Cửa hàng tiện lợi bất tiện 1

Cửa Hàng Tiện Lợi “Bất Tiện”

Cửa Hàng Tiện Lợi “Bất Tiện”

Cửa Hàng Tiện Lợi “Bất Tiện”

Cuộc đời là chuỗi liên hoàn các vấn đề cần giải quyết. Hành lang này cũ quá khiến In-kyung không dám kéo vali đi một cách thoải mái, vật lộn mãi cô mới đi được một đoạn. Mỗi lần chiếc vali xóc nảy lên, cô lại giật bắn mình. Hôm nay bài tập đầu tiên cô phải giải quyết đó là tìm nơi trú ngụ cho mùa đông này. Tuy thật may mắn vì đã tìm thấy ngay nơi ở nhưng với một kẻ mù đường như In-kyung thì việc tìm ra căn nhà ở giữa những ngóc ngách cũ kĩ của Seoul này quả là việc không dễ dàng. Từ ga Namyeong đến nhà thờ Cheongpa, cô đã tìm được đường nhờ ứng dụng bản đồ trên điện thoại, nhưng từ sau khi tiến vào con đường nhỏ phía sau nhà thờ, chiếc điện thoại iPhone của In-kyung đã bị sập nguồn. Mùa đông đã đến rồi! Năm nào cũng vậy, cứ tới khoảng thời gian này là chiếc iPhone cũ kĩ đó lại có thể “đình công” bất kì lúc nào, và đương nhiên là không bao giờ báo trước. Vì thế, việc tìm đường vốn đã rất khó khăn lại được thăng hạng lên một bậc mới, giờ thì In-kyung còn không thể thực hiện được kế sách cuối cùng là gọi điện thoại để hỏi đường nữa. Mẹ kiếp... In-kyung chửi bậy mà không hề có cảm giác gượng gạo bởi những câu từ này vốn thường xuyên phát ra từ miệng cô. Cô quyết định phải tìm một nơi nào đó để nhờ sự giúp đỡ.

Ngay sau khi phát hiện ra một cửa hàng tiện lợi nằm ở ngã ba nhỏ, In-kyung đã dồn hết chút sức lực còn lại để kéo vali đến đó. Cửa hàng tiện lợi nên đương nhiên sẽ phục vụ lợi ích cho mọi người. Cô đặt vali ở gần cửa ra vào rồi nhặt một thanh sôcôla hình chữ nhật ở ngay trước quầy thanh toán. In-kyung vừa quay người lại thì đã thấy một nữ nhân viên cửa hàng vừa cao, vừa gầy, khoảng dưới ba mươi tuổi đang đứng ở quầy thanh toán và quan sát hành động của cô ấy.

Sau khi thanh toán xong In-kyung đã xé vỏ và cắn một miếng ngay lập tức. Đường vừa được bổ sung vào cơ thể thì hai cánh tay đang rã rời vì kéo vali của cô như được kích hoạt trở lại. In-kyung cảm nhận được ánh mắt dò xét của cô nhân viên kia nhưng vẫn ngấu nghiến ăn. Mãi đến khi chỉ còn chút sôcôla dai nhách như kẹo cao su trong miệng thì In-kyung mới mở lời một cách rất tự nhiên. “Tôi có thể gọi một cuộc điện thoại được không?”

Sau khi nhận được sự đồng ý của nhân viên cửa hàng, In-kyung chỉ đưa mắt chào, rồi nhanh chóng mở vali ra. Thật may mắn vì cuốn sổ tay nằm trong vali có ghi một số điện thoại. In-kyung lấy máy bàn của cửa hàng để ấn số, một lát sau, đầu dây bên kia vang lên giọng nói của một cô gái có vẻ còn rất trẻ. Sau khi xưng tên, In-kyung kể lể từ đầu đến cuối, rằng điện thoại bị hết pin nên phải vào cửa hàng tiện lợi để gọi nhờ. “Cửa hàng tiện lợi á? Thế giờ chị đang ở ALWAYS à?” In-kyung vừa trả lời thì phía bên kia phá lên cười và bảo In-kyung nhìn sang tòa nhà ba tầng ở ngay đối diện. In-kyung cúp máy và quay ra phía ngoài quan sát. Ngay lúc đó, cửa sổ tầng ba của tòa nhà mở ra, một khuôn mặt có nụ cười rất giống với cô Hee-soo giơ tay lên vẫy In-kyung.

Suốt mùa thu năm ngoái, In-kyung đã ở Viện Văn hóa Toji thuộc tỉnh Wonju. Đây là nơi tiểu thuyết gia quá cố Park Kyongni, tác giả của cuốn

Toji

(Đất), đã xây dựng riêng cho các nhà văn trẻ. Tại đó, những người hoạt động trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật được cung cấp không gian để họ sáng tạo và được phục vụ ba bữa ăn một ngày hoàn toàn miễn phí. Sau khi trở thành biên kịch và trải qua rất nhiều khó khăn, phải quyết tâm lắm In-kyung mới chuyển đến Viện văn hóa Toji và cô còn dự định sẽ kết thúc sự nghiệp viết lách tại chính nơi này.

Trả phòng trọ ở Daehak-ro xong In-kyung đã gửi toàn bộ đồ đạc về nhà bố mẹ và chỉ mang theo mỗi một chiếc vali. Giống như một pháo đài bí mật dành riêng cho các nhà văn, Viện Văn hóa Toji nằm ẩn sâu trong rừng của một ngôi làng yên tĩnh ở ngoại ô Wonju. Ở nơi đó, không ai làm phiền đến ai nên rất thích hợp cho những người cần sự riêng tư để suy nghĩ một mình. Đến đó, suy tư của con người cũng trở nên giản đơn như chiếc chăn, dễ dàng “trải ra” và “gấp lại” gọn gàng. Chưa kể ngày nào cũng được đi dạo trên con đường nhỏ xinh xắn và được thưởng thức những món ăn bổ dưỡng. Cuộc sống của những người vốn có cá tính mạnh mẽ, độc lập như những hành tinh khác nhau nay lại trở nên mới mẻ hơn khi quy tụ về đây. Có những người chơi bóng bàn sau giờ ăn trưa, có những người ăn tối xong lại rủ nhau tập trung ở ven bờ suối với những chai rượu gạo. Với bản tính hoạt bát, lẽ ra In-kyung sẽ tích cực tham gia vào mọi cuộc vui, nhưng lần này thì cô muốn ở một mình để tập trung hơn. Vì nếu ở nơi này mà vẫn không thể viết được gì thì cô quyết định sẽ “gác bút”. Tuy nhiên, không phải cứ ở một mình là có thêm ý tưởng để viết. Chỉ có điều, giờ cô không còn quá sốt ruột hay bận tâm nữa. Việc viết lách vốn đã không suôn sẻ, và dù có viết ra những điều nhạt nhẽo đi chăng nữa thì cô cũng không biết bao giờ mới được trở lại sân khấu, vì thế, quãng thời gian ở đó lại là một sự chịu đựng đối với In-kyung. Cô cứ mãi trăn trở, liệu có nên tiếp tục công việc của một nhà biên kịch nữa hay không, nhưng theo thời gian, những suy tư đó chỉ ngày một sâu sắc hơn như mùa thu đang nhuốm màu khắp mọi nơi.

Sau khoảng ba tuần chuyển tới đó, cô Hee-soo là người đầu tiên trở nên thân thiết với In-kyung. Cô Hee-soo trạc tuổi dì út của In-kyung, vừa là một tiểu thuyết gia, vừa là giáo sư dạy văn học tại một trường đại học ở Gwangju. Với chế độ đặc biệt dành riêng cho các giáo sư, cô Hee-soo có thể lựa chọn các viện nghiên cứu văn học ở trong và ngoài nước để làm nơi nghỉ dưỡng trong vòng một năm, nhưng cô ấy đã đến Viện văn hóa Toji. Trong số những người ở đó, cô Hee-soo đặc biệt chú ý đến In-kyung, một biên kịch tự nhốt mình trong phòng để vật lộn với sự nghiệp viết lách đang trong “giai đoạn hấp hối”.

“Nghe nói cháu đến đây để đưa ra quyết định cuối cùng về việc có gác bút hay không thật là giống tiểu thuyết quá. Còn nếu trong kịch, thì người ta gọi là kịch phi lý đúng không?”

