CHƯƠNG 13 Thậm chí đến hè năm ấy, cư dân trong bốn bức tường vẫn nuôi hy vọng ghetto là một chốn nương thân chật hẹp nhưng lâu bền. Vào năm 1941, người ta cũng dễ tin vào điều đó. Trong ghetto có bưu điện; rồi cả con tem bưu chính riêng. Ghetto cũng có một tờ báo, tuy nội dung chẳng có gì ngoài những sắc lệnh từ Wavel và phố Pomorska. Một nhà hàng được phép mở cửa ở phố Lwówska: nhà hàng Foerster, nơi anh em nhà Rosner, đã tạm biệt những hiểm nguy nơi thôn dã và đám thính giả nông dân ưa thay đổi, biểu diễn violin và accordion. Đã có lúc người ta tưởng rằng việc giáo dục sẽ tiếp tục diễn ra tại những trường lớp đàng hoàng, rằng dàn nhạc sẽ tập hợp và trình diễn thường xuyên, và rằng đời sống Do Thái sẽ được lan tỏa như một thực thể ôn hòa trên đường phố, từ thợ thuyền sang thợ thuyền, từ học giả sang học giả. Giới chức SS ở phố Pomorska vẫn chưa có những động thái tối hậu cho thấy ý tưởng về kiểu ghetto ấy không chỉ hoang đường mà còn sỉ nhục xu thế logic của lịch sử. Thế nên khi Untersturmführer Brandt triệu Chủ tịch Judenrat Artur Rosenzweig đến Pomorska để nếm mùi cán roi ngựa, y muốn đính chính ảo tưởng vô phương cứu chữa của ông ta rằng ghetto là chốn định cư lâu dài. Đây chỉ là một kho hàng, một đoạn tàu tránh, một bến xe có tường bao. Mọi thứ cổ vũ tư tưởng trái ngược lại đã, đến năm 1942, bị thủ tiêu. Bởi vậy nơi này rất khác ghetto mà người già vẫn nhớ, thậm chí là hoài vọng. Ở đây âm nhạc không phải là nghề. Không có gì là nghề hết. Henry Rosner làm việc tại bếp ăn tập thể của Luftwaffe căn cứ không quân Đức. Ở đây anh gặp tay bếp trưởng/quản lý trẻ người Đức tên gọi Richard, một chàng trai hay cười đang, trong khả năng của một đầu bếp, lẩn trốn lịch sử thế
kỷ 20 giữa thế giới của bếp núc và quản lý quầy bar. Anh với Henry Rosner hợp nhau đến nỗi Richard sẽ cử chàng nghệ sĩ violin sang đầu kia thành phố nhận lương cho công ty Dịch vụ ăn uống Luftwaffe - dân Đức không thể tin được, Richard nói; thằng lần trước đã ôm tiền trốn sang Hungary đấy. Richard, như mọi bartender đích thực, nghe được nhiều chuyện và chiếm được cảm tình của giới sĩ quan. Ngày đầu tháng Sáu, anh đến ghetto cùng bạn gái, một cô gái Volksdeutsche mặc áo choàng dài quét đất - không có gì quá đáng nếu xét đến những trận mưa rào tháng Sáu. Do nghề nghiệp của mình, Richard quen biết khá nhiều cảnh sát, trong đó có Wachtmeister Oswald Bosko, nên không gặp khó khăn gì để vào ghetto, dù đúng ra anh không được đến đây. Sau khi đã vào trong, Richard băng qua Plac Zgody và tìm thấy nơi ở của Henry Rosner. Henry bất ngờ khi thấy họ. Anh vừa chia tay Richard ở nhà ăn vài tiếng trước, vậy mà giờ Richard và bạn gái đã ở đây, ăn vận như một cuộc viếng thăm trang trọng. Điều đó càng củng cố cảm giác của Henry về sự bất thường của mùa hè. Hai ngày qua, cư dân ghetto đã xếp hàng trước tòa nhà Ngân hàng Tiết kiệm Ba Lan cũ trên phố Józefińska để nhận chứng minh thư mới. Trên thẻ Kennkarte vàng dán ảnh hộ chiếu màu sepia và in chữ J to màu xanh, viên thư lại người Đức sẽ - nếu ai may mắn - dán một cái nhãn màu xanh lơ. Người ta rời ngân hàng, tay vẫy tấm thẻ dán nhãn Blauschein như thể nó xác nhận quyền hít thở của họ, giá trị vĩnh viễn của họ. Những ai làm việc cho bếp ăn tập thể của Luftwaffe, ga ra của Wehrmacht, xưởng của Madritsch, Emalia của Schindler, và nhà máy Tiến bộ đều được nhận Blauschein không khó khăn gì. Những ai bị từ chối đều cảm thấy tư cách công dân - cho dù ở ghetto - của họ trở nên bấp bênh. Richard nói cậu bé Olek Rosner nên đến nhà bạn gái anh ở tạm. Hẳn anh đã nghe được gì đó tại bếp ăn tập thể. Nhưng nó ra khỏi cổng thế nào được, Henry nói. Tôi đã thu xếp với Bosko rồi,
