũng không giữ được khi dự án thất bại giữa chừng, anh ta rơi vào trầm cảm và phải nhập viện.
Bà Oh thật sự không thể hiểu được con trai mình, anh ta đã từ bỏ tương lai rộng mở bao người ngưỡng mộ để lao vào những công việc vô cùng nguy hiểm mà không có sự đảm bảo gì như cổ phiếu, sản xuất phim ảnh. Sau bao lần kêu van khẩn thiết của bà Oh, anh ta mới chịu từ bỏ những việc vô bổ kia và quyết tâm ôn luyện để chuẩn bị cho kì thi công chức của bộ ngoại giao. Tuy vậy, mặt mũi anh ta lúc nào cũng ủ rũ, tối tăm nên không biết bao giờ chứng trầm cảm lại tái phát. Mỗi lúc như vậy, bà Oh chỉ biết nghĩ thầm trong bụng. “Thằng ranh, thử ra ngoài kia bê bao xi măng dưới trời nắng như đổ lửa thế này xem, liệu còn lúc nào mà trầm cảm nữa không!”
Chỉ với ông chồng và cậu con trai “khó hiểu”, cuộc đời bà Oh đã đủ phiền toái lắm rồi, vậy mà mới đây thôi, lại xuất hiện thêm một nhân vật chẳng khác gì một dấu hỏi chấm to đùng với đầy rẫy các vấn đề. Đó chính là Dok-go, “con gấu khờ khạo” mới đến làm ca đêm tại cửa hàng từ một tháng trước. Sau khi biết Dok-go từng là người vô gia cư, bà rất sợ hãi nhưng vì không thể để bà chủ trông cửa hàng vào ca đêm, mà bản thân cũng không thể làm thay được, nên bà đành phải chấp nhận. Tình hình khi đó khó khăn đến nỗi dẫu có phải thuê cả chuột hamster để duy trì cửa hàng thì cũng không ai dám phản đối.
Thật may mắn là “con gấu” kia chưa gây ra vấn đề gì to tát, anh ta vẫn đang làm tốt công việc vào ca đêm của mình. Anh ta cũng không đến nỗi nặng mùi như bà Oh từng nghĩ, trang phục cũng không quá luộm thuộm. Bà chủ có vẻ rất tự hào vì nhờ có số tiền lương được ứng trước mà anh ta đã có thể thuê phòng mua quần áo, cắt tóc... để biến thành một người hoàn toàn khác. Thật là cao đẹp biết bao. Nhưng khác với bà chủ, người luôn được coi là biểu tượng của sự tích cực và đồng thời cũng là một người cả đời đã gắn bó với nghề giáo, không bao giờ nề hà với cả những học sinh dù là bất trị nhất, bà Oh có một quan điểm vô cùng đơn giản và rõ ràng. Đó chính là: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, hay nói theo từ dân dã thì “giẻ lau giặt sạch đến mấy cũng không thể lau mặt”. Trong quá khứ, bà Oh đã từng là chủ quán ăn lưu động nên bà đã có dịp tiếp xúc với rất nhiều loại người cũng như phải đối phó với rất nhiều khách hàng khó chịu. Có cậu sinh viên làm thêm đã lấy toàn bộ tiền mặt ở quầy thanh toán rồi bỏ trốn, nhưng rồi sau đó cũng phải tái ngộ bà Oh ở đồn cảnh sát cùng với bố mẹ cậu ta, hay ông khách quen trạc sáu mươi tuổi, uống say rồi đập phá bát đĩa, sau đó năn nỉ xin lỗi bà Oh đến khi được tha thứ thì lại đi khắp nơi nói xấu bà. Chính vì thế mà bà Oh đã chọn tin tưởng loài chó hơn là tin vào con người. Chỉ có Yepi và Kamiya, hai chú chó bà đang nuôi mới trung thành và tận tụy với bà mà thôi.
Vì thế, đối với bà Oh, “con gấu” có xuất thân là một kẻ vô gia cư kia dù có thức trắng hai mươi đêm ở cửa hàng và ăn bao nhiêu giăm bông tỏi, uống bao nhiêu nước ngải cứu đi nữa thì cũng không bao giờ có thể trở thành người được. Bà không tin một người có đôi mắt ti hí lúc nào cũng như đang nửa nhắm nửa mở, hành động thì chậm chạp, lề mề và khả năng thích nghi với xã hội kém tới mức dù khách hàng hay bà đến cửa hàng cũng không biết chào hỏi đúng lúc như Dok-go lại có thể dễ dàng thay đổi.
Và rồi, những việc khó hiểu lại bắt đầu xảy ra. “Con gấu” kia không chỉ biến thành người mà còn trở thành một người rất ổn trong vòng chưa đầy một tuần. Chỉ cần ba ngày, anh ta đã thành thục công việc của cửa hàng và ba ngày sau đó nữa, hành động đã trở nên nhanh nhẹn và hoạt bát hơn rất nhiều, giờ chỉ cần chạm ánh mắt với khách hàng hay bà Oh thôi là anh ta đã cúi rạp người chào. Chưa nói đến việc chào hỏi, sao một người còn không dám nhìn thẳng vào mắt người đối diện như anh ta lại có thể thích nghi nhanh đến vậy? Đó là điều bí ẩn mà bà Oh không thể hiểu được.
Tiếp theo chồng và con trai, Dok-go là người đàn ông thứ ba mà bà Oh không thể hiểu được, nhưng nếu bà không hiểu vì sao hai người kia mãi không thay đổi để chấm dứt chuỗi thất vọng cho bà thì Dok-go lại khác, anh ấy thay đổi tới mức gần như lột xác. Sự giúp đỡ nhỏ của bà chủ có thể tạo ra sự thay đổi lớn đến vậy sao? Không hiểu quá khứ của người vô gia cư Dok-go kia đã hoành tráng tới mức nào mà giờ anh ta có thể thay đổi nhanh và tích cực đến vậy. Dù rất tò mò nhưng ngay cả bà chủ và Si-hyun cũng không thể điều tra thêm được gì. Chỉ biết rằng vì rượu mà anh ta đã mất đi rất nhiều kí ức trước kia và giờ mọi người đều gọi anh ta là “Dok-go”, một cái tên mơ hồ, không rõ là tên hay họ.
“Cậu cố nhớ lại xem. Giờ cậu có vẻ tỉnh táo hơn nhiều rồi mà.”
“Tôi không biết. Nghĩ nhiều... đau đầu lắm.”
