CHƯƠNG 12 Cô bé đến nhà Dresner, ở bờ Đông của ghetto, vào chiều muộn. Gia đình Ba Lan ở nông thôn nhận săn sóc em đã mang em về lại Cracow. Họ thuyết phục được Cảnh sát Xanh (43) ở cổng cho họ vào ghetto có việc, và em theo vào cùng bố mẹ. Họ là người tử tế, và hổ thẹn vì phải đưa em từ nông thôn lên Cracow và ghetto. Em rất dễ thương, họ cũng quyến luyến em. Nhưng thời buổi này người ta không thể giữ một đứa bé Do Thái trong nhà nữa. Chính quyền địa phương - chưa kể tới SS - treo thưởng 500 zł trở lên cho mỗi người Do Thái bị cáo giác. Toàn hàng xóm tố nhau. Giờ chẳng ai dám tin hàng xóm nữa. Đến lúc đó thì không chỉ đứa trẻ gặp vạ, mà cả nhà chúng tôi cũng vậy. Lạy Chúa, có cả những vùng nông dân xách liềm vác hái đi lùng Do Thái. Cô bé xem ra không bận lòng mấy vì bất kỳ sự bẩn thỉu nào mà ghetto giờ đây bắt em phải chịu. Em ngồi bên chiếc bàn nhỏ giữa lớp lớp quần áo ướt và tỉ mẩn ăn đầu mẩu bánh mì bà Dresner vừa cho. Em chấp nhận mọi âu yếm được những phụ nữ chung nhau gian bếp thuận miệng nói ra. Bà Dresner nhận thấy mỗi câu trả lời của em đều cảnh giác một cách kỳ lạ. Song em cũng có nét phù phiếm riêng, và như mọi cô bé ba tuổi khác, cũng say mê màu sắc. Đỏ. Em ngồi đó, đội mũ đỏ, mặc áo đỏ, đi giày đỏ. Đôi vợ chồng nông dân quả đã nuông em. Bà Dresner gợi chuyện bằng cách nói về cha mẹ thật của em. Họ cũng đang sống - thật ra là ẩn náu - ở nông thôn. Nhưng, bà nói, họ sẽ sớm đoàn tụ với mọi người ở Cracow. Cô bé gật đầu, nhưng xem ra em im lặng không phải vì nhút nhát. Cha mẹ em, hồi tháng Một, đã bị bắt theo danh sách do Spira cung cấp cho SS, và khi bị giải ra ga Prokocim đã đi ngang một
đám đông Ba Lan giễu cợt - “Chào nhé, Do Thái.” Họ bèn lẩn khỏi hàng như hai công dân Ba Lan đàng hoàng đang băng sang đường để chứng kiến cảnh trục xuất kẻ thù của xã hội, nhập vào đám đông, cũng chế nhạo tí chút, rồi cuốc bộ về vùng nông thôn lân cận. Giờ đây, khi thấy ở nông thôn cũng chẳng an toàn hơn, họ định lẻn về lại Cracow vào mùa hè. Mẹ của “Mũ đỏ”, biệt danh mà các cậu trai nhà Dresner đặt cho cô bé khi vừa cùng đoàn công nhân từ thành phố trở về, là chị em họ với bà Dresner. Một lát sau, con gái bà Dresner, Danka, lao công quét dọn ở căn cứ không quân Luftwaffe, cũng về đến. Danka sắp mười bốn, đủ cao lớn để nhận Kennkarte (thẻ lao động), cho phép cô làm việc ngoài ghetto. Cô hào hứng bắt chuyện với đứa trẻ hờ hững. “Genia, chị biết Eva mẹ em đấy. Cô hay đưa chị đi mua váy, rồi mua bánh cho chị ở hiệu bánh trên phố Bracka nữa.” Cô bé ngồi yên trên ghế, không cười, ngước lên. “Thưa cô, cô nhầm rồi ạ. Tên mẹ cháu không phải là Eva. Là Jasha.” Em tiếp tục kể tên những người họ hàng Ba Lan hư cấu được cha mẹ và vợ chồng bác nông dân dạy cho, phòng khi em bị Cảnh sát Xanh hay SS tra hỏi. Nhà Dresner nhíu mày nhìn nhau, sững sờ trước sự giảo hoạt bất thường của đứa trẻ, thấy thế thật suy đồi, nhưng lại không muốn làm hỏng nó vì rất có thể chưa đầy một tuần nữa đó sẽ là một kỹ năng sinh tồn thiết yếu. Tới giờ cơm chiều, Idek Schindel, chú cô bé, một bác sĩ trẻ ở bệnh viện của ghetto trên phố Wegierska, xuất hiện. Đó là mẫu ông chú bồng bột, thích đùa và mê cháu mà lũ trẻ cần. Vừa thấy anh, Genia trở lại thành con nít, tuột xuống ghế và chạy bổ về phía anh. Nếu anh ở đây, gọi mấy người này là họ hàng, thì họ đúng là họ hàng. Giờ em có thể thừa nhận mẹ em tên là Eva và ông bà em không phải tên là Ludwik và Sophia. Tiếp đó, ông Juda Dresner, nhân viên mua sắm của nhà máy Bosch, về tới nhà, và cuộc đoàn viên thế là trọn vẹn. Hai tám