“Đơn giản là vì... cháu không còn cách nào nữa cả. Có lẽ cháu đã đạt đến giới hạn rồi. Thời gian qua, cháu tưởng mình đã vượt qua hết những trở ngại của cuộc đời, nhưng giờ thì cháu thấy mệt mỏi lắm rồi.”

“Cháu nghỉ ngơi đi. Hồi còn sống, bà Park Kyongni đã nói như thế này:

Dù thấy những nhà văn ở đây không viết lách gì mà cứ tha thẩn, thì cũng đừng động chạm gì đến họ. Bởi tất cả những hành vi đó đều là để phục vụ cho việc sáng tạo của họ.

Biên kịch Jeong cũng vậy, hãy gạt những suy nghĩ không cần thiết sang một bên để tập trung cho tác phẩm. Sáng tác mà không suy nghĩ gì thì còn gọi gì là sáng tác, đó chỉ là đánh máy thôi.”

“Cháu cảm ơn. Vì cháu không được đào tạo bài bản về công việc này nên những lời khuyên của giáo sư thật sự rất hữu ích.”

“Đừng gọi ‘giáo sư’, gọi ‘cô Hee-soo’ là được rồi. Với cả, từ giờ, đừng đi dạo một mình nữa, nếu đi thì hãy đi cùng nhau.”

Lần đầu tiên đi dạo cùng nhau, cô Hee-soo đã an ủi In-kyung rất chân thành. Từ đó trở đi, hai người thường xuyên đi dạo với nhau. Họ đi quanh hồ ở khuôn viên trường đại học Yonsei, rồi đi dọc theo con đường mòn dẫn vào khu rừng ở bên cạnh. Khi thời gian ở Viện văn hóa sắp kết thúc, họ còn cùng nhau leo núi Chiaksan và thấy rất tiếc nuối khi phải chia tay một người đồng hành tâm đầu ý hợp.

Trước khi chia tay khoảng một tuần, cô Hee-soo hỏi về dự định của In-kyung. In-kyung nói rằng, tuy không viết được gì nhiều ở nơi này nhưng cô đã tích lũy được năng lượng rất tích cực nên sau khi quay lại Seoul, cô sẽ lại tìm một căn phòng để tập trung viết. Vậy là việc giải nghệ tạm thời được bảo lưu, nếu coi chuyến đi lần này là một vụ mùa, thì In-kyung cũng đã thu hoạch được khá nhiều điều. Ước mơ của In-kyung đã được bắt đầu ở Seoul, nên cô quyết tâm sẽ hoàn thành ước mơ đó ở Seoul, và cô Hee-soo cũng rất tán thành việc này.

“Cháu định thuê phòng ở đâu?”

Cô Hee-soo hỏi. In-kyung đang nghĩ tới “goshiwon”

[10]

. Thực ra, cô không có nhiều tiền, ý chí cũng không quá mạnh mẽ nên dự định sẽ thuê tạm một goshiwon nào đó để quyết chiến một trận sống còn. In-kyung trả lời rằng, sau khi trải qua mùa đông này tại goshiwon, nếu cô vẫn không hoàn thành được một tác phẩm nào thì sẽ quay về Busan, quê hương của mình mà không còn chút lưu luyến gì nữa.

Ở Busan, cô có rất nhiều việc để làm. Cô có thể làm việc tại cửa hàng của bố mẹ ở chợ Kkangtong, Nampo-dong, cũng có thể làm việc lại cửa hàng của bạn bè. Bố mẹ chắc chắn sẽ khuyên nhủ cô đi xem mặt, và nếu không cố tình đi ngược lại dòng chảy tự nhiên thì cô sẽ sớm lấy chồng và sinh con thôi.

“Nếu về quê, cháu có thể làm mọi việc, trừ việc viết kịch.”

In-kyung vừa nói vừa cười bẽn lẽn, còn cô Hee-soo thì đáp lại bằng nụ cười gượng gạo.

Ngày hôm sau, cô Hee-soo hỏi In-kyung có muốn đến ở một nơi khác, không phải là goshiwon không. Vào kì nghỉ, cô con gái đang là sinh viên đại học của cô ấy sẽ về nhà ở Gwangju nên căn hộ đã đóng tiền thuê cả năm sẽ bỏ trống, vì thế cô ấy đề xuất In-kyung đến đó ở để tập trung sáng tác. Thấy In-kyung vừa bất ngờ, vừa tỏ vẻ lưỡng lự, cô Hee-soo nói thêm rằng dù sao kì nghỉ cũng chỉ kéo dài ba tháng nên ít nhất thì trong khoảng thời gian đó In-kyung có thể tập trung vào công việc ở một nơi thoải mái hơn. In-kyung cảm động muốn khóc trước sự quan tâm của cô Hee-soo, cô ấy đã cho mượn chỗ ở miễn phí, lại còn nói như thể nhờ cậy In-kyung. Thay vì nói lời cảm ơn đến cô Hee-soo, người đã khiến cho một In-kyung mạnh mẽ, hiếm khi khóc trước mặt người khác phải rưng rưng nước mắt, In-kyung đã nở một nụ cười thật rạng rỡ.

Vậy coi như là In-kyung đã tìm được một nơi để làm việc, nơi đó sẽ trở thành không gian sáng tác cuối cùng của cô. Cũng có thể, căn hộ tầng ba của tòa nhà tại Cheongpadong Yongsan này sẽ là nơi In-kyung đặt dấu chấm hết cho cuộc sống ở Seoul, cho sự nghiệp của một nhà biên kịch và sự nghiệp diễn xuất của mình.

“Mẹ em dặn khi nào chị đến thì dắt chị đi quanh khu phố một vòng... nhưng làm sao bây giờ? Một lát nữa em phải đi về Gwangju bằng xe ô tô của bạn trai em.”

“Không sao đâu. Chị có thể đi một mình. Chị sẽ giữ nhà cửa thật sạch sẽ.”

“Haha, chị thoải mái thật đấy. Nghe mẹ em bảo chị khó tính lắm cơ... Nhưng có lẽ vì chị còn diễn xuất nữa nên tính cách cũng cởi mở hơn, không giống một biên kịch bình thường.”

“Chị không diễn lâu rồi. Chị đúng là một biên kịch khó tính đấy.”

In-kyung vừa cau mày, cố tỏ ra là một người cố chấp thì con gái cô Hee-soo đã phá lên cười. Đúng là mẹ tốt dạy con ngoan. In-kyung nhớ lại lời cô Hee-soo đã nói vào ngày cuối cùng ở Viện văn hóa Toji. “Nhờ cô mà những ngày tháng ở đây rất có ý nghĩa với em. Nhưng... sao cô lại tốt với em vậy?” Dù là một câu hỏi rất vô nghĩa, nhưng In-kyung vẫn muốn bày tỏ tấm lòng mình. Cô Hee-soo đăm chiêu suy nghĩ một lát rồi nói.

“Khi còn nhỏ, bà ngoại của Bob Dylan đã nói với ông ấy rằng:

Hạnh phúc không phải là thứ con phải tìm kiếm trên con đường con đi, mà con đường con đang đi chính là hạnh phúc. Và tất cả những người con gặp đều đang phải vật lộn khổ sở, nên con phải đối xử thân thiện với họ.”

[11]

Ngay cả cô Hee-soo cũng không hiểu sao khi gặp In-kyung, cô ấy lại nhớ đến Bob Dylan. Với một câu trả lời đầy sức thuyết phục như vậy, không còn cách nào khác, In-kyung đã phải thú nhận rằng mình cũng là fan của Bob Dylan.

Một năm sau khi Bob Dylan giành được giải Nobel Văn học, In-kyung đã trở thành biên kịch. Một ca sĩ như Bob Dylan lại giành được giải thưởng văn học, điều đó cũng giống với việc diễn viên Jeong In-kyung trở thành biên kịch, vì thế mà người nhạc sĩ lang thang kia đóng một vai trò rất quan trọng với cô. Khi Bob Dylan chính thức được chọn là người chiến thắng giải Nobel Văn học, In-kyung đang phải chịu đựng rất nhiều sự chỉ trích vì đã phê phán vở kịch của một đạo diễn tiền bối. Mọi người cho rằng một diễn viên không biết gì về viết lách như In-kyung đã quá tự cao tự đại khi dám đánh giá tác phẩm của người khác. Không thể chấp nhận được điều đó, In-kyung đã gửi một vở kịch mà cô tranh thủ viết lúc rảnh rỗi cho một tờ báo để tham dự “Cuộc thi viết văn thường niên đầu năm”, và cô đã đạt giải như thể chứng minh cho mọi người thấy.

