CHƯƠNG 8 Giáng sinh năm ấy chẳng đến nỗi nào. Nhưng có một nỗi u hoài; tuyết phủ như một câu hỏi ở công viên đối diện căn hộ của Schindler, như một điều gì đó hoang mang, cảnh giác và bất biến trên nóc pháo đài Wavel ở cuối đường và dưới những mặt tiền cổ kính ở phố Kanonicza. Không còn ai tin vào một giải pháp nhanh gọn nữa - kể cả giới nhà binh, người Ba Lan, lẫn người Do Thái ở hai bên bờ sông. Để làm quà Giáng sinh cho cô thư ký Ba Lan Klonowska, Schindler mua một con chó xù, một tạo vật kỳ dị đậm chất Paris, do Pfefferberg cung cấp. Ông tặng Ingrid đồ trang sức và gửi vài món khác về vỗ yên Emilie ở Zwittau. Chó xù thì khó kiếm, theo Leopold Pfefferberg. Những trang sức thì đơn giản. Vì thời thế, đá quý là mặt hàng đang lưu chuyển rất nhanh. Có vẻ như Oskar đã duy trì sự gắn bó đồng thời với ba người đàn bà, và có nhiều mối quan hệ ngắn ngủi sơ sài khác, song không phải hứng chịu những trừng phạt thường đeo đuổi mấy gã đào hoa. Khách khứa đến thăm căn hộ của ông chưa bao giờ gặp Ingrid đang dằn dỗi. Cô có vẻ là một phụ nữ độ lượng và mát tính. Emilie, người có nhiều cơ sở để phàn nàn hơn, lại quá tự tôn để gây ra những chuyện ầm ĩ mà Oskar đáng phải chịu. Nếu Klonowska có ấm ức gì, nó dường như không ảnh hưởng đến thái độ của cô tại văn phòng của DEF, hay lòng trung thành của cô với Herr Direktor. Dư luận có thể dự đoán rằng sống như Oskar thì các cuộc đụng độ công khai giữa những phụ nữ bức xúc là chuyện bình thường. Nhưng không ai trong số bạn bè và công nhân của Oskar - những nhân chứng sẵn lòng thừa nhận và thậm chí chắt lưỡi bỏ qua tội lỗi xác thịt của ông - nhớ đã có cuộc đụng độ đau đớn nào như thế, điều vẫn thường giáng xuống đầu những
gã trăng hoa biết kiềm chế hơn Oskar nhiều. Phỏng đoán, như một số người, rằng ai cũng sẽ bằng lòng với việc sở hữu một phần Oskar sẽ hạ thấp những người phụ nữ liên quan. Vấn đề có lẽ ở chỗ, nếu ai định nói với Oskar về lòng chung thủy, thì một ánh nhìn ngơ ngác trẻ thơ và thành thật sẽ hiện ra trong mắt ông, như thể họ đang giới thiệu một khái niệm kiểu như Thuyết Tương đối, chỉ có thể hiểu được nếu người nghe chịu ngồi yên và tập trung trong năm tiếng. Oskar không bao giờ có năm tiếng và không bao giờ hiểu. Trừ trường hợp mẹ ông. Sáng Giáng sinh năm ấy, vì người mẹ đã khuất, Oskar đi dự lễ Trọng ở Nhà thờ St. Mary. Trên bàn thờ chính có một khoảng không nơi chỉ vài tuần trước bức phù điêu gỗ (38) của Wit Stwosz hãy còn thu hút sự chú ý của giáo dân với một dàn các thiên thần chen chúc. Sự trống trải, màu đá xanh xao của nơi trước kia từng gắn bức phù điêu làm Herr Schindler để ý, và hổ thẹn. Có kẻ đã ăn cắp bức phù điêu. Nó đã được chuyển về Nuremberg. Thế giới này đã trở nên quá sức hoang đường! Riêng chuyện kinh doanh mùa đông ấy là vẫn ngon lành. Sang năm mới, bạn bè ở Tổng cục