tháng Tư là sinh nhật Schindler, và năm 1942 ông ăn mừng như một đứa trẻ mùa xuân, náo nhiệt, hoành tráng. Đó là ngày hội ở DEF. Chẳng màng tốn kém, ông cho nhà máy ăn xúp trưa với của hiếm là bánh mì trắng. Không khí hội hè lan ra văn phòng bên ngoài và các xưởng phía sau. Oskar Schindler, nhà công nghiệp, đang ăn mừng trái ngọt cuộc đời. Cuộc vui, sinh nhật thứ ba mươi tư của ông, bắt đầu ở Emalia từ sớm. Schindler phát tín hiệu bằng cách đi khắp văn phòng bên ngoài, nách cắp ba chai cognac để mời các kỹ sư, kế toán và chuyên viên pháp lý. Nhân viên bộ phận kế toán và nhân sự nhận từng vốc thuốc lá giúi tận tay, và đến giữa sáng, màn tặng quà đã lan xuống tầng nhà máy. Mọi người mua bánh sinh nhật mang đến, và Oskar cắt bánh ngay tại bàn Klonowska. Từng đoàn công nhân Do Thái và Ba Lan bắt đầu tiến vào văn phòng chúc mừng giám đốc, và ông thân mật hôn một cô gái tên là Kucharska, có bố từng là Nghị sĩ Quốc hội Ba Lan trước chiến tranh. Và đến lượt các cô gái Do Thái, rồi cánh đàn ông bắt tay, đến cả Stern, lúc này đang làm việc cho Progress Works, không hiểu sao cũng có mặt, trịnh trọng bắt tay Oskar và nhận về một cái ôm chặt tưởng gãy xương sườn. Đến chiều, có kẻ, chắc vẫn là đối tượng bất mãn lần trước, liên hệ với Pomorska, cáo giác Schindler có hành vi không đúng mực về chủng tộc. Sổ sách của ông có thể đứng vững trước mọi soi mói, nhưng không ai phủ nhận được ông là kẻ “hôn Do Thái”. Hình thức bắt giữ lần này có vẻ chuyên nghiệp hơn lần trước. Sáng ngày 29, một chiếc Mercedes đỗ chắn trước cổng nhà máy. Hai nhân viên Gestapo, xem ra có cơ sở vững chắc hơn hai đồng nghiệp, chặn Oskar giữa sân nhà máy. Ông bị cáo buộc vi phạm một số điều khoản thuộc Đạo luật Chủng tộc và Tái định cư. Chúng muốn đưa ông đi ngay. Và không, không cần rẽ qua văn phòng làm gì. “Các anh có lệnh bắt không?” ông hỏi.
“Không cần thiết,” họ đáp. Ông mỉm cười. Hai vị nên biết rằng bắt người mà không có lệnh thì về sau sẽ phải hối hận đấy. Ông nói hời hợt, nhưng từ thái độ của chúng ông cũng đoán ra mức độ đe dọa lần này đã vững chắc và tập trung hơn sau vụ tạm giữ hơi khôi hài năm ngoái. Lần đó, cuộc đối thoại ở Pomorska là về các quy định kinh tế và liệu Schindler có vi phạm gì không. Lần này, ông đối mặt với thứ luật dị hợm, luật của lòng dạ đê hèn, sắc lệnh từ phần đen tối trong đầu óc con người. Không hề đơn giản. “Bọn này đành mạo hiểm một phen vậy,” một tên trả lời. Ông đánh giá sự tự tin của chúng, sự lãnh đạm đầy đe dọa chúng thể hiện với ông, một đại gia, vừa sang tuổi ba mươi tư. “Sáng đầu xuân,” ông nói, “chạy xe vài tiếng cũng chẳng hề gì.” Ông tự an ủi mình rằng lần này sẽ lại là một xà lim văn minh ở Pomorska. Nhưng khi xe rẽ thẳng sang Kolejowa, ông biết lần này sẽ là nhà tù Montelupich “Tôi muốn nói chuyện với luật sư,” ông bảo chúng. “Sẽ đến lúc,” tên lái xe đáp. Theo lời lẽ đáng tin cậy từ một trong những bạn nhậu của mình, Oskar được biết Viện Giải phẫu Jagiellonia nhận xác từ Montelupich. Tường nhà tù chạy dài hết một con phố, và Oskar có thể thấy sự giống nhau đáng sợ của các ô cửa sổ trên tầng ba và bốn từ băng sau của chiếc Mercedes. Qua cổng chính và lối đi dưới mái vòm, họ đến một văn phòng nơi viên thư ký SS chỉ nói thì thầm, như thể sợ lớn tiếng sẽ gây ra tiếng vang nhức óc dọc những hành lang hẹp. Chúng tịch thu tiền của ông, nhưng cho biết sẽ phát cho ông 50 zł mỗi ngày trong thời gian giam giữ. Không, hai viên sĩ quan bắt giữ nói, chưa đến lúc gọi luật sư. Chúng bỏ đi, để lại ông với lính gác giữa hành lang, nghiêng tai tìm nghe dấu vết những tiếng kêu gào có thể, giữa cái tĩnh