Dok-go vò đầu bứt tai mỗi khi bà Oh hỏi, những lúc như vậy bà thấy bức bối vô cùng. Bà thấy lạ vì dường như Dok-go cũng không mấy mặn mà tìm hiểu về quá khứ của chính mình. Nếu là người bình thường anh ta sẽ muốn biết về công việc, gia đình và con người thật của mình mới đúng chứ. Xét về phương diện đó, bà Oh vẫn không thể hiểu được Dok-go nên đối với bà, anh ta vẫn chỉ là “con gấu”, mà gấu thì không cùng loài với Yepi và Kamiya nên rốt cuộc thì anh ta vẫn không đáng tin tưởng.
Vì không thể hiểu, cũng không thể tin tưởng nên bà Oh đối xử rất lạnh nhạt với Dok-go. Nhưng bà chủ thì có vẻ coi Dok-go như cậu em út, còn Si-hyun thì nói chuyện với anh ta khá cởi mở. Lần nào cũng vậy, mỗi lần bà Oh hỏi Si-hyun về Dok-go, câu trả lời duy nhất bà nhận được là “vô cùng bình thường”. Thêm vào đó, dù Si-hyun không biết gì về Dok-go trước khi anh ấy trở thành người vô gia cư, nhưng dựa trên tình hình hiện tại, cô ấy đoán chắc chắn rằng Dok-go không phải là một người tầm thường.
“Con gấu khờ khạo đó thì làm được công trạng gì chứ? Nói chuyện có vài câu thôi đã thấy bực mình lắm rồi!”
“Tật nói lắp của chú ấy cũng đỡ nhiều rồi mà. Cháu đã từng nghe ở đâu đó, nếu không nói trong một thời gian dài thì dây thanh đới bị khô lại, gây ra tật nói lắp. Với cả cháu là người đã dạy việc cho chú ấy. Lúc đầu cũng tưởng vô vọng lắm nhưng chú ấy hiểu rất nhanh. Cháu đã mất bốn ngày để học việc ở đây, thế mà ngày một ngày hai chú Dok-go đã tự làm được rồi. Chú ấy còn thuộc tên các loại thuốc lá trong vòng có một ngày... Rõ ràng là khả năng tiếp thu và học tập rất tốt.”
“Loài chó chăn cừu cũng có khả năng tiếp thu nhanh.”
“Ôi, đẳng cấp khác nhau chứ ạ. Thỉnh thoảng cháu còn thấy chú ấy rất có khí chất của người lãnh đạo nữa. Ông khách siêu khó chịu còn phải sợ chú ấy cơ đấy. Có lẽ ít nhất chú ấy cũng đã từng là chủ một nhà hàng.”
“Haha, cùng lắm có vài tên đàn em, cùng phục vụ trong băng đảng nào chứ gì.”
“Thực ra cháu cũng từng nghĩ chú ấy thuộc thế giới đó, nhưng có lẽ không phải. Chú ấy không giống với người phạm tội chút nào cả.”
“Đúng vậy. Anh ta không ở nhà tù, mà lại ở ga Seoul, đó mới là vấn đề.”
“Chỉ là người vô gia cư chứ có phải làm điều gì xấu xa đâu ạ? Cô đừng đánh giá người khác với định kiến như vậy.”
“Si-hyun à, định kiến không phải lúc nào cũng xấu đâu. Sống ở xã hội này lúc nào cũng phải cẩn thận.”
Si-hyun tỏ vẻ bực bội nhưng bà Oh liếc xéo như thể ám chỉ cô ấy chỉ là đồ trẻ ranh, thích ra vẻ và kết thúc câu chuyện. Bà Oh cho rằng bà chủ đã quá cảm tính khi đối xử với cô nhân viên bán thời gian non nớt và những người khác nữa theo cách như vậy. Vì thế, bà càng quyết tâm bảo vệ cửa hàng bằng một thái độ nghiêm khắc hơn nữa.
Sáng nào cũng vậy, sau khi chuẩn bị bữa sáng cho cậu con trai một cách tươm tất, bà Oh sẽ có mặt ở cửa hàng vào trước tám giờ. Hôm nay khi bà đến, Dok-go đang ngủ gà ngủ gật ở sau quầy thu ngân thì giật mình tỉnh giấc rồi vội vã chào bà. Bà Oh cũng đáp lại qua quýt cho xong chuyện rồi đi vào nhà kho, thay đồng phục rồi bước ra. Dok-go vô ý vẫn ngồi ở quầy thanh toán. Mãi đến khi bà Oh lấy tay ra hiệu như đuổi ruồi thì anh ấy mới vừa ngáp vừa bước ra ngoài. Bà Oh đứng trước máy tính tiền, vừa kiểm tra thu chi, vừa hỏi.
“Có điều gì đặc biệt để bàn giao không?”
“Không…. có gì cả.”
“Cậu chắc chứ?”
Dok-go gãi gãi đầu, suy nghĩ một lát rồi trả lời.
“Trên đời này... không có điều gì là chắc chắn cả.”
“Cái quái gì vậy... Cậu ta tưởng mình tranh luận với cậu ta về đạo lý ở đời này sao...” Bà Oh nghĩ thầm, cười khẩy rồi kiểm tra nốt số tiền có ở quầy.
Một lát sau, hành động khó hiểu của Dok-go bắt đầu. Mặc dù ca làm việc của anh ấy đã kết thúc từ tám giờ, nhưng anh ấy vẫn đi đi lại lại xung quanh các kệ để sắp xếp lại hàng hóa cho đúng hàng đúng ô. Không biết anh ấy có bị mắc chứng tự kỉ ám thị hay không nhưng liên tục ba mươi phút liền, anh ấy dồn hết sức tập trung vào việc trưng bày sản phẩm, đến mức vã cả mồ hôi. Bà Oh thấy đôi chút hài lòng dù băn khoăn đằng nào thì sáng sớm cũng không có khách, sao anh ấy không làm luôn lúc đó để hết giờ thì về luôn mà cứ phải đợi đến lúc bà Oh nhận giao ca xong xuôi rồi mới đủng đỉnh sắp xếp lại kệ trưng bày? Vẫn chưa hết. Sắp xếp xong, anh ấy còn cầm dụng cụ lau dọn ra ngoài cửa hàng. Anh ấy lấy giẻ lau bàn ở bên ngoài và quét cả xung quanh cửa hàng nữa. Rồi sau đó, anh ấy mới ngồi ở ghế, nhìn ngắm người qua lại vội vã trên đường đi làm và ăn thức ăn sắp hết hạn mà cửa hàng hủy đi là bánh mì và sữa.