Quân giới đề cập với Oskar khả năng mở một xưởng đạn dược để sản xuất đạn pháo chống tăng. Đạn pháo không làm Oskar hào hứng như xoong chảo. Xoong chảo thuộc loại dễ gia công. Chỉ cần cắt kim loại ra, dập, tráng men, nung ở nhiệt độ thích hợp. Không cần căn chỉnh máy móc; đòi hỏi về độ chính xác kém xa sản xuất vũ khí. Và vỏ đạn thì chẳng mua bán lậu cho ai được, mà Oskar vốn thích mua bán lậu - thích cái khoái cảm, cái tai tiếng, cái tiền tươi thóc thật, và cái miễn giấy tờ của nó. Nhưng vì lợi ích chính trị, Oskar vẫn mở xưởng, cho lắp đặt một cơ số máy Hilo khổng lồ, để dập khuôn và gia công chính xác vỏ đạn tại công xưởng số 2 của nhà máy. Xưởng đạn dược vẫn còn sơ khai; sẽ mất vài tháng để lên kế hoạch, tính toán và thử nghiệm trước khi ra lò sản phẩm hoàn thiện. Đám máy Hilo, tuy
nhiên, ít ra cũng tạo cho việc kinh doanh của Schindler, như một hình thức bảo hiểm trước tương lai khó lường, vẻ ngoài của một ngành nghề thiết yếu. Trước khi căn chỉnh xong các máy Hilo, Oskar đã nghe được phong thanh từ các đầu mối SS trên phố Pomorska rằng sẽ có ghetto cho dân Do Thái. Ông truyền tin này cho Stern, không muốn gây ra tâm lý hoảng hốt. À có, Stern đáp, có tin đồn ấy thật. Có người còn mong đến ngày đó. Ta sẽ ở trong, kẻ thù ở ngoài. Ta sẽ được tự quản. Sẽ không còn ai ghen ghét ta, ném đá ta ngoài phố. Ghetto sẽ có tường bao kiên cố. Bức tường sẽ là hình thức cuối cùng, cố định của tai họa. Sắc lệnh “Gen. Gub. 44/91,” ban hành ngày 3 tháng Ba, được thông báo trên các nhật báo của Cracow và từ các loa phóng thanh lưu động trong Kazimierz. Đi dọc phân xưởng đạn dược của nhà máy, Oskar nghe được bình luận của một kỹ thuật viên người Đức về sự kiện này. “Trong ấy chẳng phải sẽ tốt hơn cho họ ư?” anh ta hỏi. “Dân Ba Lan ghét họ mà.” Sắc lệnh viện dẫn chính lý do này. Để hạn chế xung đột sắc tộc trong vùng Đức thuộc, chính quyền sẽ quy hoạch một khu dân cư Do Thái biệt lập. Việc đi lại của cư dân bị giới hạn trong phạm vi ghetto, nhưng ai có giấy phép lao động hợp lệ sẽ được ra ngoài đi làm và quay về vào buổi tối. Ghetto sẽ được bố trí ở quận ngoại ô Podgórze, ngay bên kia sông. Thời hạn để vào ghetto là ngày 20 tháng Ba. Sau khi vào, tất cả sẽ được Judenrat bố trí chỗ ở. Riêng công dân Ba Lan sống tại khu vực sẽ thuộc về ghetto, do vậy buộc phải di dời, cần đăng ký với sở nhà đất Ba Lan để xin cấp căn hộ ở nơi khác trong thành phố. Sắc lệnh được ban hành kèm tấm bản đồ của ghetto. Phía Bắc sẽ giáp sông, phía Đông với đường sắt đi Lwów, phía Nam với đồi Rekawka, phía Tây với Podgórze. Sẽ đông đúc ra trò. Nhưng lại có một niềm hy vọng rằng từ nay những áp bức sẽ định hình và sẽ cho mọi người căn cứ để lên kế hoạch cho tương lai giới hạn của