Richard đáp. Henry và Manci ngần ngừ, hội ý với nhau trong khi cô gái mặc áo choàng hứa vỗ béo Olek bằng sô cô la. Aktion à? Henry Rosner thì thầm. Sắp sửa có Aktion phải không? Richard trả lời bằng một câu hỏi. Anh có Blauschein chưa? Tất nhiên, Henry nói. Còn Manci? Manci cũng vậy. Nhưng Olek thì không, Richard đáp. Giữa buổi chiều tà mưa lất phất, Olek Rosner, con một, vừa tròn sáu tuổi, ra khỏi ghetto dưới lớp áo choàng của bạn gái Richard anh đầu bếp. Nếu có viên cảnh sát nào vén áo lên kiểm tra, có lẽ cả Richard và cô gái sẽ bị xử bắn vì gian dối để giúp bạn. Olek cũng sẽ biến mất. Trong góc phòng vắng bóng con, vợ chồng Rosner chỉ mong mình đã hành động đúng. * Poldek Pfefferberg, chân chạy của Oskar Schindler, hồi đầu năm được lệnh làm gia sư cho con của Symche Spira, thợ lắp kính vừa thăng chức, sếp của OD. Mệnh lệnh này sặc mùi khinh miệt, như thể Spira muốn nói, “Phải, ta biết chú không đủ sức làm việc đàn ông, nhưng chí ít chú cũng có thể truyền cho con ta vài phần ích lợi từ học vấn của chú.” Pfefferberg mua vui cho Schindler bằng chuyện đi dạy nhà Symche. Viên cảnh sát trưởng là một trong những cư dân Do Thái hiếm hoi được cấp riêng một tầng nhà. Ở đó, giữa đám chân dung hai chiều của các giáo sĩ Do Thái thế kỷ 19, Symche đi đi lại lại, nghe Pfefferberg giảng bài, hình như muốn thấy tri thức, như hoa dã yên thảo, trổ ra từ tai lũ trẻ. Một người gặp hạnh vận, tay đút vào trong áo, y tin động tác mang màu sắc Napoleon này là cử chỉ phổ biến ở mọi nhân vật có quyền lực. Vợ Symche là một phụ nữ nhòa nhạt, hơi hoang mang trước quyền lực bất ngờ của chồng, có lẽ bị bạn bè cũ xa lánh ít nhiều. Lũ trẻ, cậu em mười hai còn cô chị mười bốn, ngoan ngoãn nhưng không phải mẫu học trò thông tuệ. Bất luận thế nào, khi đến Ngân hàng Tiết kiệm Ba Lan,
Pfefferberg nghĩ mình sẽ được cấp Blauschein chẳng khó khăn gì. Anh đinh ninh việc gia sư cho lũ trẻ nhà Spira sẽ được xem là ngành nghề quan trọng. Tấm thẻ vàng xác nhận anh là GIÁO SƯ TRUNG HỌC, và trong một thế giới lý tính tới nay mới chỉ bị đảo lộn một phần, đó vẫn là một danh hiệu khả kính. Nhóm thư lại từ chối cấp cho anh tấm dán. Anh tranh cãi với họ và nghĩ xem nên cầu cứu Oskar hay là Herr Szepessi, quan chức người Áo phụ trách văn phòng Lao động Đức ở cuối phố. Cả năm nay Oskar đề nghị anh về Emalia, nhưng Pfefferberg vẫn thấy không thể đi làm cả ngày vì vướng bận quá nhiều với chuyện buôn lậu. Khi anh từ tòa nhà ngân hàng bước ra, Cảnh sát An ninh Đức, Cảnh sát Xanh Ba Lan và đội chính trị của OD đang hoạt động trên vỉa hè, kiểm tra thẻ và bắt giữ ai không có tấm dán. Một hàng người bị từ chối, những khuôn mặt hổ thẹn, đã đứng giữa phố Józefińska. Pfefferberg phô ra tác phong sĩ quan Ba Lan và giải thích tất nhiên là anh có một số nghề nghiệp. Nhưng viên Schupo lắc đầu, “Đừng trình bày với tao; không có Blauschein hả; đứng vào hàng. Hiểu chưa, Do Thái?” Pfefferberg đành đứng vào hàng. Mila, cô gái mảnh mai, xinh đẹp anh cưới mười tám tháng trước, làm việc cho Madritsch và đã có Blauschein. Ra là thế đấy. Khi hàng người vượt quá một trăm, họ được lùa đi qua góc phố, qua bệnh viện, đến sân nhà máy bánh kẹo Optima cũ. Ở đây đã có ba trăm người đợi sẵn. Những người đến trước đã trú ở chỗ có mái che, trước đây là chuồng ngựa, nơi đội ngựa của nhà máy một thời được đóng vào những xe thồ chất đầy sô cô la vị kem hoặc rượu mùi. Đây không phải là một nhóm ô hợp. Họ đều có nghề nghiệp tử tế, nhân viên ngân hàng như anh em nhà Holzer, dược sĩ hay nha sĩ. Họ đứng thành từng tốp, rì rầm nói chuyện. Anh dược sĩ trẻ Bachner trò chuyện với một cặp vợ chồng già tên Wohl. Khá nhiều người già. Già và nghèo, những người sống dựa
vào khẩu