Bà Oh cho rằng Dok-go vẫn chưa bỏ hết được những thói quen từ thời còn là người vô gia cư, anh ấy không muốn quay về căn phòng bé xíu nên mới vậy. Bà chẳng thèm bận tâm đến Dok-go, chỉ chăm chú vào công việc của mình rồi đến lúc ngó ra thì anh ấy đã biến mất từ lúc nào, một ngày của bà luôn bắt đầu nhàm chán như vậy.
Đa phần khách đến cửa hàng tiện lợi đều không biết rằng nhân viên cửa hàng đang quan sát họ từ quầy thanh toán. Số khách lấy trộm đồ cũng nhiều hơn con số mà mọi người có thể tưởng tượng ra được. Có người thì tính toán kĩ càng, người lại hành động liều lĩnh. Đặc biệt, khi trong cửa hàng chỉ thấy có một bà cô to béo và chậm chạp như bà Oh thì kẻ xấu lại thường chủ quan hơn. Bà Oh đã có kinh nghiệm lâu năm trong ngành dịch vụ nên nắm bắt khách hàng rất giỏi, như cậu bé vừa mới bước vào đây thôi, rõ ràng cậu ta đã “lên kế hoạch” để lấy trộm hai chiếc kimbap hình tam giác. Vì đang là kì nghỉ nên chỉ có một vài học sinh trung học ghé qua cửa hàng vào buổi sáng, nhưng cậu bé này trông không có vẻ như là một đứa trẻ đang được hưởng kì nghỉ. Cậu bé khoảng chừng mười lăm tuổi, cao ngang tầm với bà Oh. Khuôn mặt sạm đen và bộ quần áo nhếch nhác khiến bà liên tưởng đến đám thanh thiếu niên bất hảo hay lang thang quanh khu Wonhyo và các con phố bán đồ điện tử.
Cậu bé vừa đi qua đi lại giữa những kệ hàng vừa lén quan sát bà Oh, vừa thấy bà sơ hở, cậu liền nhanh tay giấu hai chiếc kimbap tam giác vào bên trong áo khoác. Sau đó, cậu ta cố nán lại một lát rồi mới đi đến bàn thanh toán. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó thôi, trong đầu bà Oh đã nảy ra vô vàn suy nghĩ, không biết nên làm gì với cậu bé này. Lo sợ trong người cậu ta có giấu sẵn dao nên bà không định đối đầu với những thành phần bất hảo như thế này chỉ vì hai cái kimbap, nhưng tính khí khắt khe, không muốn bị ai đối xử tùy tiện đã chiến thắng nỗi sợ hãi đó.
“Ở đây không có jjamong ạ?”
“Jjamong là cái gì? Không có đâu.”
Cậu bé không đợi bà Oh nói hết câu đã vội vã quay người bước đi nhưng bà Oh đã kịp tóm lấy cánh tay cậu ta. Như thể bị đánh lén, cậu ta hoảng hốt quay người lại rồi dùng hết sức để giật tay lại.
“Trả lại đây. Đồ ăn trộm.”
Bà Oh trợn mắt, nhìn thẳng vào cậu bé. Cậu ta cứng đơ người, ngơ ngác không biết phải làm thế nào.
“Thằng nhóc này, có biết ta là ai không hả. Mau trả lại đây!”
“Xì... Mẹ kiếp...”
Cậu ta vừa chửi thề vừa thọc tay còn lại vào trong áo. Bà Oh hốt hoảng sợ cậu ta rút dao ra nhưng đồng thời lại càng dồn sức để giữ chặt cánh tay kia hơn.
Cậu ta lôi kimbap tam giác ra và ném xuống bàn thanh toán. Nhưng chỉ có mỗi một cái. Bà Oh hất cằm, ra vẻ rất quyết liệt.
“Lôi ra hết đi. Trước khi bị đưa vào đồn cảnh sát. Nhanh lên!”
Bà Oh hạ thấp giọng nói một cách dứt khoát như lúc phạt chú cún cưng.
Ngay lúc đó. Cậu bé thò tay vào trong áo khoác rồi lôi nốt chiếc kimbap tam giác còn lại ra, bất ngờ ném thẳng vào mặt bà Oh. Bộp! Chiếc kimbap bay thẳng vào giữa hai lông mày của bà Oh. Bà thấy trước mắt tối sầm lại, loạng choạng nên để tuột mất cánh tay cậu bé kia.
Cậu ta hét lên “Mẹ kiếp!” rồi bỏ mặc bà Oh đang ôm mặt ở đó, định chạy ra khỏi cửa hàng thì từ bên ngoài, có bóng dáng ai đó to như con gấu đang chặn ở cánh cửa kính. Chính là Dok-go.
“Này, ‘jjamong’!”
Dok-go mở cửa bước vào, mỉm cười với cậu bé. Cậu ta bối rối, bước giật lùi về phía sau. Dok-go nhẹ nhàng lại gần rồi khoác tay lên vai cậu bé, gọn gàng như thể đang thu dọn một món đồ đã được gửi từ trước. Cậu ta im bặt, bị Dok-go lôi đến bàn thanh toán, nơi bà Oh đang đứng. Mãi lúc đó bà Oh mới lấy lại bình tĩnh, bước ra trước quầy.
“Thằng nhóc này... quên... không thanh toán gì đúng không?”
“Quên gì cơ chứ! Cậu mau đưa nó đến đồn cảnh sát đi. Nhanh lên!”
Bà Oh quát to như cố tình để cho cậu bé đang cúi gằm mặt kia nghe thấy. Nhưng Dok-go chỉ nghiêng nghiêng đầu, cánh tay vẫn giữ chặt để cậu bé kia không thể cử động. Bà Oh rất tức giận, hỏi như quát vào mặt Dok-go.
“Sao? Cậu quen nó à?”
“Nó là ‘jjamong’... Vì lúc nào nó cũng hỏi ‘jjamong’, thứ mà cửa hàng không bán... Nó hay đến vào ca làm của tôi... vậy mà hôm nay lại đến muộn thế này. ‘Jjamong’... hôm nay ‘đồng hồ bao tử’... bị hỏng à? Hay là... ngủ dậy muộn?”