họ. Đối với người như Juda Dresner, một nhà buôn vải vóc trên phố Stradom, và sau này sẽ biết Oskar, một năm rưỡi qua đã làm ông hoang mang tột độ với một chuỗi những sắc lệnh, những vụ xâm nhập tư gia và tịch biên tài sản. Ông đã mất cơ nghiệp của mình cho Quỹ Tín thác, rồi cả xe lẫn nhà. Tài khoản ngân hàng của ông bị phong tỏa. Trường của con ông bị đóng cửa, mà nếu không thì chúng cũng bị trục xuất khỏi đó. Đồ gia bảo bị tịch thu, cả chiếc radio cũng vậy. Cả gia đình bị cấm đặt chân vào trung tâm Cracow, cấm đi tàu hỏa. Họ chỉ có thể đi toa tàu điện riêng biệt. Vợ, con gái và các con trai ông thỉnh thoảng lại bị lùa đi xúc tuyết hoặc các loại hình lao động bắt buộc khác. Họ không bao giờ biết, khi bị tống lên thùng xe tải, mình sẽ vắng mặt lâu hay chóng, và loại sĩ quan điên khùng hơi tí là bóp cò nào sẽ giám sát công việc của họ. Dưới chế độ này, họ cảm thấy đời chẳng còn chỗ nào bấu víu, và mình đang trượt xuống một hố sâu không đáy. Nhưng có lẽ ghetto chính là đáy, nơi họ có thể bắt đầu bình tâm suy nghĩ. Ngoài ra, người Do Thái Cracow - bẩm sinh có lẽ là cách miêu tả thích hợp nhất - đã quen với ý niệm ghetto. Và giờ khi sắc lệnh đã ra, chính từ ấy lại mang đến một âm hưởng cổ xưa làm yên lòng người. Khi xưa, cha ông họ cũng không được phép bước ra khỏi ghetto Kazimierz mãi đến tận 1867, khi Franz Josef ký sắc lệnh cho phép họ định cư ở bất cứ đâu trong thành phố. Những kẻ hoài nghi bảo người Áo phải mở cửa Kazimierz, nằm sát Cracow như một cái hốc ở khúc quanh của dòng sông, để lao động Ba Lan tìm được chỗ ở gần nơi làm việc. Nhưng bất kể thế nào, Franz Josef vẫn được thế hệ người già của Kazimierz tôn kính nhiệt thành, như ở gia đình Oskar Schindler thời thơ ấu. Mặc dù tự do đến muộn như vậy, nhưng ở những người già đồng thời lại có một nỗi nhớ tiếc ghetto Kazimierz ngày xưa. Ghetto đồng nghĩa với bẩn thỉu, nhà cửa chật chội, tắm rửa chung chạ, tranh giành cãi cọ nhau từng chỗ phơi quần áo. Thế nhưng
nó cũng quy tụ người Do Thái về với nét đặc biệt của chính họ, với sự giàu có của trí tuệ tập thể, với ca hát và bàn luận về Zion, khi chen vai thích cánh trong những quán cà phê nếu không sẵn kem sữa thì vẫn đầy ý tưởng. Có những tin đồn đáng sợ đến từ ghetto ở Łódź và Warsaw, nhưng căn cứ vào bản đồ thì ghetto của Podgórze tương đối rộng rãi, vì nếu đặt nó chồng lên bản đồ Trung tâm, ta sẽ thấy ghetto bằng cỡ một nửa khu Thành cổ về diện tích - nói rộng thì không phải, song cũng không đến nỗi ngột ngạt. Sắc lệnh có một điều khoản có tính an thần khi cam kết bảo vệ dân Do Thái khỏi người Ba Lan đồng quốc. Từ đầu thập niên ba mươi ở Ba Lan đã nổi lên một cuộc đấu tranh chủng tộc có tổ chức. Từ khi Đại suy thoái bắt đầu và giá nông sản sụt giảm, chính quyền Ba Lan đã dung dưỡng một số tổ chức chính trị bài Do Thái và coi Do Thái là nguồn cơn của khó khăn kinh tế. Sanacja, đảng Thanh tẩy Đạo đức của Nguyên soái Pilsudski (39) , sau khi cha đẻ của nó qua đời, bèn liên minh với Mặt trận Thống nhất Dân tộc, một đảng cánh hữu ngược đãi Do Thái. Đứng giữa Quốc hội ở Warsaw, Thủ tướng Skladkowski tuyên bố, “Chiến tranh kinh tế với dân Do Thái? Được thôi!” Đáng lẽ cải cách ruộng đất cho nông dân, Sanacja lại khuyến khích họ nhìn các quầy hàng Do Thái ngày phiên chợ như biểu tượng và lời giải thích toàn diện cho sự bần cùng của nông thôn Ba Lan. Hàng loạt vụ thảm sát Do Thái xảy ra ở các thành phố, khởi đầu với Grodno năm 1935. Các nhà lập pháp cũng nhảy vào vòng chiến, và các ngành kinh doanh của người Do Thái chết đói dưới các đạo luật tín dụng mới. Các phường nghề không tiếp nhận thợ thủ công Do Thái, các trường đại học định ra quota, hoặc như họ - với sở trường kinh viện - vẫn gọi là numerus clausus aut nullus (số lượng hạn chế hoặc không), với sinh viên Do Thái. Trước áp lực của Đảng Thống nhất Dân tộc, các khoa bố trí ghế băng riêng trong sân trường cho sinh viên Do Thái và lưu đày họ sang cánh
trái ở các giảng đường. Một chuyện khá phổ biến ở các đại học Ba Lan là những thiếu nữ Do Thái thông minh xinh xắn vừa từ giảng đường bước ra thì dung mạo đã bị hủy dưới nhát dao lam từ tay một thanh niên gầy gò, nghiêm túc thuộc Mặt trận Thống nhất Dân tộc. Khi vùng Đức thuộc mới thành lập, những kẻ chinh phục đã kinh ngạc trước sự nhiệt tình của dân Ba Lan trong việc chỉ điểm các gia đình Do Thái, giữ chặt một tên Do Thái để tóc thánh cho lính Đức cắt trụi bộ râu Chính thống giáo bằng kéo hoặc bằng lưỡi lê, quá tay rạch luôn da mặt. Thế nên, vào tháng Ba năm 1941, lời cam kết bảo vệ cư dân ghetto khỏi tư tưởng dân tộc cực đoan Ba Lan vang lên bên tai người Do Thái gần như khả tín. Mặc dù không có niềm hân hoan tự phát nào trong cộng đồng Do Thái ở Cracow khi họ khăn gói dọn vào Podgórze, nhưng lần di cư ấy có những yếu tố giống đến kỳ lạ một sự về nhà, cùng với cảm giác chạm tới giới hạn mà sau đó, với một chút may mắn, họ sẽ không bị ly tán hay đàn áp thêm nữa. Giống đến mức có người từ các làng quanh Cracow, từ Wieliczka, từ Niepolomice, Lipnica, Murowana, Tyniec cũng hối hả dọn đến vì sợ bị kẹt lại ở ngoài sau ngày 20 tháng Ba giữa một khung cảnh khốn cùng hơn. Bởi ghetto về bản chất, và gần như trong định nghĩa, là chốn có thể nương thân, cho dù thỉnh thoảng vẫn bị tấn công. Ghetto đại biểu cho sự ổn định, thay vì biến động. Ghetto sẽ mang đến một bất tiện nho nhỏ trong đời Oskar Schindler. Thường lệ, ông sẽ rời căn hộ sang trọng trên phố Straszewskiego, đi qua khối đá vôi có tên là Wavel, án ngữ trước cửa thành phố như nút bấc trên chai rượu, rồi chạy xuyên Kazimierz, qua cầu Kosciuszko và rẽ trái đến nhà máy tại Zablocie. Giờ thì tuyến đường này đã bị bức tường ghetto chặn lại. Chuyện nhỏ thôi, nhưng khiến ý tưởng duy trì một căn hộ trên tầng thượng của tòa văn phòng ở phố Lipowa thêm phần hợp lý. Khu nhà cũng không tệ, có phong cách kiến trúc của