Nhưng những chuyện xảy ra sau này mới là vấn đề. Sau khi trở thành biên kịch, In-kyung ngày càng ít cơ hội được đứng trên sân khấu với vai trò là một diễn viên, và những vở kịch cô viết cũng không nhận được phản hồi tích cực. Các đạo diễn thấy áp lực khi phải làm việc với một diễn viên nay đã trở thành biên kịch, còn các nhà sản xuất thì không đánh giá cao về những kịch bản được viết bởi một diễn viên. In-kyung dần mất kiên nhẫn và cảm thấy bản thân mình không nhận được sự tôn trọng xứng đáng. Chính vì thế, suốt thời gian qua, cô lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng “bùng nổ”, và thực sự cũng rất thường xuyên cáu giận vì những chuyện rất nhỏ nhặt, chính điều đó đã làm giảm đi ấn tượng tốt đẹp của mọi người về bản thân cô.

Quyết định từ bỏ diễn xuất là lý do khiến cô quyết tâm rời khỏi Daehak-ro. Hơn năm năm qua, cô luôn đảm nhiệm vai nữ chính cho các buổi công diễn vào mùa hè. Nhân vật “Shine”, một cô dâu hai mươi bảy tuổi, bỏ nhà ra đi khi chỉ còn hai ngày nữa sẽ diễn ra hôn lễ là một vai diễn tiêu biểu trong sự nghiệp của In-kyung, nó không khác gì tấm danh thiếp đại diện cho cô. Nhưng mùa xuân năm kia, cô nhận được thông báo ngừng hợp tác từ phía nhà sản xuất. Họ nói rằng In-kyung đã ba mươi bảy tuổi, họ không phủ nhận đóng góp to lớn của cô trong suốt thời gian qua nhưng đã đến lúc nên nhường vai cho các hậu bối trẻ tuổi hơn. Nếu chỉ có thế thì In-kyung có thể chấp nhận được. Thấy In-kyung không tỏ thái độ bất mãn gì, họ nói thêm rằng sau này muốn mời cô tham gia vào những vai diễn chín chắn hơn, In-kyung chỉ đáp lại bằng nụ cười mỉa mai rồi đóng sầm cửa bước ra ngoài. Về đến phòng trọ rồi mà cơn giận vẫn chưa dịu xuống. “Vai diễn chín chắn”? Ý họ là kiểu vai diễn chỉ có người nhiều tuổi mới đóng được thôi sao? In-kyung hét lên rằng hãy để dành vai diễn chín chắn đó cho chó gặm. Về phần mình, cô quyết tâm sẽ viết ra những tác phẩm trưởng thành hơn.

Đã hai năm trôi qua vậy mà cô mới chỉ hoàn thành được vài tác phẩm ít ỏi. Những kịch bản đó nằm bẹp dí trên máy tính, chúng không những đã “chín (chắn)” mà thậm chí còn sắp lên men đến mức thối rữa đến nơi rồi. In-kyung thì vẫn lượn lờ quanh Daehak-ro như bóng ma, thỉnh thoảng cô tham gia vài tác phẩm của bạn bè đồng nghiệp trong vai trò là nhân viên hậu đài nhưng “Biên kịch Jeong”, cách mọi người gọi cô lại trở nên lố bịch thật sự, đặc biệt là trong những bữa nhậu mà cô bắt buộc phải tham gia cho đủ quân số. In-kyung đã trở thành biên kịch quá đột ngột nên khả năng viết lách chưa được rèn giũa của cô đã không thể trở thành vũ khí giúp cô đứng vững. Cô đã viết rất nhiều để trau dồi bản thân nhưng rồi tác phẩm nào cũng bị từ chối hoặc trả lại. “Khổ tận cam lai”, cuối cùng thì tác phẩm đầu tiên của cô cũng được ra mắt trên sân khấu nhà hát của một tiền bối thân quen. Tuy nhiên, do đánh giá chuyên môn và doanh thu thảm hại, tác phẩm đầu tiên đó đã trở thành kí ức vô cùng đau thương với In-kyung.

In-kyung tin rằng cuộc đời là một chuỗi liên hoàn các vấn đề cần giải quyết, nhưng có lẽ đến giờ thì cô đã phát huy hết tất cả khả năng ứng phó của bản thân rồi. Mười năm trước, cô đã rời quê lên thủ đô Seoul với quyết tâm sẽ trở thành diễn viên. Không biết từ khi nào, khoản tiền thuê nhà đã chuẩn bị khá dư dả khi đó đã chỉ còn đủ để đặt cọc, và sắp tới đây thì tiền cọc cũng chẳng đủ nữa. In-kyung cảm thấy có một tấm màn đen đang che phủ lên ước mơ cô ấp ủ bao lâu nay. Cô không còn cơ hội được diễn xuất và cũng không có sân khấu nào lựa chọn tác phẩm do cô viết ra. Ý tưởng thì cạn kiệt, khả năng viết lách thì ngày càng mai một như pin chiếc điện thoại cũ.

Sau khi sắp xếp xong hành lý vào căn phòng trống đã được dọn sẵn, In-kyung ngồi ở bàn nghỉ ngơi để lấy lại sức. Không biết trong ba tháng tại nơi này, cuộc đời của cô sẽ thay đổi ra sao. Thật may vì ga Seoul ở rất gần đây. Nếu không hoàn thành được một tác phẩm nào trong vòng ba tháng cô sẽ ra thẳng ga Seoul và mua vé tàu về Busan. Ngay lúc đó, tiếng gõ cửa vang lên, con gái cô Hee-soo cười bẽn lẽn, thông báo rằng cậu bạn trai đã tới đón.

Tiễn cô bé xong chỉ còn lại một mình tại nơi ở mới, In-kyung muốn chợp mắt một lát trước khi trời tối hẳn. Cô nhanh chóng thiếp đi.

Khi In-kyung tỉnh dậy thì đã quá nửa đêm. Cô có vẻ đã rất mệt. Chiếc áo phông cộc tay ướt đẫm, chắc là do đổ mồ hôi trộm khi ngủ, còn bụng thì xẹp lép vì đói. Chợt nhớ ra quyết tâm không động chạm vào đồ ăn trong nhà, In-kyung mặc vội chiếc áo khoác rồi đi ra ngoài.

In-kyung quay lại cửa hàng tiện lợi đã ghé vào ban ngày và được chào đón bằng một giọng nói rất trầm. Người đàn ông trung niên với thân hình cao lớn đang đứng ở quầy thanh toán khiến cô ấy liên tưởng tới các diễn viên thường gặp ở sân khấu kịch. Khuôn mặt anh ta cũng có nét giống với các diễn viên thực lực. Tức là, nếu thực sự là một diễn viên thì anh ta sẽ nổi tiếng bằng khả năng diễn xuất của bản thân, chứ không phải vì khuôn mặt đẹp hay một lý do nào khác. “Cửa hàng này sẽ không sợ bị cướp vào ban đêm đâu!” In-kyung vừa nghĩ, vừa hướng về phía các kệ hàng.

Thật là khó. Tất cả những loại bánh kẹo In-kyung thích đều không có trên kệ, phía đồ thực phẩm tươi sống thì còn nghèo nàn hơn. Kimbap và bánh kẹp thì đều là những loại không hợp với khẩu vị của In-kyung, cơm hộp thì chỉ còn hai hộp với thức ăn lèo tèo.

Không có sự lựa chọn nào khác, In-kyung đành phải mua bánh bao đông lạnh và khô bò, rồi đi đến tủ lạnh để lấy bia. Nhưng ở đây cũng chẳng có gì khá khẩm hơn, In-kyung vẫn không thể chọn ra bốn lon bia yêu thích trong loại “mười nghìn won bốn lon”. Cô đành bỏ cuộc và quyết định lấy hai lon bia Heineken.

“Cơm hộp ở đây vốn ít vậy sao?”

“Để không phải... hủy... cơm hộp...”