Dok-go hỏi như thể nói chuyện với bạn, còn cậu bé thì nhất quyết không chịu mở miệng, mắt nhìn về phía khác. Thế là thế nào? Vậy mỗi lần Dok-go ở cửa hàng là thằng nhóc này lại đến lấy trộm kimbap tam giác sao? Không có lý nào. Vì doanh thu hằng ngày đều rất chính xác. Nếu vậy thì “con gấu” kia đã bỏ qua cho thằng nhóc này hay sao? Ngay lập tức, sự cảm kích của bà Oh dành cho Dok-go khi anh ấy bất ngờ xuất hiện và giúp bà bắt giữ cậu bé kia biến mất, cơn thịnh nộ cuộn trào dữ dội.
“Thời gian qua nó đã đến đây trộm đồ phải không? Cậu nói thật đi!”
“Làm gì có.”
“Chắc chắn có. Lúc nãy nó không thanh toán mà bỏ trốn đấy. Còn dám ném kimbap vào mặt tôi nữa.”
Nghe vậy, Dok-go quay sang bên, dựng cậu bé kia đứng thẳng lên. Anh ấy hướng mắt xuống nhìn kimbap tam giác bị nát tươm ở dưới sàn, bên cạnh bà Oh rồi cúi xuống nhặt nó lên.
“Đúng thế không?”
“... Đúng thì sao.”
“Thế thì... không được.”
“Ai chẳng biết thế.”
Bà Oh càng cảm thấy giận hơn nữa khi nghe cuộc đối thoại vô cùng điềm tĩnh giữa hai người. Người bị hại là bà cơ mà, hai người họ đứng phân bua với nhau vậy để làm gì?
Bất chợt, Dok-go đưa kimbap hình tam giác về phía bà Oh. Ý gì vậy nhỉ?
“Tính tiền cho tôi.”
Bà Oh cười khẩy. Nhưng thấy mặt Dok-go có vẻ rất cương quyết với cánh tay cứ đưa ra như vậy, không hiểu sao bà thấy rất căng thẳng. Tuy vẫn còn chút lưỡng lự, nhưng rồi bà cũng lấy máy để quét barcode của hai chiếc kimbap đó. Dok-go thò tay vào trong túi, lôi ra tờ năm nghìn won nhàu nhĩ rồi đưa cho bà Oh. Bà Oh thận trọng nhận lấy tiền như thể cầm một con côn trùng đáng sợ rồi bỏ vào ngăn kéo và trả lại tiền thừa.
Trong khi đó, tay Dok-go vẫn cầm chiếc kimbap tam giác và giơ ra trước mặt bà Oh.
“Tránh ra đi.”
“Vẫn chưa... tính toán xong mà... Bà ném cái này đi.”
Dok-go hất cằm về phía cậu bé kia. Sao cậu ta có thể bảo mình hành động giống với thằng nhóc kia cơ chứ? Thật nực cười! Bà Oh không thể lý giải được sự nghiêm túc trên khuôn mặt Dok-go, lại càng không thể thốt nên lời khi thấy vẻ ủ rũ như cỏ héo của cậu bé đang đứng phía sau kia, trông cậu ta chẳng khác gì tử tù đang chờ bị hành quyết.
“Nhanh lên.”
Dok-go lại giục. Bà Oh lấy lại tỉnh táo, bà không thể để mọi việc diễn ra theo chiều hướng Dok-go đang muốn được.
“Cậu tránh ra đi. Cậu nghĩ tôi sẽ ném kimbap như thằng nhóc kia sao? Hai người hãy chia nhau ăn đi, hay nếu muốn vứt đi thì tùy!”
Bà Oh hét vào mặt Dok-go. Thấy vậy, anh ấy chỉ cười rồi nắm lấy vai cậu bé kia và hướng nó về phía bà Oh.
“Bà... đã tha thứ rồi. Tuy hơi muộn... nhưng hãy xin lỗi đi.”
Cậu bé vốn đang cúi đầu, lại càng cúi rạp hơn nữa, thấp tới mức bà Oh nhìn thấy cả hai xoáy trên đỉnh đầu cậu ta.
“Cháu xin lỗi.”
Cậu bé nói lí nhí. Bà Oh phẩy phẩy tay như thể không muốn nhìn thấy hai người kia nữa. Dok-go vòng tay qua vai cậu bé, hai người rời khỏi cửa hàng như bố và con trai. Họ đi ra chiếc bàn nhựa ở ngoài trời và vui vẻ cùng nhau bóc kimbap hình tam giác.
Bà Oh lặng người quan sát, bà thấy họ cùng ăn và cười với nhau. Chuyện gì vừa mới xảy ra vậy nhỉ? “Có một thằng bé lấy trộm đồ và mình đã bị nó tấn công khi cố ngăn cản. Rồi Dok-go xuất hiện và bắt được thằng bé đó, anh ta trả tiền cho món đồ nó đã lấy còn mình thì đã nhận lời xin lỗi của nó.”
Người bị hại là bà, bà bị mất trộm và còn bị ném kimbap vào mặt. Nhưng Dok-go đã giải quyết sự việc quá nhanh, khiến bà còn chưa kịp tức giận. Bình thường trong những trường hợp này, chắc hẳn bà Oh đã phàn nàn, kể lể và thậm chí là trút giận ra xung quanh, kì lạ thay, hôm nay, cơn giận của bà đã tan biến rất nhanh, bà cũng không nghĩ ra điều gì khác để nói.
Bà lặng lẽ nhìn Dok-go và “Jjamong”, họ như hai cha con nghèo khổ đang ăn bữa sáng bằng kimbap tam giác. Tâm trạng của bà khi đó thật khó tả. Rất hiếm khi bà cảm nhận được sự bình yên và lòng vị tha một cách rõ rệt đến thế. Bất chợt, bà thấy thật thú vị khi bản thân mình cũng chiếm một cạnh của hình tam giác trong vụ náo loạn kì lạ vừa xảy ra, đến mức tự hỏi liệu có nên nhập cuộc với hai người kia bằng một chiếc kimbap tam giác hay không.
Dok-go chắc hẳn đã giúp đỡ cậu bé Jjamong kia trong một khoảng thời gian rồi. Có lẽ vì thế mà tên nhóc bất hảo đó mới răm rắp nghe lời đến vậy... Bà Oh không hài lòng cho lắm, nhưng một sự thay đổi mới mẻ đang diễn ra với bà, một người chưa bao giờ biết quan tâm đến người khác.
Nói một cách ngắn gọn thì bà thấy tâm trạng vui vẻ hơn nhiều.