Walter Gropius. Nhiều kính và ánh sáng, lối vào ốp gạch lập phương rất thời thượng. Mỗi khi đi lại giữa thành phố và Zablocie vào những ngày tháng Ba trước khi đến hạn vào ghetto, ông lại thấy người Do Thái ở Kazimierz đang gói ghém đồ đạc, và trên phố Stradom, vào đầu thời kỳ ân hạn, các gia đình đẩy xe cút kít chất đầy ghế, thảm và đồng hồ thẳng tiến về ghetto. Gia đình họ đã sống ở Kazimierz từ khi đây còn là một hòn đảo ngăn cách với trung tâm thành phố bởi dòng suối tên là Stara Wisła. Đúng ra là từ khi Kazimierz Đại đế mời họ tới Cracow, trong khi, ở nơi khác, họ đang phải gánh tội gây ra Cái chết Đen. Oskar đoán tổ tiên họ cũng đến Cracow như thế, đẩy xe cút kít đầy giường chiếu, hơn năm trăm năm về trước. Giờ đây, họ lại ra đi, xem ra vẫn với những cỗ xe đẩy. Lời mời của Kazimierz đã bị hủy bỏ. Những sáng có việc đi ngang thành phố, Oskar nhận thấy kế hoạch của chính quyền là tiếp tục cho xe điện chạy dọc phố Lwówska, xuyên qua ghetto. Những đoạn đường đối diện đường tàu được thợ Ba Lan xây cao lên, nơi nào còn trống được xây tường xi măng bít lại. Mặt khác, xe điện sẽ đóng cửa khi vào ghetto và không dừng lại cho đến khi quay về Umwelt, thế giới của chủng tộc Aryan, ở góc phố Lwówska và Św Kingi. Oskar biết kiểu gì người ta rồi cũng sẽ bắt chuyến tàu ấy. Cửa đóng, tàu không dừng, súng máy trên bờ tường - có hề gì? Đó là cố tật vô phương cứu chữa của nhân loại. Sẽ có người tìm cách nhảy xuống, một cô hầu gái Ba Lan trung thành ôm bọc xúc xích. Và sẽ có người tìm cách nhảy lên, một thanh niên nhanh nhẹn, thể thao như Leopold Pfefferberg, túi đựng đầy kim cương hay tiền złoty của vùng Chiếm đóng hay một bức điện mật cho quân kháng chiến. Con người phản ứng trước mọi cơ hội nhỏ nhoi, cho dù nó đến từ bên ngoài, cửa khóa chặt, di chuyển nhanh giữa những bức tường câm lặng. *
Từ ngày 20 tháng Ba, công nhân Do Thái của Oskar sẽ không được lĩnh lương và phải hoàn toàn sống dựa vào khẩu phần. Thay vào đó ông sẽ phải đóng lệ phí cho Trụ sở SS ở Cracow. Cả Oskar và Madritsch đều lấy thế làm bất an, bởi họ biết rồi chiến tranh cũng sẽ kết thúc và chủ nô lệ, giống như ở Mỹ, sẽ bị lăng nhục và tước đoạt sạch sẽ. Khoản tiền phải nộp cho các trùm cảnh sát là mức phí do Văn phòng Hành chính và Kinh tế của SS quy định - 7,50 Reichsmark một ngày cho một nhân công lành nghề và 5 RM cho lao động thô sơ và phụ nữ. Vậy tức là rẻ hơn giá nhân công trên thị trường tự do. Nhưng với cả Oskar và Julius Madritsch nỗi băn khoăn về đạo đức còn nặng hơn lợi thế kinh tế. Năm đó, trả lương cho công nhân là điều ít khiến Oskar lo lắng nhất. Ngoài ra, ông chưa bao giờ là một nhà tư bản lý tưởng. Thời trẻ, ông thường bị cha trách mắng vì tiêu pha bừa bãi. Từ