lặng như tu viện này, lọt ra qua khe nứt của những ô cửa Judas (44) trên tường. Cai ngục dẫn ông xuống cầu thang, vào một đường hầm hẹp đến ngạt thở, rồi qua một dãy xà lim có khóa, mặt trước là song sắt. Nửa tá tù nhân không áo khoác ngồi bên trong, mỗi người một khoang, đều quay vào tường nên không nhìn rõ mặt. Oskar nhận thấy một cái tai rách. Và ai đó đang sụt sịt, nhưng biết thân không chùi mũi. Klonowska, Klonowska, em đã gọi điện chưa, tình yêu của tôi? Họ mở cửa xà lim và ông bước vào. Trước đó ông hơi lo rằng phòng giam có thể sẽ đông người. Nhưng trong xà lim chỉ có một tù nhân nữa, một người lính trùm áo choàng kín tai cho ấm, ngồi trên một trong hai chiếc giường gỗ thấp, trải nệm rơm. Dĩ nhiên không có bồn rửa mặt. Có một sô nước và một cái bô. Và người tù kia, hóa ra là một Standartenführer (tương đương Đại tá) Waffen SS, râu ria lởm chởm, sơ mi không cài cúc dưới lần áo khoác, đi đôi ủng lấm bùn. “Hoan nghênh ông bạn,” viên sĩ quan cười méo mó và chìa tay cho Oskar. Y khá đẹp trai, hơn Oskar vài tuổi. Khả năng lớn là do SS gài vào. Chỉ có điều không rõ vì sao chúng lại khoác cho y quân phục và quân hàm cao thế. Oskar nhìn đồng hồ, ngồi xuống, đứng lên, nhìn qua cửa sổ trên cao. Có chút ánh sáng lọt vào từ sân tập, nhưng đây không phải là loại cửa sổ anh có thể dựa vào và trải lòng giữa hai chiếc giường đơn kê sát, khi ngồi bó gối đối diện nhau. Sau cùng họ bắt đầu trò chuyện. Oskar cảnh giác, song viên Standartenführer thì nói rất hăng. Tên y là gì? Philip. Y nghĩ rằng nam nhi không nên khai họ trong tù. Vả lại đã đến lúc người ta nên gọi nhau bằng tên. Nếu gọi nhau bằng tên sớm hơn, chúng ta chắc đã là một chủng tộc hạnh phúc hơn nhiều. Oskar kết luận nếu người này không phải do SS gài vào, thì chắc là một dạng suy nhược thần kinh, có thể là chấn thương
tâm lý do chiến tranh. Y vừa tham chiến ở miền Nam nước Nga, tiểu đoàn của y đã góp phần bảo vệ Novgorod suốt cả mùa đông. Sau đó y được nghỉ để đi thăm bạn gái Ba Lan ở Cracow, và họ đã, theo lời y, “lao vào nhau như thiêu thân”, và y bị bắt ở căn hộ của người tình, ba ngày sau khi hết phép. “Có lẽ tôi đã quyết định,” Philip nói, “chả việc chó gì phải trở về đúng hạn, sau khi chứng kiến bọn khác” - y huơ tay lên trần nhà, ám chỉ cả cơ chế quanh mình, đám sĩ quan SS, đám kế toán và quan chức - “sau khi chứng kiến cuộc sống của chúng. Nói vậy không có nghĩa là tôi cố tình vắng mặt không phép. Nhưng tôi cảm thấy, mẹ kiếp, chế độ này nợ mình một chút xông xênh.” Oskar hỏi y có thích ở phố Pomorska hơn không. Không, Philip nói, tôi thà ở đây còn hơn. Pomorska nhìn giống khách sạn hơn thật. Nhưng ở đó bọn chúng có xà lim chết, toàn song cửa mạ kền bóng loáng. Thôi, vụ đó bỏ qua, Herr Schindler, ông đã làm gì? “Tôi hôn một cô gái Do Thái,” Oskar nói. “Công nhân của tôi. Là họ cáo buộc thế.” Philip bắt đầu huýt sáo. “Ô hô! Thế chim ông có rụng ra không?” Suốt buổi chiều Standartenführer Philip tiếp tục lên án SS. Một lũ trộm cắp và trác táng. Thật khó mà tin được. Có những thằng kiếm được cả đống tiền. Mà