Từ đó trở đi, bà Oh không còn thấy khó hiểu và ngột ngạt mỗi khi gặp Dok-go nữa, bà cảm thấy đáng tin một cách lạ thường. Không chỉ có bà Oh mà không khí vào buổi sáng ở cửa hàng cũng khác đi từng ngày, như hướng ánh mặt trời thay đổi từng chút một.
Những cụ già ở khu phố trước đây thường chỉ đến cửa hàng tạp hóa hoặc các siêu thị to vì chê cửa hàng tiện lợi đắt đỏ, thì nay lại cùng nhau ghé qua, trò chuyện như thể sang chơi với hàng xóm. Các bà sẽ tìm xem Dok-go đang dọn dẹp ở chỗ nào để túm tụm lại hỏi anh ấy cái này cái kia, rồi Dok-go sẽ dắt mọi người đi khắp các kệ hàng để giới thiệu những sản phẩm “Mua hai tặng một” hoặc “Mua một tặng một”.
“Nếu bà mua... cái này với cái này... thì bà sẽ mua được với giá rất rẻ.”
“Đúng thế, mua thế này thì rẻ hơn cả siêu thị lớn rồi.”
“Tôi đã bảo cửa hàng tiện lợi không phải lúc nào cũng đắt mà. Thật tốt vì có cậu này chỉ cho.”
“Mắt mình không đọc được mấy cái chữ này. Làm sao mà biết được là mua một được tặng một, liệu có tin được không?”
Dok-go xách giỏ hàng các cụ đã chọn đến quầy thanh toán và đặt trước bà Oh rồi nhe răng cười. Điệu bộ của anh ấy khiến bà Oh liên tưởng tới con chó Golden Retriever vừa tha quả bóng đến và đang đợi để được thưởng. Nhưng sau khi bà Oh thanh toán xong anh ấy lại cầm giỏ hàng đầy ắp đó rồi ra khỏi cửa hàng cùng các bà cụ kia. Mãi sau khi Dok-go mang giỏ về, bà Oh hỏi ra thì mới biết rằng anh ấy sợ các cụ phải xách nặng nên đã xách hộ về tận nhà. Cửa hàng tiện lợi chứ có phải hệ thống siêu thị phân phối lớn đâu cơ chứ? Bà Oh chẳng nói được gì thêm nữa, nhưng kể từ đó, nhờ “dịch vụ giao hàng đặc biệt dành cho người cao tuổi” của Dok-go mà bà bắt đầu có khách quen là các cụ già, và quan trọng hơn cả là doanh thu của cửa hàng vào buổi sáng cũng tăng lên đáng kể. Kì nghỉ vừa mới bắt đầu, các bà lại dắt theo cháu trai, cháu gái bên cạnh như thể chiếc giỏ đi chợ, mà bọn trẻ thì có biệt tài khiến cho người lớn phải “móc hầu bao” mỗi khi đi ngang qua góc đồ ăn uống.
“Doanh thu buổi sáng đang tăng dần. Sao lại thế nhỉ?”
Thấy bà chủ nói vậy, bà Oh ra sức kể lể rằng mình đã vất vả bán hàng như thế nào vào buổi sáng. Bà giấu nhẹm việc Dok-go đã “lôi kéo” thành công các bà nội trợ và đám cháu nhỏ của họ để nhận hết công trạng về cho mình. Đương nhiên, vì vẫn còn lương tâm nên giờ mỗi khi thấy Dok-go, bà luôn là người bắt chuyện trước và cư xử cũng thân thiện hơn nhiều.
“Dạo này cậu vẫn cho thằng nhóc đó kimbap tam giác à? Khi tôi ở cửa hàng, không thấy nó bén mảng đến nữa.”
“Không... đến nữa đâu. Nó bảo đã quay về nhà rồi.”
“Cậu tin sao? Nghe nói dạo này bọn trẻ bỏ nhà đi hay thuê trọ cùng nhau ở những khu tầng bán hầm ấy.”
“Tôi đến rồi... nhưng không có.”
“Đến đâu cơ?”
“Khu trọ tầng bán hầm... Chỗ Jjamong với bọn trẻ cùng sống.”
“Hả? Cậu đến đó làm gì?”
“Tôi thấy lo... Nhưng người ta bảo... chúng trả phòng và biến mất cả rồi.”
“Dok-go này. Cậu lo lắng cho bọn trẻ cũng tốt, nhưng cậu cũng nên tìm cái nhà nào tử tế hơn cho mình đi chứ.”
“Tôi... không cần nhà. Thế nên... người ta mới gọi tôi là ‘vô gia cư’ mà.”
“Giờ không phải nữa rồi. Cậu có công ăn việc làm hẳn hoi rồi đấy thôi.”
“Không ổn... chút nào.”
“Có gì không ổn cơ chứ?”
“Mọi thứ... đều không ổn...”
“Cậu còn khiêm tốn nữa... Chắc cậu cũng biết, tôi xin lỗi vì thời gian qua đã hiểu nhầm cậu.”
“Tôi... không… tôi mới là người... đã hiểu nhầm... Xin lỗi...”
“Tóm lại là cậu nên chuyển đến một căn phòng rộng rãi hơn đi. Giấc ngủ là quan trọng lắm đấy.”
“Cảm ơn... bà đã quan tâm.”
Dok-go gật gật đầu như một con chó to đang răm rắp nghe lời chủ nhân, giờ làm việc đã kết thúc nhưng anh ấy vẫn ở cửa hàng. Trời đất ơi, làm gì có nhân viên bán thời gian nào tự nguyện làm thêm bốn tiếng cơ chứ? Bà Oh bắt đầu thấy tin tưởng Dok-go vì nhờ anh ấy mà doanh thu của cửa hàng được cải thiện, công việc của bà cũng suôn sẻ hơn. Có lẽ từ lúc đó, bà Oh đã nhìn nhận Dok-go như Yepi và Kamiya của bà.
Sắp đến cuối năm mà bà chủ lại thông báo rằng Si-hyun được một cửa hàng khác cùng thương hiệu ALWAYS mời về làm việc nên phải điều chỉnh lại thời gian làm. Lại còn thế nữa? Dok-go thì giao hàng miễn phí, Si-hyun thì được trải thảm đỏ rước đi, thật là những cô cậu nhân viên bán thời gian hiếm gặp trên đời. Bà Oh nghĩ rằng mình phải là người đóng vai trò chủ chốt tại cửa hàng nên đã vui vẻ nhận đề nghị tăng giờ làm của bà chủ. Vậy là ca làm của Si-hyun được chia cho Dok-go, bà chủ và cả bà nữa, thành ra bà sẽ làm nhiều hơn hai tiếng so với trước đây.