Người đàn ông trung niên ở bàn thanh toán tỏ ra rất bất ngờ khi In-kyung hỏi, anh ta lắp bắp trả lời. Thật đáng tiếc, mỗi khi cần phải tập trung vào sáng tác thì nấu ăn cũng là một việc phiền toái với In-kyung vì vậy cô rất ưa chuộng cơm hộp ở cửa hàng tiện lợi. Cầm chiếc bánh bao đông lạnh trên tay, chợt In-kyung nhận ra là mình chưa kịp kiểm tra xem trong nhà có lò vi sóng hay không. Cô tìm xung quanh cửa hàng nhưng cũng không thấy bóng dáng chiếc lò vi sóng đâu cả. Hỏi ra thì mới biết, hôm nay lò vi sóng bị hỏng nên nhân viên dịch vụ hậu mãi đã đến mang nó đi sửa. Tuy vẫn lắp bắp, nhưng người đàn ông trung niên kia rất lịch sự, liên tục nói xin lỗi.

“À không, không có gì phải xin lỗi... Chỉ bất tiện chút thôi.”

“Đang yên đang lành thì... Đúng vậy. Nơi này trở thành cửa hàng bất tiện... mất rồi.”

In-kyung bật cười trước lời thú nhận thật thà của người bán hàng. Gì vậy nhỉ? Một câu nói thể hiện sự trào phúng bản thân khá độc đáo. Người đàn ông trung niên tự đánh giá cửa hàng tiện lợi mình đang làm việc là bất tiện này trước kia đã từng làm công việc gì? In-kyung nhìn thẳng vào mặt anh ta. Khuôn mặt với chiếc cằm góc cạnh trông khá dữ tợn, mũi to, đôi mắt như nửa nhắm nửa mở, cộng với thân hình vạm vỡ này khiến cô ấy liên tưởng tới một con gấu đang buồn ngủ hoặc một con tinh tinh đang bị mệt. “Chú gấu” hoàn toàn không biết In-kyung đang nghĩ gì trong đầu, chợt anh ta nhìn In-kyung cười rất tươi.

“Cô có thích... cơm hộp ‘Sơn hào hải vị’ không?”

In-kyung tròn xoe mắt trước câu hỏi khá bất ngờ của người đàn ông kia.

“Loại đó nhiều người thích lắm... nên nhanh hết... Sau này tôi... để phần cho cô một hộp nhé?”

“Không, không cần phải làm thế đâu.”

In-kyung vội vàng ôm đống đồ đã thanh toán rồi rời khỏi cửa hàng. “Xin cảm ơn.” In-kyung thấy rùng mình khi nghe tiếng người bán hàng kia chào bằng chất giọng trầm của anh ta. Cửa hàng này không chỉ bất tiện vì sản phẩm nghèo nàn mà còn vì sự hiện diện của người đàn ông kia nữa. Mới chiều nay thôi, khi cô nhân viên bán thời gian cho In-kyung gọi nhờ điện thoại, cô vẫn còn quyết tâm sẽ trở thành khách quen của nơi này.

Một giờ đêm, In-kyung lại tỉnh dậy. Mẹ kiếp. Cô không nhớ nổi một ngày đã trôi qua như thế nào. Hôm qua, cô uống bia với bò khô đến đêm muộn rồi dành hết tâm trí để trang trí căn phòng thành phòng sáng tác cho đến sáng. Rồi theo chân những người đang hối hả đi làm, cô đi qua trường Sookmyung để đến công viên Hyochang bên kia con dốc. Chạy năm vòng quanh công viên xong, cô đi dạo trong khu phố với một tâm trạng khoan khoái hơn rất nhiều. Sau khi khám phá hết những con đường đi dạo, chợ, siêu thị, quán ăn... In-kyung mới trở về nhà tắm rửa. Buổi trưa, In-kyung cố chịu đựng cơn buồn ngủ để tìm hiểu thông tin về các cuộc thi và nắm bắt xu hướng của ngành kịch nghệ. Để viết được kịch bản, cô cần tạo động lực cho mình và phải tìm một dự án có yêu cầu về hạn chót rõ ràng. Nhưng vì không tìm được gì thích hợp nên cô nhắc nhở mình phải thực hiện đúng deadline mà bản thân đã đặt ra. Chiều muộn, cô ăn canh đậu phụ ở một quán đã ngắm sẵn từ lúc đi dạo buổi sáng. Dù rất nhớ những món ăn vừa miễn phí vừa bổ dưỡng ở Viện văn hóa Toji nhưng đây là Seoul, cô quyết định mỗi ngày sẽ chỉ ăn một bữa ở bên ngoài để tiết kiệm tiền.

Trở về nhà, In-kyung xem phim truyền hình Mỹ Breaking Bad. Mỗi khi tuyệt vọng, bộ phim này có tác dụng như một liều thuốc tinh thần với cô, cứ khi nào tiêu đề Breaking Bad xuất hiện trên màn hình thì miệng cô lại lẩm nhẩm “xua tan vận rủi.” Sau này, kể cả khi biết rằng đó không phải là nghĩa thật sự của tiêu đề phim thì cái tên “Xua tan vận rủi” mà cô thấy lần đầu khi tải phim không có bản quyền trên mạng lại gây cho cô ấn tượng mạnh mẽ hơn. Cuộc sống của nhân vật Walter White trong phim cũng vậy. Để xua tan mọi bất hạnh đến với mình, anh ta đã điều chế và buôn bán ma túy. Có lẽ vì vậy mà mỗi khi thấy bất an về tương lai đen tối ở phía trước, In-kyung lại tìm đến tác phẩm này. Đương nhiên, Breaking Bad là một tác phẩm dù có xem đi xem lại thì vẫn thấy thú vị và có nhiều điều để học hỏi. Hơn nữa, vì đã quá quen thuộc nên nó giúp cô dễ ngủ hơn.

Một giờ sáng, tiếng ọc ọc phát ra từ bụng In-kyung như báo hiệu một ngày mới lại bắt đầu. Phải đi chợ, phải thay đổi đồng hồ sinh học để đêm ra đêm, ngày ra ngày, phải trân trọng quãng thời gian ở nơi này... Rất nhiều việc phải làm, nhưng trước tiên cô phải xoa dịu cơn đói này đã.

Mặc xong áo khoác thì In-kyung mới nhớ đến người đàn ông cao to và bất tiện kia. Sau khi suy nghĩ về việc tìm kiếm một cửa hàng tiện lợi khác, cô kết luận rằng thà chịu đựng sự bất tiện của cửa hàng tiện lợi trước nhà còn hơn là đi lang thang trên phố vào buổi đêm lạnh giá.

Leng keng~ Bên trong cửa hàng rất im ắng. Không thấy người bán hàng bữa trước đâu, còn chiếc lò vi sóng bị hỏng không biết đã sửa được chưa lại thấy kê ở ngay cạnh cửa sổ. Hàng hóa thì vẫn thiếu đa dạng như vậy. Doanh số thấp nên không thể nhập nhiều chủng loại hàng hóa, nhưng chính vì thế, khách vốn đã ít lại càng ít hơn, rõ ràng nơi này đang rơi vào một cái vòng luẩn quẩn. In-kyung thấy bụng càng cồn cào hơn khi nghĩ tình trạng của nơi này cũng tương tự như mình. Cô nhanh chóng di chuyển đến gian hàng đồ tươi sống.

Lần này cũng chỉ còn hai hộp cơm hộp giống hệt lần trước. Cô hơi lăn tăn vì sợ rằng hai hộp cơm hôm qua vẫn còn nguyên đến nay, nhưng nhìn kĩ lại thì phía bên dưới còn một hộp cơm khác nữa. In-kyung đặt hai hộp cơm ở trên sang bên cạnh để nhấc hộp cơm bị xếp ở dưới cùng ra, nhìn có vẻ rất hấp dẫn. Có tận mười hai món và thịt cũng nhiều. In-kyung cầm hộp cơm ra quầy thanh toán. Vẫn không thấy bóng dáng nhân viên cửa hàng tiện lợi đâu cả. Sao anh ta có thể bỏ trống cửa hàng vào buổi đêm muộn thế này cơ chứ? Hay anh ta vào kho nhỉ? In-kyung bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự bất tiện của cửa hàng này, cô đang nhìn ngó xung quanh không biết phải làm thế nào thì phát hiện ra một tờ giấy A4 đặt trên bàn thanh toán. Trên đó ghi một dòng chữ bằng bút dạ màu đen nguệch ngoạc.

“TÀO THÁO ĐUỔI! ĐỢI MỘT LÁT.”