Bước sang năm mới, công việc thì nhiều hơn, bà Oh cố gắng để bản thân lúc nào cũng tràn đầy năng lượng, nhưng có lẽ vì tuổi tác mà bà xuống sức rất nhanh. Nhà cửa thì lúc nào cũng bộn bề vì bà về muộn hai tiếng, cậu con trai tự nấu mì ăn nhưng việc rửa bát đũa và dọn dẹp thì vẫn luôn là việc của bà Oh. Âm thanh ồn ào từ trò chơi trực tuyến vang lên trong phòng cậu ta khiến bà dù muốn cũng không thể tự lừa dối mình rằng vì bận học mà cậu ta mới ỷ lại hết cho bà được, nó chỉ khiến bà thấy thảm hại hơn mà thôi.
Thời gian bà vắng nhà càng lâu, thì cậu ta chỉ càng làm nhà cửa thêm rối tung lên thôi, chứ không giúp ích được gì cả. Bà cũng không mong cậu con trai sẽ báo hiếu hay giúp đỡ bà làm việc nhà. Chỉ cần cậu ta tự giúp bản thân mình thôi cũng đã tốt lắm rồi. Vậy mà năm mới đến, mẹ thì kiệt sức vì làm thêm, trong khi cậu con trai vẫn chỉ là một thằng bé to xác ba mươi tuổi. Có lẽ cậu ta thấy bất công vì đã không được chơi nhiều trong suốt những năm tháng là học sinh gương mẫu thời cấp hai, cấp ba, nên nay muốn trải nghiệm xem cuộc sống của một thiếu niên bất hảo là như thế nào. Ngay cả người ngoài cũng thấy bực bội và tức giận khi một thanh niên đã ba mươi tuổi, lại đang chuẩn bị cho kì thi công chức vào cơ quan chính phủ nhưng không khác gì một đứa học sinh trung học chỉ đắm chìm vào trò chơi bắn giết trong máy tính.
Không thể chịu đựng thêm nữa, tan làm về nhà, bà đã gõ cửa phòng cậu con trai, nhưng vì âm thanh ồn ào của trò chơi nên cậu ta toàn hoàn không nghe thấy. Bà kéo tay nắm cửa nhưng cửa bị khóa. Lúc đó, bà thấy tay nắm cửa cũng lạnh lẽo như bàn tay của cậu con trai chỉ tìm mẹ khi cần. Không thể kìm được cơn giận, bà đập như sắp phá tan cánh cửa.
“Con trai! Mở cửa ra!!! Mẹ cần nói chuyện!!!”
Mãi cho đến khi tiếng gõ cửa và tiếng la hét đủ sức át được tiếng ồn trong trò chơi thì người con trai mới mở cửa và nhìn bà với vẻ mặt cau có.
“Con biết mẹ định nói gì rồi. Nên mẹ không cần nói nữa đâu.”
Cậu con trai gắt gỏng với giọng điệu chẳng khác gì tiếng đạn bắn ra từ trò chơi ban nãy. Mặt anh ta bóng nhẫy, cái bụng phệ ngấn mỡ thì lòi hẳn ra ngoài cạp quần đùi. Giữa mùa đông thế này mà mặc quần đùi... Lý do đơn giản là vì anh ta không ló mặt ra ngoài, trong phòng thì bật sưởi hết cỡ. Bà Oh không thể tìm được bóng dáng của anh con trai vào ngày đầu tiên đi làm cho một tập đoàn nổi tiếng trong bộ vest màu xanh đen và mái tóc cắt gọn gàng nữa, giờ thì anh ta đã trở thành một kẻ thảm hại không bước ra khỏi phòng, chứ đừng nói đến nhà.
Mặc kệ bà Oh đứng nhìn với ánh mắt thất vọng tràn trề, ngay khi anh ta định bỏ vào phòng thì đã bị bà Oh tóm lấy, chặt đến mức móng tay bà như cắm vào cánh tay anh ta. Có lẽ vì bất ngờ và đau nên anh ta trợn tròn mắt nhìn bà Oh, còn bà thì càng giữ chặt hơn như thể hôm nay sẽ quyết một trận sống còn.
“Bỏ ra. Con phải học.”
“Nói dối. Rốt cuộc thì mày đang làm gì vậy hả?”
“Mẹ bảo con thi công chức còn gì. Học mãi rồi nên chơi game một lúc để thư giãn thôi, sao mẹ cứ loạn lên thế? Con là trẻ con à? Con là người đã thi đỗ vào trường đại học top đầu và từng đi làm ở một tập đoàn lớn. Con tự biết phải học như thế nào, nên mẹ đừng có làm quá lên nữa.”
“Cái thằng này! Thế thì sao nào? Mày nhìn lại bộ dạng bây giờ của mày xem. Ngày nào cũng cắm mặt trong phòng chơi game, đến bữa thì ăn mì tôm. Phải ra ngoài hay đi dạo cho thoải mái tinh thần chứ, không thì dọn đến nhà trọ mà ở!!”
“Đủ rồi đấy! Thật nhàm chán... Con mệt mỏi vì những lời cằn nhằn của mẹ lắm rồi!!!”
Người con trai vừa gào lên, vừa hất mạnh tay bà Oh ra rồi vùng vằng đi vào phòng. Rầm! Tiếng đóng cửa vang lên và tiếp theo đó là tiếng khóa cửa, một chiếc nút ở đâu đó trong trái tim bà Oh như thể vừa được khởi động. Bà lao vào đập cửa. Bà đập điên cuồng như đáp lại ánh mắt trắng dã nhìn bà như thể nhìn một người điên của cậu con trai ban nãy. Nhưng âm thanh của trò chơi phát ra từ phòng cậu con trai càng lúc càng to hơn đã thay thế cho câu trả lời của cậu ta. Tiếng súng càng dữ dội thì trái tim của bà Oh càng tan nát.
Khi tay bắt đầu thấy đau, bà lại dùng trán đập vào cửa. Rầm. Rầm rầm. Rầm rầm. Đến khi trán cũng không còn cảm giác nữa, bà mới chịu từ bỏ và quay đi. Nước mắt lăn dài trên má, tim bà đau nhói nhưng không có chồng để chia sẻ. Từ trước đến giờ, bà lúc nào cũng rất tự hào về con trai mình, nên giờ cậu ta có thảm hại thế nào thì bà cũng không thể để bạn bè biết. Bên tai bà vẫn văng vẳng những lời bàn tán của đám bạn cùng lớp ghen tị khi con trai bà xin được việc ở một tập đoàn lớn.