Haaaa~ In-kyung cười phá lên. “Tào tháo...” Không sao cả, chỉ là hiện tượng sinh lý bình thường của con người. Nhưng lẽ ra anh ta phải dán thông báo ở bên ngoài, khóa cửa cẩn thận rồi mới được đi, chứ để ở trên bàn thanh toán thế này thì ai mà biết được? Nhỡ không thấy nhân viên, kẻ xấu vào lấy trộm hàng hóa với tiền mặt ở quầy thì làm thế nào? Hay vì xung quanh nhà cửa đông đúc nên không sợ trộm nhỉ? Hay là anh ta cố tình để thế cho trộm vào? Dù có CCTV nhưng sơ hở thế này thì con người dễ nảy sinh lòng tham lắm. Một người thẳng thắn như In-kyung quả thật không dễ gì bỏ qua tình huống như thế này.

Leng keng~ Tiếng chuông vang lên, người đàn ông kia bước vào với vẻ mặt nhìn là biết anh ta đã giải quyết xong tình huống nguy cấp ban nãy, hai người chạm mắt nhau. Anh ta lí nhí thốt lên câu gì đó rồi vội vàng đi về phía bàn thanh toán, In-kyung né sang một bên cho anh ta lấy lối đi rồi ném cho anh ta một ánh mắt không mấy thiện cảm.

“Cái này... ngon lắm.”

Cầm hộp cơm trên tay, anh ta nói. Giờ In-kyung mới để ý, hóa ra hộp cơm cô chọn chính là “Cơm hộp sơn hào hải vị” người đàn ông kia đã nhắc đến hôm qua.

“Cô tìm giỏi thật đấy... Tôi đã giấu kĩ vậy mà...”

“Sao cơ?”

“Hôm qua... thấy cô tìm cơm hộp... nên tôi đã xếp nó xuống dưới.”

Thế thì sao? Tôi phải cảm ơn anh à?

In-kyung không biết phải đón nhận sự ưu ái khó hiểu và đầy áp lực mà người đàn ông này dành cho cô như thế nào. Thanh toán xong In-kyung cầm hộp cơm ra chỗ lò vi sóng. Ở nhà không có lò vi sóng nên cô buộc phải làm nóng lại cơm ở đây rồi mới mang về. Sau khi bóc vỏ ni lông và bỏ hộp cơm vào lò xong, cô đứng đợi... rồi vô tình nhìn về phía người nhân viên bán hàng kia. Anh ta đột nhiên giơ ngón tay cái lên. Ô hay, thật là khó hiểu. In-kyung giậm từng bước chân đi về phía anh ta đang đứng.

“Này anh. Lúc nãy anh bỏ cửa hàng mà đi vậy cũng được sao?”

“Cái đó... vì...tôi gấp quá... Đây...”

Người đàn ông kia lúng túng giơ tờ giấy A4 lên.

“Thế mới nói. Lẽ ra anh không nên để tờ thông báo đó ở đây. Anh phải dán nó lên cửa ra vào, khóa cửa lại rồi mới được đi chứ. Nhỡ có đám trẻ con quậy phá đến đây, thấy không có ai, chúng nảy sinh ý đồ ăn trộm thì làm thế nào? Anh có biết ‘Thuyết cửa sổ vỡ’ không? Thuyết đó nói rằng nếu khung cửa sổ vỡ bị bỏ mặc, không ai đoái hoài gì thì trộm cắp và tội phạm sẽ ngày càng gia tăng, có nghĩa là nếu không ai trông coi cửa hàng thì khả năng xảy ra sự cố sẽ ngày càng lớn. Hơn nữa, hình như anh cũng chỉ là nhân viên ở đây, anh nghĩ xem, làm gì có ông bà chủ nào hài lòng với cách làm việc như vậy. Tốt nhất là anh đừng bỏ vị trí của mình nữa.”

Vốn dĩ là người thích tranh luận, đúng sai rõ ràng, lại thêm việc In-kyung muốn giữ khoảng cách với người đàn ông này nên cô đã đứng diễn thuyết một bài dài. Thông thường đàn ông rất ghét phụ nữ cư xử như vậy và không tiếp cận nữa. Người đàn ông này cũng vậy, anh ta cũng im lặng lắng nghe In-kyung nói rồi không hiểu vì xấu hổ hay vì lý do gì mà anh ta cúi đầu xuống.

“Đúng vậy... Cô nói đúng nhưng... tôi... có thể nói lập trường của tôi không?”

“Anh nói đi.”

“Tôi bị hội chứng ruột kích thích... nên... không thể nhịn được... Lúc nãy... tôi cũng định... dán cái này lên cửa... nhưng lúc cúi xuống để tìm băng dính thì... lúc đó... bị... són ra một ít... Vì thế... tôi đành từ bỏ việc dán bằng băng dính... đặt vội tờ giấy lên bàn... và không cả kịp khóa cửa... Đến nơi, tôi vừa kéo quần xuống thì...”

“Thôi đi!”

Kết luận là vì bị đau bụng quá nên anh ta không kịp khóa cửa, In-kyung không đủ kiên nhẫn để nghe hết câu chuyện mất vệ sinh đó. Sợ nghe thêm, cô sẽ có cảm giác người đàn ông kia bốc mùi hôi thối, thật bẩn thỉu và khó chịu.

“Thôi được rồi, từ giờ anh nên cẩn thận hơn.”

Nói rồi In-kyung quay lại chỗ lò vi sóng lấy hộp cơm ra. Khi cô chuẩn bị rời đi thì người đàn ông kia lại cúi đầu chào một lần nữa và hét to.

“Hôm nay tôi bị tào tháo... nên rất xin lỗi.”

“Ô hay! Chuẩn bị ăn cơm rồi, anh đừng nói chuyện bẩn thỉu đó nữa.”

“Anh là Tào Tháo hả? Tôi là Trương Phi đây!” Tay In-kyung đẩy cửa còn miệng hét lên với người đàn ông kia. Cô không thể chịu đựng thêm được nữa. “Tôi là Jeong In-kyung nổi tiếng ở Daehak-ro với tính nóng như lửa đây!” Chứng kiến sự nổi giận của In-kyung, anh ta kinh ngạc sững sờ trong giây lát rồi liên tục lắp bắp: “Tôi xin lỗi”. Giờ thì In-kyung thấy khó chịu cả với cái lối nói lắp bắp đó. Ra ngoài, cô tự nhủ: “Để rồi xem tôi còn quay lại đây nữa không!”

Đã một tuần từ khi In-kyung dọn đến nhà cô Hee-soo ở Cheongpa-dong, việc viết lách vẫn ì ạch như vậy. Tạm gác lại kịch bản đang viết dang dở từ hồi còn ở Viện văn hóa Toji, In-kyung đang tập trung tung hứng cho một vài ý tưởng mới. Cô muốn viết một câu chuyện gần gũi với hiện thực hơn là một vở kịch trừu tượng. Tuy nhiên, cô không muốn tác phẩm của mình mang quá nhiều yếu tố thương mại mà phải là một vở kịch truyền thống nơi các nhân vật tương tác với nhau trong một không gian sống động. Còn phía dưới khán đài, người xem có thể tập trung và hòa mình vào các nhân vật trên sân khấu như thể là chính họ. Cô muốn hoàn thành một tác phẩm tạo ra niềm vui và sự kịch tính trong suốt buổi diễn, nhưng khi kết thúc lại khiến người xem ngẫm nghĩ về ý nghĩa sâu xa của nó.

Ngồi cả ngày ở bàn làm việc để vắt óc suy nghĩ thật mệt mỏi. Trời ngày càng lạnh hơn, và để tiết kiệm tiền, In-kyung không ra ngoài ăn nữa mà bắt đầu nấu các món đơn giản tại nhà. Cứ tối đến, cô lại ngồi bên cửa sổ, vừa uống trà vừa ngắm mọi người đi làm về, không biết từ bao giờ việc đó đã trở thành thói quen kết thúc một ngày của cô.

Dạo gần đây, cứ khoảng mười một giờ đêm, In-kyung lại thấy một người đàn ông trung niên ngồi uống rượu soju với mì tôm ở chiếc bàn bên ngoài cửa hàng tiện lợi ở phía đối diện. Anh ta hay mặc một bộ vest màu xanh tím than cũ kĩ, bên ngoài khoác thêm một chiếc áo parka, nhìn từ trên cao xuống càng thấy rõ đỉnh đầu chỉ còn lơ thơ vài sợi tóc. Ngày nào đến đây anh ta cũng ngâm mì tôm vừng rồi bỏ kimbap vào đó húp xì xụp và nhâm nhi một chai soju. Bất kể trời lạnh thế nào thì anh ta vẫn ghé vào cửa hàng trước khi về nhà, có lẽ việc này không chỉ là thói quen mà còn là niềm vui của anh ta. Vừa quan sát người đàn ông này, In-kyung vừa ngẫm nghĩ. Cô bắt đầu thấy tò mò về cuộc nhậu một mình ở ngoài trời vào những đêm mùa đông đầy nỗi niềm của người đàn ông làm công ăn lương ấy.

Nhưng đêm nay, người đàn ông to bự ở cửa hàng kia lại đang ngồi đối diện với người đàn ông mặc vest. Anh ta còn đang uống thứ gì đó bằng một cái cốc giấy rất to. Nhìn thế nào thì nó cũng không giống cà phê, mà giống rượu tây hơn. Giỏi thật! Giờ anh ta còn dám uống cả rượu trong giờ làm việc nữa. Hay vì thế nên lúc nói chuyện với mình mới lắp bắp như vậy? Phải chăng lúc đó anh ta đã ngà ngà say rồi? Dù biết đó không phải là việc mình phải bận tâm nhưng In-kyung vẫn không ngừng suy luận. Người đàn ông kia lại vừa rót thêm thứ gì đó không phải là rượu. Nhìn chai nhựa anh ta cầm thì vừa giống trà lúa mạch, vừa giống nước nho khô phương Đông. Rốt cuộc là thế nào? In-kyung bắt đầu tập trung quan sát kĩ hơn.

Một người là nhân viên bán thời gian tại cửa hàng tiện lợi, một người là nhân viên văn phòng và là khách của cửa hàng, hai người đang ngồi với nhau, cùng uống một loại nước có màu nâu nhạt và trò chuyện nhưng đột nhiên, người nhân viên văn phòng kia nổi sung lên rồi đứng dậy bỏ đi. Người nhân viên bán thời gian kia nhún vai, dọn dẹp bàn rồi đi vào cửa hàng. Gì vậy nhỉ? Đột nhiên, trí tò mò trỗi dậy. Nó khiến In-kyung bứt rứt như thể chiếc mụn trứng cá sưng to sắp vỡ ra. Cô khoác vội chiếc áo parka rồi rời khỏi nhà.

“Cái người mặc vest vừa ở đây ban nãy, anh có biết anh ta không?”

Người đàn ông kia khá bất ngờ khi In-kyung đột ngột bước vào và hỏi.

“Anh ấy là khách quen.”

“Anh có biết anh ấy làm nghề gì không?”

“Tôi cũng không rõ lắm... À, anh ấy thích Cham Cham Cham.”

“Cham Cham Cham?”

“Mì tôm vừng... kimbap cá ngừ với rượu Chamisul... Anh ấy chỉ ăn mấy món đó thôi.”

“Thế nên là... Cham Cham Cham?”

“Đúng vậy. Cham Cham Cham.”

“Nhưng lúc nãy anh ta nói gì với anh rồi bỏ đi thế? Hình như anh ta giận lắm...”

“À... Vì tôi bảo... đừng uống rượu nữa... uống cái khác đi... Chắc anh ấy không thích.”

“Thế anh khuyên anh ấy uống gì?”

“Cái này.”

Anh ta bình thản giơ chiếc chai nhựa đặt ở bên cạnh lên. Là một chai trà râu ngô.

“Cái này á? Tại sao?”

“Uống thay rượu rất tốt... Tôi cũng vậy, uống cái này... Tôi không còn nghĩ đến rượu nữa.”

In-kyung thấy nực cười đến mức không biết phải nói gì nữa. Anh ta còn kì quái hơn cô tưởng. Nếu trước kia cô thấy khó chịu và bất tiện vì anh ta thì nay bắt đầu cảm thấy hứng thú. Khuyên khách quen bỏ rượu và mời uống trà râu ngô sao?... Lại còn “Cham Cham Cham” nữa? Bán ba loại sản phẩm đó thành combo cũng hay đấy chứ. Trí tò mò của In-kyung đã được người đàn ông có tư duy độc đáo này khơi dậy.

“Trước kia anh làm nghề gì?”

“Cô... đến đây để hỏi cái đó à?”

Ái chà. Ý anh là sao không mua hàng đi chứ gì? In-kyung gật gật đầu rồi đi một vòng nhặt mì tôm vừng kimbap cá ngừ, rượu Chamisul và trà râu ngô rồi đặt lên bàn thanh toán. Trong khi đợi quét mã sản phẩm, In-kyung lại hỏi lại. Nhưng người bán hàng chỉ nghiêng nghiêng đầu mà không trả lời.

“Này anh, trước kia anh không phải là dân xã hội đen đấy chứ?”

“Khô... ông.”

“Hay anh mới ở tù ra và đang cải tà quy chính?”

“Tôi không phải là người như vậy.”

“Hay vợ con anh ra nước ngoài, để mình anh ở đây kiếm tiền?”

“Cũng không phải.”

“À. Về hưu. Anh về hưu rồi phải không. Nghe nói dạo này nhiều người muốn về hưu sớm. Đúng thế không?”

Người bán hàng tỏ vẻ khó xử, anh ta chỉ lắc đầu rồi đưa túi đồ cho In-kyung. In-kyung nhất định không cầm. Cô nhìn thẳng vào mắt anh ta như thể hiện quyết tâm sẽ tìm ra danh tính thực sự của con người này.

“Thế rốt cuộc thì anh đã làm gì? Tôi thật sự tò mò nên mới vậy.”

“Tôi là người vô gia cư.”

“Sao cơ? Người vô gia cư ở ga Seoul á?”

“... Vâng.”

“Thế còn trước đó?”

“Trước đó... tôi không biết. Tôi uống nhiều rượu quá nên không nhớ gì cả.”

“Mất trí nhớ do rượu... Cũng có thể lắm. Thế anh đã sống lang thang mấy năm?”

“Cái đó... tôi cũng không biết.”

“Ơ hay, thế làm thế nào anh xin được việc ở đây? Anh bắt đầu làm ở đây từ khi nào?”

“Là do... bà chủ bảo trời lạnh... đừng ở ga Seoul nữa... mà đến đây tránh rét... nên giờ tôi ở đây.”

“Oa! Oaaaa!”

In-kyung liên tục thốt ra những câu cảm thán và càng chăm chú quan sát người đàn ông vừa mới nhận mình là người vô gia cư kia hơn. Cô cố gắng gặng hỏi xem anh ta có chút kí ức vào về quá khứ không nhưng câu trả lời trước sau vẫn vậy, anh ta không nhớ gì cả. In-kyung đề xuất rằng anh ta nên trò chuyện với cô hằng ngày, vì nói nhiều mới có thể kích hoạt lại kí ức. Ban đầu, người đàn ông kia hơi bối rối nhưng rồi anh ta cũng miễn cưỡng đồng ý. Cuối cùng. In-kyung hỏi tên anh ta rồi rời khỏi cửa hàng.

“Cứ gọi tôi là Dok-go. Tôi không nhớ tên tôi, không nhớ cả họ nữa.” Vừa ăn Cham Cham Cham, In-kyung vừa lẩm bẩm. Việc phát hiện ra một nhân vật mới thú vị khiến rượu hôm nay ngọt hơn hẳn mọi ngày. Cham Cham Cham cũng là một sự kết hợp mới mẻ cho bữa ăn phụ vào buổi đêm hay khi muốn uống rượu một mình. Trà râu ngô tuy có vẻ không hợp lắm nhưng nó thể hiện quyết tâm của một người đang khổ sở vì chứng mất trí nhớ do rượu. In-kyung quyết định sẽ quan sát người nhân viên của cửa hàng tiện lợi kia nhiều hơn.

In-kyung vẫn duy trì nếp sinh hoạt đảo lộn đêm và ngày. Cô thức dậy vào sáng sớm và đi đến cửa hàng tiện lợi như đi làm, tại đó, cô ấy ăn “Cơm hộp sơn hào hải vị” và trò chuyện cùng với Dok-go. Anh ấy là người thông minh và tinh ý hơn cô đã tưởng. Sau khi tán gẫu được vài hôm, In-kyung mang hẳn sổ tay đến cửa hàng và ghi chép lại những nội dung chính. Những cuộc phỏng vấn không hề nằm trong dự tính này đã tiếp thêm dũng khí cho cô tiếp tục viết.