Kiệt sức vì khóc quá nhiều, bà ngủ thiếp đi đến bảy giờ mới tỉnh. Đến tận lúc đó mà tiếng game vẫn đang phát ra từ phòng của con trai bà. Khoác vội chiếc áo khoác lên người, bà rời khỏi nhà như thể chạy trốn mà không chuẩn bị bữa sáng cho cậu con trai như mọi khi. Lúc đó, bà chỉ muốn mặc kệ tất cả và biến đi đâu đó. Nhưng nơi duy nhất bà có thể đi lại chính là nơi mà bà phải làm việc.
Bà Oh bước vào cửa hàng nhưng không thấy Dok-go ở quầy thanh toán. Hóa ra anh ấy đang mải miết sắp xếp đống mì tôm hộp ở chiếc kệ trưng bày mới cho thẳng hàng. Dù đã nhiều lần bà Oh nói rằng đó là việc không cần thiết nhưng Dok-go vẫn dành rất nhiều tâm huyết vào việc đó như thể một bệnh nhân mắc bệnh ám ảnh cưỡng chế. Hành động đó trái ngược hoàn toàn với con trai bà. Lần đầu tiên, bà thấy con trai mình còn không bằng một ông chú trung niên mới thoát khỏi kiếp người vô gia cư và càng nghĩ vậy, thì bà lại càng thấy cuộc đời mình bất hạnh.
“Bà đến rồi à?”
Dok-go hỏi khi mắt vẫn dán vào kệ hàng. Bà Oh không kịp trả lời vì nước mắt vỡ òa. Bà vội vã vào kho, thay xong cả đồng phục mà nước mắt vẫn không ngừng rơi. Bà không muốn chấp nhận sự thật rằng con trai mình còn kém cỏi hơn một người vô gia cư... Nhưng không, giờ Dok-go đã là một thành viên lành mạnh của xã hội này. Lối nói lắp cũng đã tự nhiên hơn rất nhiều. So với anh ấy, con trai bà Oh chỉ là một kẻ thất bại nghiện chơi game, anh ta tự loại mình ra khỏi xã hội và lựa chọn cho mình một tương lai tăm tối, gói gọn trong căn phòng nhỏ hẹp. Đúng là “cha nào con nấy”. Bà Oh sợ rằng nếu không may mình chết đi, còn mỗi con trai bà sống cuộc đời vô dụng quanh quẩn xó nhà như bây giờ thì chẳng mấy rồi anh ta sẽ trở thành người vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ. Suy nghĩ đó cứ hiện lên trong đầu khiến bà ngồi khuỵu xuống ôm mặt khóc nức nở.
Khi bà Oh lấy lại được bình tĩnh thì đã thấy Dok-go đứng ở ngoài nhìn vào, cửa nhà kho đã mở từ lúc nào mà bà không biết.
Dok-go lặng lẽ đi tới, đưa cánh tay về phía bà Oh. Bà Oh nắm lấy tay Dok-go rồi đứng dậy. Rồi Dok-go giơ nắm giấy ăn đang cầm trong tay lên trước mặt bà Oh. Bà dùng giấy ăn Dok-go đưa cho lau sạch nước mắt, nước mũi, và cả nước dãi nữa. Mặc dù vậy, bên trong vẫn có thứ gì đó như sắp trực trào ra, nên bà phải lấy đà để hít một hơi thật sâu.
Dok-go dẫn bà ra ngoài, qua khung cửa sổ, ánh nắng ban mai chói chang chiếu rọi vào cửa hàng. Dok-go đi đến kệ đồ uống và mang đến một chai trà râu ngô.
“Khi buồn, trà… trà râu ngô rất tốt.”
Khi bà Oh đang tỏ ra nghi ngờ công dụng của loại trà này thì Dok-go đã mở nắp và đưa cho bà. Bà Oh lặng nhìn thành ý của Dok-go một lát rồi cũng nhận lấy và uống. Bà cần một thứ gì đó để kìm nén được thứ đang trực trào trong lòng. Bà uống ừng ực như người ta uống bia tươi giải khát giữa mùa hè.
Sau khi cơn khát dịu xuống, bà Oh không thể kiểm soát được bản thân nữa và bắt đầu nói. Dok-go chăm chú lắng nghe như đã đợi sẵn từ bao giờ. Hai người đứng ở quầy thu ngân, bà Oh vừa lau nước mắt vừa trải lòng về con trai mình còn Dok-go đứng ở phía đối diện, đầu gật gù liên tục và im lặng nghe những lời than thở cay đắng của bà Oh.
“Tôi thật sự không thể hiểu được. Tại sao nó lại từ bỏ một công việc ổn định như thế để lao vào những thứ viển vông rồi lãng phí cả cuộc đời? Cổ phiếu với sản xuất phim ảnh, chúng có khác gì canh bạc đâu cơ chứ? Rốt cuộc thì con trai tôi nó bị làm sao vậy?”
“Cậu ta... vẫn còn trẻ mà.”
“Nó đã ba mươi tuổi rồi. Ba mươi rồi! Giờ nó không khác gì một kẻ vô công rồi nghề không ra hồn người nữa.”
“Nhưng bà đã… thử nói chuyện với con trai chưa?”
“Nó không thèm nghe tôi nói. Lúc nào nó cũng tỏ thái độ và tránh né. Không biết tôi đã van xin nó bao nhiêu lần rồi. Nhưng nó coi thường tất cả và giờ thì trốn tránh. Đối với nó, tôi chẳng khác gì một người ở hay một bà chủ nhà trọ cả!”
“Bà hãy... nghe con trai bà nói trước. Tôi thấy bà bảo con trai bà... không nghe bà nói nhưng có vẻ như... bà cũng không nghe cậu ấy nói.”
“Cậu nói sao?”
“Bây giờ bà chịu nghe tôi nói... hãy thử nghe cả con trai bà nói nữa. Vì sao... cậu ấy lại nghỉ việc... vì sao lại chơi cổ phiếu... vì sao lại sản xuất phim... hãy nghe những chuyện đó.”
“Nghe để làm gì cơ chứ! Đó đều là những thứ nó tự làm theo ý mình nên mới thất bại như vậy. Với cả giờ nó có mở miệng nói chuyện với tôi đâu!”
“Dù thế thì... cậu ta cũng đã từng nói chuyện chứ?”