Có lẽ, không chỉ chứng mất trí nhớ do rượu mà cả sang chấn tâm lý đã khiến Dok-go mất đi một phần kí ức về quá khứ. Sau khi trở thành biên kịch, In-kyung đã đọc rất nhiều sách tâm lý và cô đặc biệt quan tâm đến tổn thương về mặt cảm xúc. Các nhân vật chính đều phải trải qua những tổn thương tinh thần nặng nề trong quá khứ, và trong hoàn cảnh đó, những thứ họ cố gắng bảo vệ sẽ dự báo trước tương lai của họ. Thời gian qua, Dok-go đã quay lưng lại với quá khứ. Nhưng hiện tại, anh ấy đang hồi phục và dần tìm được dũng khí cũng như sức mạnh để đối diện với vết thương đó bằng cách giao tiếp và chia sẻ với những người xung quanh.

Nỗ lực và tham vọng trở thành nguồn động lực để con người vượt qua tổn thương và đó cũng là yếu tố cốt lõi để xây dựng nên một nhân vật. Để miêu tả đặc trưng của một nhân vật, chỉ cần cho khán giả thấy nhân vật đó đã lựa chọn hướng đi nào cho bản thân khi đứng giữa những ngã rẽ mang tính chất quyết định. Nhờ sự giúp đỡ của bà chủ cửa hàng tiện lợi, Dok-go đã ra khỏi ga Seoul và đang nỗ lực để tái hòa nhập xã hội, đối diện với tổn thương của chính mình.

“Chắc chắn một điều rằng... tôi vốn không sống như thế này. Có lẽ tôi không có nhiều thứ chia sẻ với mọi người. Vì thế, tôi không có kí ức ấm áp nào cả.”

“Kí ức ấm áp... ý anh là gì?”

“Là việc trò chuyện... cởi mở với mọi người như đang trò chuyện với cô ấy...”

“Tôi thấy anh thân với vị khách ăn Cham Cham Cham lắm mà?”

“Thế mới nói... Việc tiếp đón khách ở cửa hàng... đã khiến tôi gần gũi với mọi người hơn. Dù không thật lòng nhưng nếu ra vẻ thân thiện thì dần dần tính cách cũng trở nên thân thiện hơn.”

“Câu đó hay đấy chứ? Tôi có thể mượn nó được không?”

In-kyung vừa viết câu Dok-go vừa nói vào sổ tay, vừa hỏi.

“Cô đang viết... vào sổ rồi còn gì.”

“Không. Tôi viết vào tác phẩm của tôi cơ. Tôi nói với anh rồi, tôi là một biên kịch.”

“Ừ nhỉ. Cô viết kịch bản đúng không? Vậy cũng có... cả tôi à?”

“Tôi cũng chưa biết sẽ dùng nó ở đâu, khi nào nữa. Tôi mới chỉ đang phác họa thôi... Nhưng rõ ràng là anh đang giúp tôi rất nhiều. Tôi gần như đã định bỏ cuộc, nhưng nhờ có anh, tôi như được tiếp thêm động lực.”

“Giúp cô à... Tốt quá rồi. Để kỉ niệm điều đó... cô không định mua gì sao?”

“Ái chà! Khéo trước kia anh cũng là người buôn bán ấy chứ.”

In-kyung bật cười rồi đi lấy bốn lon bia và một chiếc bánh kẹp mang tới. Dok-go vừa thanh toán vừa cười tươi như một dân sale chuyên nghiệp vừa kí kết thành công hợp đồng bán xe ôtô. Vậy là biên kịch và người được phỏng vấn đã có một sự kết hợp khá nhịp nhàng.

Cuối năm, những lời hỏi thăm dồn dập được gửi tới điện thoại của In-kyung. Bỏ qua tất cả những tin nhắn tập thể, cô không nhìn thấy một cái tên nào đáng bận tâm trong số danh sách những cuộc gọi nhỡ. Lâu lắm rồi cô mới đăng nhập vào Facebook mà cũng không thấy khá khẩm hơn, bảng tin chỉ toàn hiện tin tức của những người khó ưa. In-kyung cũng phải thừa nhận rằng chính bản thân cô đã khiến cho các mối quan hệ của mình ngày càng bị thu hẹp hơn. Ngay lúc đó, như hiểu được tâm trạng trống trải của In-kyung, chuông điện thoại vang lên nhưng cái tên hiện lên màn hình khiến cô do dự.

Đại diện Kim của nhà hát Q. Ông ta chính là nhà sản xuất đã đề cập đến tuổi sinh học của In-kyung và nói rằng những vai diễn ở độ tuổi hai mươi giờ đây không còn phù hợp với cô nữa. Cũng chính ông ta là người khiến In-kyung tự nguyện từ bỏ công việc của một diễn viên. Tuy đã từng là một ân nhân, tạo công ăn việc làm cho cô nhưng giờ thì mối quan hệ của họ chỉ dừng lại ở mức không có một tin nhắn qua lại nào trong suốt hai năm.

In-kyung đứng dậy khỏi bàn làm việc rồi cầm điện thoại tiến về phía chiếc ghế cạnh khung cửa sổ. Tim cô đang run rẩy, do dự không biết có nên nhấc máy không. Một lát nữa thôi, khi điện thoại ngừng rung, mối nhân duyên của cô và đại diện Kim cũng sẽ kết thúc. Buzzz... buzzzz... Lúc đó, cô ấy chợt nhớ lại vài ngày trước đã từng khuyên Dok-go phải đối diện với tổn thương của chính mình. Giờ thì In-kyung cũng phải xem xét lại bản thân. Buzzz... buzzzz. Cô dùng hết sức để nhấn nút nhận điện thoại.

Đại diện Kim chỉ hỏi thăm thông thường rằng cuối năm nên gọi điện xem In-kyung có ổn không. “Cuối năm ngoái ông đâu có quan tâm đâu?” In-kyung vừa tỏ ra gay gắt thì ông ta thản nhiên mỉa mai rằng năm ngoái không gọi điện vì sợ cô không bắt máy, hai năm đã trôi qua, ông ta đoán cô đã nguôi giận nên mới liên lạc. Nghe vậy, In-kyung không còn nể nang gì nữa, bảo ông ta hãy đi thẳng vào vấn đề vì cô biết ông ta không đơn thuần gọi điện để hỏi thăm. Đại diện Kim chỉ nói thêm rằng In-kyung vẫn nóng nảy như xưa rồi đề nghị In-kyung chuyển thể một cuốn tiểu thuyết đã mua bản quyền thành kịch. In-kyung tỏ ra lưỡng lự vì đây có thể sẽ trở thành công việc viết lách cuối cùng của cô.

“Nếu còn suy nghĩ thì cô thử đọc tiểu thuyết xem. Mới xuất bản vào mùa hè, không khó mà rất thú vị. Lời thoại cũng nhiều nên giống kịch lắm. Nói chung là không khó khăn gì đâu.”

“Không. Tôi không đọc đâu. Đọc thì tôi sẽ nhận lời làm mất.”

“Lâu lắm rồi tôi mới liên lạc và đưa ra đề xuất đấy... Cô từ chối phũ phàng thế này thì tôi sẽ buồn lắm.”

“Đại diện Kim. Thực ra, có thể tôi sẽ gác bút. Vì thế, tác phẩm cuối cùng của tôi phải là kịch chính thống.”

“Này, Jeong In-kyung! Cô giải nghệ diễn viên rồi, giờ còn định bỏ cả nghề biên kịch sao... Cô định rời Daehak-ro thật đấy à? Sao lúc nào cũng cái điệp khúc

cuối cùng

thế hả?”

“Giải nghệ diễn viên cũng là nhờ đại diện Kim đấy!”

“Thế nên tôi đang giao việc biên kịch cho cô còn gì.”

“Tôi đang rất nghiêm túc. Tôi nhốt mình trong phòng để lên ý tưởng cho tác phẩm cuối cùng được bốn tháng rồi.”

“Thế đã có ý tưởng gì hay ho chưa? Hay toàn viển vông?”

Viển vông? In-kyung vơ lấy chai trà râu ngô đặt cạnh cửa sổ uống ừng ực rồi hét lên.

“Tôi lên ý tưởng xong cả rồi. Giờ chỉ cần viết thôi.”

“Thế à? Cô nói thử xem.”

“Lấy trộm ý tưởng của người khác cũng là vi phạm bản quyền đấy.”

“Ô, tôi tò mò rồi đấy. Biên kịch Jeong cô nói xem. Nếu ổn thì tôi sẽ không chuyển thể tiểu thuyết kia nữa mà sản xuất tác phẩm của cô trước.”

Chỉ vì muốn từ chối lời đề nghị của đại diện Kim nên In-kyung mới nói rằng sẽ viết kịch chính thống chứ thực ra chưa có kế hoạch cụ thể gì cả. Cô chỉ đang thu thập ý tưởng từ người đàn ông kì lạ ở cửa hàng tiện lợi và tìm đến những nút thắt câu chuyện. Đang không biết phải nói lảng đi như thế nào thì In-kyung đưa mắt xuống nhìn cửa hàng tiện lợi ở bên ngoài khung cửa sổ.

“Bảo cô trình bày ý tưởng nên bí rồi phải không? Vậy thì tạm hoãn việc đó lại rồi chuyển thể tiểu thuyết trước đi. Tôi đã thu xếp được tiền đầu tư để sản xuất rồi. Tôi sẽ chuyển tiền đặt cọc ngay cho cô----”

“Cửa hàng tiện lợi. Câu chuyện diễn ra ở cửa hàng tiện lợi.”

“Cửa hàng tiện lợi?”

“Sân khấu sẽ lấy bối cảnh là một cửa hàng tiện lợi, nơi tiếp đón rất nhiều vị khách với những câu chuyện khác nhau. Còn nhân vật chính sẽ là nhân viên ca đêm kì lạ của cửa hàng.”

“Ừm...”

“Người nhân viên ca đêm đó là một người đàn ông trung tuổi, anh ta toàn hoàn không nhớ gì về quá khứ của mình vì uống nhiều rượu quá nên bị mắc chứng mất trí nhớ. Mỗi vị khách đến đây đều tò mò về thân phận của người đàn ông này. Họ đoán anh ta là dân xã hội đen, mafia, người mới đi tù về, người Triều Tiên, người về hưu và thậm chí là người ngoài hành tinh nữa! Nhưng anh ta hoàn toàn không bận tâm và luôn luôn đưa ra những gợi ý mua hàng rất độc đáo cho khách... và thật kì lạ là sau khi mua hàng theo lời gợi ý kia, mọi vấn đề đều được giải quyết.”

“Thế thì... giống

Quán ăn đêm

?”

“

Quán ăn đêm?

Đương nhiên đó cũng là một tác phẩm rất hay nhưng đây là cửa hàng tiện lợi. Hơn nữa, nhân vật này không nấu ăn.

Quán ăn đêm

không khai thác về quá khứ của nhân vật chính. Còn cốt truyện chính ở đây là tìm ra thân phận thật sự của người đàn ông làm thêm ở cửa hàng tiện lợi. Quá khứ của anh ta sẽ lần lượt xuất hiện qua những cảnh hồi tưởng và dần dần anh ta sẽ phải tìm hiểu lý do tại sao mình lại phải làm việc ở đây. Và rồi đêm nào cũng vậy, anh ta phải chờ đợi một điều gì đó tại cửa hàng.”

“Chờ người ta mang hàng đến chứ chờ gì nữa.”

“Ông đừng phá đám. Tôi đang nghĩ xem có nên xây dựng phong cách nhân vật giống với

Waiting for Godot

không. Giống như Estragon và Vladimir, người đàn ông làm ca đêm ở cửa hàng tiện lợi và một vị khách quen của cửa hàng ngày nào cũng trò chuyện với nhau. Sẽ có rất nhiều câu thoại. Lại còn có cả Cham Cham Cham nữa.”

“Cham Cham Cham? Trò chơi à?”

“Gần như vậy. Đại loại là một combo hàng, bao gồm mì tôm vừng, kimbap cá ngừ, rượu Chamisul.”

“Hay đấy chứ. Có thể sẽ tìm được đơn vị quảng cáo PPL

[12]

. Không thì có thể cho khán giả trực tiếp trải nghiệm.”

“Đúng vậy. Chúng ta có thể tặng khán giả một combo bao gồm ba sản phẩm đó, rồi đăng lên Instagram, thế nào cũng thu hút được PPL. Thực ra, Cham Cham Cham chính là combo sản phẩm mà nhân vật chính đề xuất cho người khách quen, và nhờ có nó, người khách kia được giải tỏa tâm trạng sau mỗi ngày làm việc vất vả. Ngoài ra, còn có một vị khách rất khó tính cũng hay tới cửa hàng này, cô ta là một biên kịch. Biên kịch thì hay làm việc vào ban đêm nên thường xuyên chạm mặt nhân vật chính, rồi dần dần, hai người này trò chuyện cởi mở với nhau hơn...”

“Biên kịch đó là cô đúng không?”

“Không phải. Cô biên kịch đó rất ghét cửa hàng tiện lợi này. Người đàn ông làm việc ở đó trông rất đáng sợ, hàng hóa thì không đa dạng. Nhưng vì mùa đông trời lạnh, sáng sớm cô ta không thể đi xa để mua đồ ăn được nên đành đến đó... Thật sự là vô cùng bất tiện.”

“Biên kịch Jeong.”

“Sao cơ?”

“Chúng ta hãy hợp tác cùng nhau.”

“Thật sao? Nhưng tôi còn chưa viết.”

“Cô viết trong đầu hết rồi còn gì. Sang năm, hãy đưa nó lên sân khấu. Tôi có thể khẳng định, đây sẽ không phải là tác phẩm cuối của cô đâu. Nếu tác phẩm này được ra mắt, chắc chắn cô sẽ còn tiếp tục viết.”

“... Ông nghĩ thế thật sao?”

“Ừ!”

“Sao lạ vậy? Tôi thực sự đang trên bờ vực... Ông OK dễ dàng quá khiến tôi thấy lạ lắm. Tôi còn chưa thực sự viết gì.”

“Ngày mai, hãy viết tiêu đề trước rồi mang nó đến đây. Vốn dĩ phải có hợp đồng thì mới bắt đầu viết bản thảo.”

“Đại diện Kim.”

“Sao vậy?”

“Cảm ơn ông thật sự đấy.”

“Tôi không phải kẻ ngốc. Ý tưởng này khá ổn. Tôi cảm nhận được cả sự khẩn thiết từ giọng nói của cô nữa... Chắc là cô sẽ viết tốt.”

“Tôi lúc nào cũng viết tốt.”

“Lời khen đôi khi thật đáng sợ. À, tiêu đề là gì?”

“Tiêu đề?”

“Tiêu đề của tác phẩm đó.”

“Ừm... Cửa hàng tiện lợi, nhưng rất bất tiện... nên là... ‘Cửa hàng tiện lợi bất tiện’.”

Ngay sau khi kết thúc cuộc nói chuyện điện thoại với đại diện Kim, In-kyung ngồi vào bàn bật máy tính lên. Và rồi cô đánh máy liên tục. Sau khi viết xong tiêu đề, xuống hai dòng, cô bắt đầu viết một cách chính thức với tâm niệm rằng đây có thể là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp. Cô đánh máy không ngừng nghỉ. Đôi khi, sáng tác chỉ là đánh máy. Nếu đã trăn trở và suy nghĩ trong một thời gian dài, nếu ý tưởng đã được ấp ủ kĩ càng và đủ lớn để có thể bung ra chỉ với một cái chạm nhẹ thì bây giờ, công việc còn lại của biên kịch chỉ là gõ bàn phím thật chăm chỉ. Nếu tốc độ ngón tay không theo kịp dòng chảy suy nghĩ, nghĩa là biên kịch đó đang làm rất tốt. In-kyung vừa đọc thành tiếng lời thoại như đang diễn kịch, vừa gõ máy. Tay trái và tay phải của cô ấy như đang giao tiếp với nhau. Khả năng viết lách bị đè nén suốt thời gian qua của cô đã được giải phóng, tác phẩm của cô bắt đầu có hình hài. In-kyung bắt đầu công việc từ cuối buổi chiều, và giờ thì bóng đêm đã giăng kín cả bầu trời đông lạnh lẽo, trên màn hình máy tính của cô, mật độ chữ càng dày lên.

Đêm đó, cả khu phố chỉ có cửa hàng tiện lợi của Dok-go và phòng làm việc của In-kyung sáng đèn.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...