“Thế mà đã ba năm rồi. Khi đó, tôi đã nổi điên lên lúc nó bảo sẽ nghỉ việc ở công ty. Tôi hỏi nó tại sao lại từ bỏ một công việc tốt đến thế sau bao vất vả mới đạt được. Tôi nói không đúng sao?” Bà Oh thở dài và nói một mạch.
“Thế bà có biết tại sao... cậu ấy nghỉ việc không?”
“Đã bảo tôi không biết rồi.”
“Bà hỏi lại xem. Tại sao... lại nghỉ... có gì... khó khăn không... Chỉ con trai bà mới biết thôi. Còn bà cần phải biết... vì đó là chuyện của con mình.”
“Tôi sợ hỏi nhiều nó nghỉ thật nên mới nổi giận như vậy. Hỏi tại sao nghỉ thì nó cũng không nói rõ ràng, nên tôi bảo phải bám trụ lại công ty bằng mọi cách. Nhưng rồi nó cũng làm theo ý nó. Y hệt như hồi bố nó tự nhiên bỏ nhà đi.”
Bà Oh vội vàng kể lại câu chuyện của mình. Cảm nhận được khóe mắt hơi ươn ướt, bà cố kìm nén để không cho Dok-go thấy bộ dạng yếu đuối của bản thân nữa. Dok-go thì khẽ nhăn đôi gò má, anh trầm tư suy nghĩ một lát rồi mỉm cười nhẹ nhàng với bà Oh.
“Hóa ra là bà sợ. Sợ... con trai sẽ giống bố nó.”
Bà Oh khựng lại một lát rồi vô thức gật gật đầu.
“Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi cứ tưởng con trai mình lớn lên rồi sẽ khác bố nó... Có lẽ là do tôi nuôi dạy không tốt... Dù đã cố gắng hết sức rồi nhưng nó vẫn không hiểu... ngày nào cũng nhốt mình trong phòng chơi game... Hức!”
Dok-go lại đưa một nắm giấy ăn cho bà Oh. Bà đang lau nước mắt thì có khách đến. Dok-go đi vào kho còn bà Oh thì nhanh chóng tiến về quầy thanh toán để đón khách.
Sau khi vị khách đi khỏi thì Dok-go cũng đứng trước mặt bà Oh. Có lẽ giờ bà mới thực sự bình tĩnh lại và nở nụ cười gượng gạo.
“Khi nãy tôi nói nhiều quá phải không? Vì khổ tâm quá... mà không có nơi nào giãi bày. Nhờ có cậu lắng nghe mà tôi thấy như được giải tỏa phần nào. Cảm ơn cậu.”
“Chính là thứ đó đấy.”
“Cái gì cơ?”
“Mọi chuyện sẽ được giải tỏa nếu biết lắng nghe.”
Bà Oh tròn mắt, lắng nghe lời người đàn ông đang ở trước mặt mình.
“Bà hãy nghe con trai bà nói. Thế thì... mới giải tỏa được. Dù chỉ là một chút.”
Mãi đến lúc này bà Oh mới nhận ra rằng bà chưa bao giờ lắng nghe con trai bà nói một cách tường tận. Lúc nào bà cũng chỉ mong cậu con trai sống theo ý muốn của bà và chưa từng nghe xem tại sao một học sinh mẫu mực như vậy, vì những lo lắng và khó khăn gì mà đã chệch khỏi quỹ đạo do bà trải sẵn. Lúc nào bà cũng bận trách móc sự lạc hướng của con trai mình nên không có lúc nào để tìm hiểu nguyên nhân hay bất kì điều gì khác.
“Cái này...”
Ngay lúc đó, Dok-go bất ngờ đặt một thứ xuống bàn thanh toán. Là hai chiếc kimbap tam giác loại “Mua một tặng một”. Dok-go cười khi thấy bà Oh tỏ ra khó hiểu.
“Bà mang về cho con trai bà đi.”
“Cho con tôi á?... Tại sao?”
“Tôi nghe Jjamong nói... khi nào chơi game... thì ăn kimbap tam giác... là thích nhất. Khi nào con trai bà chơi game... thì đưa cho cậu ta.”
Bà Oh không nói gì, lặng nhìn kimbap tam giác mà Dok-go vừa đặt xuống. Con trai bà vốn cũng rất thích kimbap tam giác. Thích đến mức khi bà Oh bắt đầu làm việc ở cửa hàng tiện lợi, ngày nào cậu ấy cũng dặn bà mang kimbap tam giác hết hạn về nhà. Nhưng không biết từ khi nào mà bà Oh đã không còn mang kimbap tam giác về nữa. Vì bà không muốn thấy cậu ta vừa chơi game vừa ăn thứ đó nữa.
Đang lặng người suy nghĩ thì bà Oh thấy tiếng Dok-go vang lên bên tai.
“Nhưng nếu chỉ đưa mỗi kimbap thôi… thì không được. Bà phải kèm cả... thư nữa.”
Bà Oh ngẩng đầu lên nhìn Dok-go. Anh ấy cũng đang nhìn thẳng vào bà, khi đó trong mắt bà Oh, Dok-go thật sự rất giống một chú chó Golden Retriever.
“Bà hãy viết thư cho con trai bà... xin lỗi vì thời gian qua đã không chịu lắng nghe cậu ta, vừa hứa từ giờ sẽ chịu khó lắng nghe hơn... để cậu ta mở lòng. Rồi... đặt kimbap tam giác lên trên đó.”
Bà Oh lại cúi xuống nhìn kimbap tam giác trên bàn và cắn môi. Dok-go móc ba tờ một nghìn won nhàu nhĩ từ túi quần ra.
“Cái này tôi sẽ mua. Mau... tính tiền đi.”
Như thể mệnh lệnh từ cấp trên, bà Oh răm rắp làm theo lời Dok-go, bà cầm kimbap tam giác lên và quét mã vạch. Khi tiếng “Bíp” vang lên cùng với âm thanh báo hiệu thanh toán đã hoàn tất, sự bất an cứ mãi quẩn quanh trong đầu bà Oh cũng như được giải tỏa. Bà Oh vốn chỉ tin vào loài chó hơn là người, và hôm nay, một lần nữa bà lại gật đầu trước lời nói của Dok-go, người trông giống như một con chó lớn.
Dok-go cười rất tươi rồi quay người bước ra khỏi cửa hàng. Leng keng~ Tiếng chuông cửa vừa vang lên, như một phản xạ tự động bà Oh đã bắt đầu nghĩ đến nội dung bức thư sẽ được đặt dưới chiếc kimbap tam giác.